NAM KINH – GIẤC MỘNG VỤNG VỠ - phần 6

TIỀN PHÁP ĐỊNH PHÁ SẢN: HẬU QUẢ CỦA TỰ DO HÓA NGOẠI HỐI

Vào ngày 15/8/1945, Thiên Hoàng Hirohito tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Tin tức truyền về khiến cho cả nước vui mừng hân hoan, người dân Trung Quốc cuối cùng đã giành thắng lợi trong cuộc đại quyết chiến quyết định số phận của đất nước với cái giá 35 triệu sinh mạng. Vào thời điểm này, đối với chính phủ quốc dân mà nói, ưu tiên hàng đầu là làm thế nào để tiếp nhận các khu vực bị chiếm đóng, làm thế nào để khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân.

Khổng Tường Hy, người nắm trọng trách quản lý tài chính trong chiến tranh, lúc này đã từ chức vì vết nhơ tham nhũng công trái đô-la, và Tống Tử Văn đã thay thế ông ta đảm nhiệm vị trí bộ trưởng Bộ Tài chính và viện trưởng Viện Hành chính. Tống Tử Văn đã trở lại vũ đài chính trị cốt lõi để quản lý nền kinh tế quốc gia, đã nhận thấy rằng ông ta đang phải đối mặt với cả một mớ hỗn độn.

Trang sử của chính phủ quốc dân là trang sử của chiến tranh. Đầu tiên là công cuộc Bắc phạt, sau đó là chiến dịch "tiễu Cộng", rồi lại đến màn hỗn chiến với các thế lực quân phiệt hùng cứ khắp nơi. Tiếp theo là cuộc kháng chiến chống Nhật, về cơ bản là chẳng hề ngưng nghỉ, chiến tranh khiến cho dân chúng đói khổ, ngân khố cạn kiệt, thuế thu tài chính thông thường của chính phủ cũng ngày càng thâm hụt, lâm vào tình trạng thu không đủ bù chi. Trong thời gian đầu, chính phủ quốc dân vẫn có thể dựa vào sự hỗ trợ của giới tài phiệt Giang-Chiết để phát hành nợ công.

Sau năm 1935, sức mạnh tài chính của giới tài phiệt Giang-Chiết về cơ bản đã bị tứ đại gia tộc của Tưởng, Tống, Khổng, Trần cưỡng đoạt. Trong khi đó, chính quyền Tưởng liên tục chây ỳ trả nợ, tín dụng rất kém, khiến cho nợ công dần dần chẳng ai đếm xỉa. Sau khi kháng chiến toàn diện bùng nổ, họ buộc phải sống qua ngày bằng cách vay nợ nước ngoài. Tuy nhiên, với một đất nước rộng lớn như thế, để đối phó với một cuộc chiến có quy mô khổng lồ như vậy, trông chờ vào viện trợ nước ngoài chỉ là kế sách ngắn hạn mà thôi. Trong cơn tuyệt vọng, để đáp ứng chi phí quân sự-chính trị, bù đắp thâm hụt tài khóa, Tưởng Giới Thạch ngày càng có xu hướng để Ngân hàng Trung ương "tạm ứng". Sau năm 1945, các khoản tạm ứng của Ngân hàng Trung ương cho chính phủ chiếm tới hơn 60% chi tiêu thường niên của chính phủ.

Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương cũng không thể hóa phép hô biến ra được tài sản. Đối mặt với những đòi hỏi quá đáng từ phía Chính phủ, Ngân hàng Trung ương chỉ còn một chiêu duy nhất: Chạy máy để in tiền. Ngày nay, thủ thuật này có một cái tên dễ quên khó nhớ và hết sức mơ hồ, đó là "nới lỏng định lượng".

Ngân hàng Trung ương đã độc câu thần chú "nới lỏng định lượng", kết quả là họ đã đánh thức một "con quỷ" mang tên "lạm phát". Chính sách theo kiểu cướp bốc của Tống Tử Văn đối với các khu vực chiếm đóng: 1 đồng tiền pháp định đổi lấy 200 đồng tiền ngụy đã chính thức mở nút của chiếc bình đang giam cầm con quỷ đó. Chẳng mấy chốc, nó đó sẽ biến các khu vực do Quốc dân Đảng chiếm giữ thành địa ngục trần gian.

Thời gian đầu khi mới xâm lược Trung Quốc, để ổn định trật tự kinh tế trong các khu vực chiếm đóng, quân Nhật đã thực hiện triệt để chiến lược "lấy chiến tranh để nuôi chiến tranh", mỗi khi chiếm được nơi nào đó, họ tuyên bố 1 đồng quân phiếu Nhật Bản sẽ đổi được 1 đồng tiền pháp định, từ đó hất cẳng tiền pháp định ra khỏi các khu chiếm đóng.

Sau khi chính quyền bù nhìn của Uông Tinh Vệ được thành lập, họ phát hành một loại tiền gọi là "trung trữ khoán", 1 đồng trung trữ khoán có thể đổi được 2 đồng quân phiếu Nhật Bản, trên thực tế đã khiến tiền tệ mất giá một nửa. Đến khi quang phục(53) đất nước, Tống Tử Văn thậm chí tuyên bố rằng sẽ áp dụng tỷ giá: 200 để đổi tiền pháp định lấy trung trữ khoán của chính quyền ngụy. Điều này có nghĩa là một công chức cổ cồn trắng với mức lương 10.000 đồng trong khu vực kẻ thù chiếm đóng vẫn có thể duy trì thu nhập hàng tháng là 10.000 đồng. Sau khi chính quyền bù nhìn của Uông Tinh Vệ thành lập thì chỉ còn 5.000 đồng, nhưng vẫn có thể miễn cưỡng duy trì được. Khó khăn lắm mới chờ đến ngày giải phóng đất nước khỏi bè lũ Nhật Bản, dân chúng thức cả đêm để nhảy múa ăn mừng, đến sáng hôm sau tỉnh dậy đột nhiên thấy rằng thu nhập hằng tháng của mình chỉ còn 25 đồng. 9,975 đồng còn lại đã đi đâu? Số tiền đó đã bị chính phủ tước đoạt để lấp lỗ hổng ngân sách mất rồi.

Chú thích:

(53) Lấy lại cơ nghiệp đã mất.

Đúng là "Trông chờ trung ương, mong ngóng trung ương, trung ương đến rồi lại tạo tai ương." Chính sách tiền tệ của Tống Tử Văn khiến cho bách tính ở các khu vực chiếm đóng rơi vào khổ sở. Nhưng cũng may là đã đến thời quang phục, không còn chiến tranh nữa, cần kiệm làm lụng, một thời gian cuộc sống sẽ khấm khá hơn thôi. Ấy nhưng dân chúng đột nhiên gặp phải một nỗi đau lớn hơn – lạm phát! Giá cả trên thị trường tăng vọt từng ngày. Đám "đại viên tiếp nhận" của Quốc dân Đảng cùng với những kẻ đầu cơ phía sau họ nhận thấy rằng tiền pháp định mà họ nắm giữ trong tay thực sự có giá trị trong các khu vực chiếm đóng. 1 đồng trong ví họ có thể đổi được tận 200 đồng trong các khu vực chiếm đóng, món hời như vậy tội gì mà không tranh giành? Thế là họ kéo đến các khu vực chiếm đóng để thu mua vật tư, sự tàn phá của chiến tranh, nguồn cung nguyên liệu vô cùng khan hiếm, lại cộng với làn sóng thu mua ồ ạt khiến cho giá cả tằng vọt.

Kết quả là chính phủ Quốc dân Đảng đã vơ cùng vét tận tài sản trong các khu vực chiếm đóng, hoàn toàn mất lòng dân.

Đó là các khu vực chiếm đóng, còn khu vực hậu phương tình hình liệu có tốt hơn?

Sau năm 1942, chính phủ quốc dân đã phát hành công trái đô-la và công trái vàng. Rất nhiều người đã mua công trái của chính phủ, họ vốn tưởng rằng hai lô công trái này sẽ được đảm bảo bằng đô-la và vàng nên tín dụng không thành vấn đề, đã vậy còn có thể hỗ trợ cho cuộc kháng chiến toàn diện của đất nước. Lý nào lại không mua? Nhiều người còn dốc hết cả gia sản ra để mua vào một lượng công trái đô-la và công trái vàng, sau đó mong đợi rằng đến khi chiến tranh kết thúc thắng lợi thì sẽ nhận lại số đô-la và vàng của riêng mình. Kết quả là, khó khăn lắm mới chờ đến ngày kháng chiến thắng lợi, nhưng thứ mà họ nhận được chỉ là thông báo chính thức về việc chính phủ sẽ thu mua chiết khấu 60% đối với công trái vàng, còn công trái đô-la không được đổi bằng đô-la. Ngay đến chính phủ mà cũng cướp trắng của người dân như vậy! Trong khi đó tình trạng siêu lạm phát ở các khu vực chiếm đóng đã lan rộng đến mọi miền đất nước, giá cả thị trường ở khu vực hậu phương cũng ngày càng tăng vọt. Sự thù hận của người dân đối với chính phủ đã lên đến cao trào.

Tống Tử Văn đã dồn hết tâm trí để tính toán xem làm thế nào để tích lũy "tiền tệ cứng" càng sớm càng tốt thông qua các thủ đoạn khác nhau. Cộng thêm khối tài sản mà người tiền nhiệm Khổng Tường Hy đã vơ vét từ xương máu đồng bào mình, trong tay Tống Tử Văn đã có khoảng 900 triệu đô-la ngoại hối và vàng.

Theo kế hoạch của Ký Triều Đỉnh, Tống Tử Văn tin rằng ông ta đã có đủ vốn để bắt đầu một cuộc cải cách tài chính "nghịch chuyển càn không" – tự do hóa ngoại hối.

Cơ sở tín dụng ban đầu của tiền pháp định là tỷ giá hối đoái ổn định được tạo ra do sự trao đổi của tiền pháp định và ngoại hối trên thị trường ngoại hối. Đây cũng là bản chất của cái gọi là "hệ thống bản vị hối đoái". Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt của cuộc kháng chiến, để ngăn chặn việc chính phủ bù nhìn có thể dùng tiền pháp định để kiếm lời chênh lệch ngoại hối, sau đó sử dụng chênh lệch ngoại hối để thu mua các vật tư chiến lược, chính phủ quốc dân đã đóng băng trao đổi tiền pháp định sang ngoại hối. Sau khi kết thúc chiến tranh, Ký Triều Đỉnh đã vận động Tống Tử Văn tiếp tục duy trì quản chế ngoại hối. Điều này không có lợi cho sự ổn định lâu dài của hệ thống tiền tệ quốc gia, cũng như không phù hợp với các nguyên tắc tự do hóa do hệ thống Bretton Woods quy định. Ký Triều Đỉnh nhấn mạnh rằng, nếu Trung Quốc muốn phát triển, há lại không tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế? Sao có thể vi phạm "nhận thức chung Bretton" theo thông lệ quốc tế? Do đó, kiểm soát ngoại hối phải được tự do hóa, và thị trường ngoại hối phải được tự do hóa.

Do đó, đến tháng 2 năm 1946, "Các biện pháp tạm thời về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Trung ương" đã được ban hành, yêu cầu ngân hàng này phải sử dụng 500 triệu đô-la làm tài sản thế chấp để chuẩn bị phát hành tiền pháp định. Tỷ giá hối đoái giữa đô-la và tiền pháp định sụt giá từ 1:20 xuống tới 1:2020. Vàng và ngoại hối sẽ lại được giao dịch tự do, và Ngân hàng Trung ương đã thành lập một quỹ bình ổn để tiến hành điều tiết thị trường bất cứ lúc nào để duy trì sự ổn định của tiền pháp định.

Trước những diễn biến khốc liệt của lạm phát, tỷ giá hối đoái chính thức mất giá nhanh thì tỷ giá hối đoái trên thị trường chợ đen còn mất giá nhanh hơn. Giao dịch thị trường ngoại hối trên chợ đen vẫn là một mục tiêu mà những kẻ đầu cơ săn đón, và những tác động mà tiền pháp định phải hứng chịu đang ngày càng gia tăng. Mặt khác, sự sụt giảm mạnh của tiền pháp định không mang lại hiệu quả kích thích xuất khẩu và tăng thu nhập ngoại hối mà Tống Tử Văn mong đợi. Do thiệt hại lớn đối với năng suất mà Thế chiến II gây ra, Trung Quốc không thể sản xuất bất kỳ hàng xuất khẩu đàng hoàng nào. Các nước công nghiệp khác ngoại trừ Mỹ đều bị phá hủy thành đống đổ nát. Nhu cầu đối với nguyên liệu thô của Trung Quốc cũng giảm mạnh, tất cả những yếu tố này khiến cho kỳ vọng thu nhập ngoại hối từ xuất khẩu trở thành điều viển vông, trong khi đó một số mặt hàng mà người dân Trung Quốc thực sự cần thì năng lực sản xuất trong nước lại không thể đáp ứng được.

Trước đây, kiểm soát ngoại hối không cho phép các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu, bây giờ ngoại hối được tự do hóa rồi, có thể danh chính ngôn thuận tìm tới Ngân hàng Trung ương để phê chuẩn ngoại hối và mua hàng hóa nước ngoài, chính sách này đã ban hành thì không thể rút lại được. Tám tháng sau khi cải cách tự do hóa ngoại hối, tổng số lượng đô-la, đồng bảng Anh và vàng mà Ngân hàng Trung ương bán ra để nhập khẩu hàng hóa và thanh toán cho các khoản chi tiêu khác của chính phủ đã lỗ ròng 400 triệu đô-la. Nguồn vốn ngoại hối mà Ngân hàng này có thể sử dụng đã giảm 60% cùng một lúc. Thấy tình hình không ổn, Tống Tử Văn đã nhanh chóng phá giá tiền pháp định xuống còn 1 đô-la đổi được 3.350 đồng tiền pháp định. Kết quả là không thu được hiệu quả mà còn kích thích thêm lạm phát.

Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, gặp bất lợi trong cuộc nội chiến dân tình Trung Quốc thì lũ lượt rao bán tiền pháp định để đổi lấy ngoại hối và vàng.

Vào thời điểm này, Tống Tử Văn đã đến đường cùng, Ký Triều Đỉnh – "dũng tướng đắc lực" khổng chỉ giúp ông ta "đưa ra ý tưởng", "nghĩ ra biện pháp" mà khả năng chấp hành cũng cực kỳ xuất sắc. Dưới sự vận động của Ký Triều Đỉnh, Tống Tử Văn kết luận rằng tự do hóa ngoại hối đã đạt đến một "giai đoạn đột phá" quan trọng, nếu quyết tiến lên thì có thể lập được đại công, còn nếu lùi bước thì sẽ "chết mà chẳng cố chỗ chôn". Điều đó không chỉ khiến uy tín cá nhân của ông ta sụp đổ hoàn toàn, mà "sự nghiệp của đảng và nhà nước" cũng sẽ bị tống táng theo.

Tống Tử Văn
Tống Tử Văn

Bộ trưởng Tống Tử Văn, trời thật xanh biết mấy! Tiếp tục đi về phía trước, đừng nhìn sang hai bên, cứ tiếp tục bước qua và bạn sẽ tan chảy trên bầu trời xanh đó…

Tống Tử Văn như thể bị thôi miên, "điên cuồng" rao bán trên thị trường 6,28 triệu lạng vàng mà năm xưa đã mua với giá 220 triệu đô-la để cứu vãn tiền pháp định. Ông không tin rằng việc bán vàng ở quy mô này lại không thể kìm hãm đà sụt giảm của tiền pháp định.

Kết quả đúng là không thể kìm hãm nổi!

Đến tháng 2 năm 1947, Tống Tử Văn đã bán được hơn 3,3 triệu lạng vàng, nhưng tỷ giá hối đoái chính thức của tiền pháp định đã giảm xuống còn 1 đô-la đổi được 12.000 đồng pháp định. Giá cả trên chợ đen thì càng khủng khiếp hơn.

Bất đắc dĩ, Tưởng Giới Thạch phải đích thân để đưa ra "Các biện pháp kinh tế khẩn cấp" vào ngày 16 tháng 2 năm 1947, một lần nữa cấm giao dịch vàng và lưu thông ngoại hối. Ngân hàng Trung ương sẽ ngừng bán ra và chỉ mua vào vàng.

Cải cách tự do hóa ngoại hối đã hoàn toàn thất bại, Tống Tử Văn lặng lẽ từ chức, và tín dụng của chính phủ quốc dân đã sụp đổ.

Lẽ nào Quốc dân Đảng lại không mảy may nghi ngờ hàng loạt những "chiêu trò" tiền tệ của Ký Triều Đỉnh hay sao? Quả là như vậy. Đề xuất của Ký Triều Đỉnh về chính sách tài chính của chính phủ quốc dân đã được thực hiện bởi lẽ chúng phù hợp với tâm thái của các nhà chấp chính. Điều này là do bản thân các chính sách này đều xuất phát từ lợi ích thiết thân của tứ đại gia tộc, được "lượng thân định chế" để cho họ thỏa sức trục lợi. Miễn là có thể "vỗ béo" cho tứ đại gia tộc, thì đối với họ, Ký Triều Đỉnh không chỉ không có lỗi mà còn có công.

Trên thực tế, kể từ thất bại của cải cách tự do hóa ngoại hối của Tống Tử Văn vào tháng 2 năm 1947, dẫn đến làn sóng thu mua vàng và lạm phát phi mã, Quốc dân Đảng đã thất bại trong cuộc nội chiến.

Trích "Chương 7, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét