Châu Âu hỗn loạn - phần 16 - hết

Kế hoạch Dawes: khởi đầu cho sự gượng dậy của nước Đức

Charles Dawes - Kế hoạch Dawes: khởi đầu cho sự gượng dậy của nước Đức
Charles Dawes - đóng vai trò quan trọng việc đưa ra Kế hoạch Dawes

Thông qua siêu lạm phát, các chủ ngân hàng quốc tế đã hân hoàn tận hưởng một vụ "cắt lông cừu" bội thu. Họ không chỉ quét sạch những tài sản trong quá trình công nghiệp hóa của Đức qua nhiều thập kỷ, mà còn kiểm soát các hệ thống tài chính và công nghiệp của Đức trên quy mô lớn. Đồng thời, họ đã thổi bùng làn sóng phẫn nộ của người dân Đức đối với Cộng hòa Weimar, từ đó làm tan rã nền tảng dân ý của Cộng hòa Weimar. Tiếp theo, phải bắt đầu tăng cường năng lực công nghiệp của Đức và tích lũy thực lực để chuẩn bị cho cuộc chiến giành bá chủ của Đế quốc Anh.

Trên thực tế, các chủ ngân hàng quốc tế bắt đầu bày binh bố trận ngay tại Hội nghị Hòa bình Paris. Nhân vật quan trọng trong cuộc đàm phán hòa bình Versailles, một trong những người soạn thảo hòa ước, luật sư tài ba của Phố Wall John Foster Dulles, chịu trách nhiệm soạn thảo điều khoản thứ 231 của hiệp ước hòa bình, tức điều khoản "tội phạm chiến tranh" của Đức, nhằm cắt tận gốc hậu họa từ chủ nghĩa phục thù của người Đức. Quốc vụ khanh của Mỹ, Charles Evans Hughes, người từng là luật sư trưởng của Công ty Dầu khí Tiêu chuẩn Rockefeller, đã thuyết phục Tổng thống Mỹ Coolidge bổ nhiệm Charles Dawes, một chủ ngân hàng có quan hệ mật thiết với tập đoàn Morgan, làm chủ tịch Ủy ban Bồi thường. Kể từ khi kế hoạch Dawes được thực hiện năm 1924 cho đến năm 1931, Đức đã trả tổng cộng 10,5 tỷ mark tiền bồi thường chiến tranh, nhưng lại vay 18,6 tỷ mark từ nước ngoài. Sau năm 1923, cho dù đó là công ty luật IG của Đức, công ty sắt thép liên hợp, hay là tổng công ty điện lực Đức, đằng sau đều là bóng dáng của các chủ ngân hàng Do Thái như Rockefeller và Morgan. Công cuộc phục hồi sau chiến tranh ở Đức hoàn toàn bị kiểm soát bởi nguồn vốn ở Phố Wall. Nguồn vốn này đến từ việc Phố Wall rao bán trái phiếu của Chính phủ Đức và huy động tiền từ công chúng, Gia tộc Morgan và Warburg đã thu được những khoản lợi nhuận cực lớn từ đó.

Năm 1924, Mỹ đưa ra kế hoạch Dawes. Điểm chính của kế hoạch Dawes là giảm các khoản bồi thường chiến tranh của Đức, từ 136 tỷ mark xuống còn 37 tỷ mark. Mỹ sử dụng những khoản tiền đó để cấp khoản vay cho Đức, chủ yếu là giúp Đức trả nợ cho Pháp và Vương quốc Anh. Sau này người Anh và người Pháp nhận được tiền, họ sẽ trả tiền cho Mỹ vì cả Anh và Pháp đều nợ tiền của Mỹ. Kết quả làm chính người Mỹ cho người Đức vay tiền để trả cho Anh và Pháp. Anh và Pháp lại dùng một phần tiền bồi thường của Đức trả cho Mỹ, nguồn tiền cứ thế luân chuyển một vòng và quay trở lại Mỹ. Trong vòng tuần hoàn này, người chịu tổn thất chính là những người nộp thuế ở Mỹ. Ngành công nghiệp Đức vốn bị Phố Wall kiểm soát nguồn vốn đã được trút bỏ gánh nặng nợ nần và gia tăng lợi nhuận. Đồng thời, tất cả các chủ ngân hàng tham gia vào quá trình giao dịch vốn đều thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ. Khi kế hoạch Dawes được đưa ra, các ngân hàng quốc tế hưởng ứng ngay lập tức, bởi vì họ hưởng lợi từ trò chơi "trả nợ xoay vòng" này. Năm 1925, Dawes và Chamberlain cùng giành giải Nobel Hòa bình và sau đó trở thành Phó Tổng thống Mỹ.

Schacht và các chủ ngân hàng quốc tế cũng đề xuất một điều khoản bồi thường mới, trong đó tất cả lợi nhuận do Ngân hàng Trung ương Đức tạo ra được chia, 45% lợi nhuận thuộc sở hữu của các cổ đông tư nhân của Ngân hàng Trung ương Đức và 55% được trả lại cho chính phủ. Cuối cùng, tất cả các cổ đông của Ngân hàng Trung ương đã đạt được thỏa thuận rằng một nửa trong số 50 triệu lợi nhuận đầu tiên sẽ được chia cho các cổ đông tư nhân của Ngân hàng Trung ương, và 25% của 50 triệu lợi nhuận thứ hai cũng sẽ được chia cho họ. Sau đó 10% lợi nhuận hàng năm cũng sẽ thuộc quyền sở hữu của các cổ đông tư nhân.

Sau khi thực hiện kế hoạch Dawes, các khoản vay khổng lồ của Mỹ đã tràn vào Đức, theo sau đó là một lượng lớn tín dụng nước ngoài, và các chủ ngân hàng quốc tế tỏ ra rất tin tưởng vào Schacht. Tuy nhiên, Schacht đã áp dụng chính sách hạn chế sử dụng vốn nước ngoài cực kỳ nghiêm ngặt, quy định những khoản tiền này chỉ được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất, và không cho phép dùng cho lĩnh vực hàng hóa xa xỉ và tiêu dùng. Với chính sách như vậy, từ năm 1924 đến 1929, hệ thống sản xuất công nghiệp của Đức dưới sự kiểm soát tài chính của Phố Wall đã nhanh chóng trở thành hệ thống công nghiệp tiên tiến nhất ở châu Âu. Bằng những chính sách mang tính định hướng, Schacht đã đạt được những kết quả rất đáng chú ý về mặt hỗ trợ tín dụng cho sản xuất. Ông cũng hạn chế nghiêm ngặt với việc tiếp cận tín dụng đối với các thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và thị trường tiêu dùng xa xỉ. Sức mạng công nghiệp của Đức đã nhanh chóng được khôi phục và dần dần trở thành một thế lực có thể thách thức người Anh.

Sau khi lợi dụng kinh tế và tài chính để kiểm soát ngành công nghiệp Đức, bước tiếp theo là hỗ trợ và dựng lên một nhà lãnh đạo chính trị và một tổ chức chính trị có khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh thế giới với Đế quốc Anh. Lúc này Hitler và Đảng Quốc xã của ông ta đã lọt vào mắt xanh của các chủ ngân hàng quốc tế. Trong giai đoạn đầu của phong trào Đức Quốc xã, những người trong cuộc ở Phố Wall và Quốc vụ viện Mỹ có được thông tin tình báo từ nhiều nguồn. Trước khi "cuộc đảo chính quán bia" (hay Đảo chính Hitler-Ludendorff) nổ ra năm 1923, Robert Murphy, một quan chức của quốc vụ viện Mỹ tại Munich, đã trực tiếp gặp Hitler thông qua Tướng Ludendorff, Murphy sau này trở thành nhân vật cốt lõi của câu lạc bộ Bilderberg. Chính nhờ sự tiếp xúc bí mật này mà tư tưởng và thông tin tình báo trong tổ chức của Đức Quốc xã liên tục chảy về phía những người ra quyết định bí mật của Phố Wall và Washington, thu hút sự chú ý của giới ngân hàng quốc tế. Ngay từ năm 1926, Chủ tịch Ngân hàng Đế quốc Đức – Schacht đã bắt đầu bí mật huy động vốn cho Đức Quốc xã.

Tháng 6 năm 1929, các chủ ngân hàng kiểm soát Cục Dự trữ Liên bang đã mở một cuộc họp và thống nhất điều chuyển Sidney Warburg tới Đức để "phỏng vấn" Hitler, đồng thời tiến hành đàm phán hợp tác. Điều kiện mà các chủ ngân hàng Phố Wall đưa ra là "thúc đẩy một chính sách đối ngoại mang tính tấn công, và kích động tư tưởng báo thù nước Pháp". Mức giá Hitler đòi hỏi không hề thấp, ông ta nói cứ đủ 100 triệu mark (24 triệu đô-la) thì mọi thứ sẽ ổn thỏa. Cuối cùng, hai bên đạt được sự đồng thuận với mức 10 triệu đô-la. Khi Sidney về nước và báo cáo lại các thông tin liên quan đến chủ trương tổ chức Đức Quốc xã của Hitler, điều đó đã gây ấn tượng sâu sắc với Rockefeller. Ngay sau đó, New York Times bắt đầu thường xuyên đưa ra những bài báo định kỳ về Hitler, và các trường đại học cũng mở những khoa chuyên ngành nghiên cứu về Đức Quốc xã.

Điều mà các chủ ngân hàng quốc tế không ngờ tới là gã lưu manh đường phố Hitler này thực sự có một "kế hoạch vĩ đại" của riêng mình, ông ta đã lợi dụng nguồn tiền của các chủ ngân hàng quốc tế để làm "việc riêng".

Hitler và các chủ ngân hàng
Hitler và các chủ ngân hàng

Trích "Chương 5, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét