NAM KINH – GIẤC MỘNG VỤNG VỠ - phần 4

LƯỢNG ĐÔ-LA KHỔNG LỒ BẤT THẦN RƠI XUỐNG ĐẦU KHỔNG TƯỜNG HY

Vào tháng 12 năm 1941, tức chỉ bốn tháng sau khi quỹ bình ổn Trung-Mỹ-Anh khai trương tại Hồng Kông, chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra. Quốc hội Mỹ, vốn đang nổi cơn thịnh nộ vì sự kiện Trân Châu Cảng, trong bầu không khí "đồng thù địch hy(52)", đã quyết định cung cấp khoản vay khổng lồ 500 triệu đô-la cho chính phủ Trung Quốc kiên trì kháng chiến toàn diện với Nhật Bản.

Chú thích:

(52): Cùng chung một kẻ thù.

Vào thời điểm đó, lượng phát hành tiền tệ của Mỹ chỉ là 9,6 tỷ đô-la, vậy mà họ bỗng chốc cho Trung Quốc vay 500 triệu đô-la! Vào thời điểm đó, doanh thu tài chính của chính phủ Trung Quốc trong cả năm chỉ là 1 tỷ tiền pháp định. Theo tỷ giá chính thức, 500 triệu đô-la tương đương với 10 tỷ đồng tiền pháp định, tức bằng tổng doanh thu tài chính 10 năm của Trung Quốc. Ngoài ra, khoản vay này không có giới hạn thời gian trả nợ, không có yêu cầu lãi suất và không có điều kiện bổ sung, là khoản vay "ba không" duy nhất trong lịch sử nợ nước ngoài của Trung Quốc.

Đối với người Mỹ, khoản vay này có vẻ như là một thương vụ thua lỗ tuyệt đối, nhưng thực chất lại là "một vốn-ngàn lời". 500 triệu đô-la này sẽ củng cố tối đa sĩ khí và khả năng chiến đấu chống lại Nhật Bản của Trung Quốc. Trung Quốc càng chiến đấu hăng hái bao nhiêu, số quân nhân Mỹ thương vòng trên mặt trận Thái Bình Dương sẽ càng nhỏ.

Còn Phố Wall thì sớm đã thiết lập sẵn bố cục chiến lược của tiền tệ thế giới sau chiến tranh. Xét từ góc độ chiến lược tiền tệ, "khoản vốn" 500 triệu đô-la sẽ mang lại bốn khoản lãi lớn: thứ nhất, khoản vay sẽ ngay lập tức giúp cho ngành công nghiệp quân sự Mỹ mở rộng nhanh chóng quy mô sản xuất, đồng thời thúc đẩy sự chấn hưng của hàng loạt ngành nghề như thép, khai thác, sản xuất máy móc, vận chuyển, đóng tàu, ô tô, máy bay, v.v.. để thoát khỏi tình trạng khó khăn do cuộc Đại Khủng hoảng gây ra, cải thiện đáng kể tỷ lệ thất nghiệp (đang lên tới 18%) và tăng cường khả năng tiêu dùng trong nước. Thứ hai, khoản vay sẽ khiến cho hệ thống tiền tệ của Trung Quốc bị "đô-la hóa" một cách triệt để, từ đó kiểm soát chặt chẽ huyết mạch kinh tế của Trung Quốc với đỉnh cao của việc phát hành tiền tệ. Thứ ba, dựa trên tiền đề của hiệp định này, kế hoạch hỗ trợ kinh tế châu Âu và các khu vực khác mang tên "Kế hoạch Marshall" sẽ mở rộng đáng kể sự lưu thông của đồng đô-la và tăng cường tích hợp nguồn lực của đồng đô-la trên phạm vi toàn cầu. Thứ tư, việc khuếch trương thế lực cuối cùng sẽ giúp đồng đô-la thay thế đồng bảng Anh và thiết lập quyền bá chủ tiền tệ thế giới trong tương lai. Khi các nước trên thế giới tranh giành các khoản vay bằng đô-la, địa vị của một đồng tiền giao dịch và dự trữ quốc tế của đồng đô-la sẽ được thiết lập. Sau chiến tranh, mỗi năm Mỹ sẽ trưng thu "thuế đúc tiền" đối với các quốc gia thông qua hình thức phát hành thêm tiền giấy đô-la, và sẽ thu trong vòng 70 năm!

Có vay thì phải có trả! Sự khôn ngoan của những người đã thiết lập chiến lược tiền tệ đô-la nằm ở chỗ, họ đã phát hiện rằng "dự trữ đô-la" chính là trưng thu thuế một cách biến tướng. Các quốc gia trên thế giới sẽ không thể vùng vẫy để thoát ra được, đô-la một loại "thuế siêu cấp" sẽ được duy trì đời này qua đời khác.

Đối với chính phủ quốc dân mà nói, 500 triệu đô-la thực sự là một khối tài sản khổng lồ từ trên trời rơi xuống. Tứ đại gia tộc đã dốc tận tâm sức, hứng chịu vô số lời nhục mạ để giành lấy quyền lực tài chính vốn do thế lực tài phiệt Giang-Chiết kiểm soát, xây dựng một hệ thống tập trung quyền lực tài chính mang tên "tứ hàng lưỡng cục". Kết quả là chưa đầy vài năm sau, lỡ sơ sẩy một chút mà đã bị ủy ban quỹ bình ổn kia tước đoạt quyền lực. Lúc đó trong tay họ chẳng có lấy một loại tiền tệ giá trị nào. Nhưng lần này, trong tài khoản ở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có sẵn 500 triệu đô-la luôn sẵn sàng, nên họ đã lấy lại được vị thế của mình.

Và thế là, dưới sự chủ đạo của Khổng Tường Hy, Ủy ban quản lý ngoại hối của Ngân hàng Trung Ương đã được thành lập và ngay lập tức nắm quyền quản lý lượng ngoại hối khổng lồ này và trở lại vị trí "ngân hàng trung ương" thực sự. Khi Ủy ban này mới được thành lập, Không Tường Hy đã bổ nhiệm Tập Đức Mậu, Trần Quang Phủ của Ủy ban quỹ bình ổn làm thành viên của ủy ban quản lý ngoại hối. Tuy nhiên, Trần Quang Phủ đã đệ đơn từ chức ngay khi nhận được thư bổ nhiệm, còn Tập Đức Mậu cũng chỉ giao một người đại diện gia tộc nhà họ Tập đảm nhận, còn bản thân ông ta vẫn yên vị tại văn phòng của Ủy ban quản lý quỹ.

Với sự thay đổi của môi trường, khi các ông lớn ở Phố Wall phát hiện ra ý nghĩa thâm thúy của "dự trữ đô-la", họ bắt đầu "thả con săn sắt, bắt con cá rô". Các vấn đề nhỏ lẻ như quản lý thương mại Trung-Mỹ và phê duyệt quyền sử dụng ngoại hối trở nên phiền phức. Thế là Ủy ban quỹ bình ổn dần dần yếm thế. Các thành viên cũng bất đắc dĩ phải "thích nghi với thời cuộc", lần lượt ngả về phía Ủy ban quản lý ngoại hối của Ngân hàng Trung ương.

Không Tường Hy đột nhiên nhận được cả một khoản tiền kếch xù, nhưng làm thế nào để sử dụng tiền này một cách hữu dụng nhất?

Không lâu sau đó, phương án đã được đưa ra: phát hành quỹ tiết kiệm 100 triệu đô-la, phát hành 100 triệu đô-la nợ công (công trái), dùng 220 triệu đô-la mua vàng từ Mỹ, dùng 50 triệu đô-la mua nhiều vật tư khác nhau ở Mỹ, số tiền còn lại để trang trải các chi phí khác nhau, bao gồm phí thủ tục, phí vận chuyển, phí bảo hiểm, v.v..

Cái gọi là "quỹ tiết kiệm đô-la" có nghĩa là từ tháng 4 năm 1942, Bộ Tài chính của chính phủ quốc dân đã phân bổ 100 triệu đô-la cho ngân hàng trung ương làm quỹ. Khi các chủ tài khoản gửi tiền vào "tứ hàng lưỡng cục", họ sẽ được chuyển đổi thành đô-la bằng tiền pháp định và tỷ lệ chuyển đổi là 1 đô-la và 20 đồng tiền pháp định. Phiếu tiết kiệm sẽ không có giới hạn về mệnh giá, mệnh giá tối thiểu là 10 đô-la, và thời hạn được chia thành 1 năm, 2 năm và 3 năm. Lãi suất hàng năm là 3%, 3,5% và 4%, khi đến kỳ hạn sẽ thanh toán cả gốc và lãi bằng đô-la Mỹ theo mệnh giá.

Cái gọi là "công trái đô-la" có nghĩa là từ tháng 4 năm 1942, Bộ Tài chính của chính phủ quốc dân đã phát hành 100 triệu đô-la như một sự đảm bảo để phát hành trái phiếu chính phủ. Trái phiếu này có thể được thế chấp hoặc mua bán tự do, có thể được sử dụng để nộp tiền bảo đảm trong công vụ, và cũng có thể được sử dụng làm nguồn tiền dự trữ cho ngân hàng.

Nghe có vẻ rất hay ho, thế nhưng những người dân bình thường, bao gồm các doanh nghiệp công thương và ngân hàng, bấy lâu nay đã rất e dè trước "truyền thống vinh quang" chuyên phát hành công trái rồi chây ỳ trả nợ từ thời chính phủ Bắc Dương cho đến thời chính phủ quốc dân, thế nên họ chẳng dám tin rằng khi đáo hạn sẽ được nhận lại gốc lẫn lãi bằng đồng đô-la.

Vào đầu năm 1942, nhờ vào quỹ bình ổn và chiếc bánh trị giá 500 triệu đô-la, giá trị của đồng tiền pháp định có một dạo đã từng rất mạnh, giá đồng đô-la thị trường đen cũng gần bằng giá chính thức, không có nhiều cơ hội để kiếm lời chênh lệch giá, vì vậy bất luận là quỹ tiết kiệm đô-la hay trái phiếu đô-la, lúc đầu cũng chỉ có rất ít người hưởng ứng, bất đắc dĩ phải sử dụng các phương pháp như "thuyết phục mua", "chào bán khấu hao" … để ép buộc họ. "Tứ hàng lưỡng cục" được lệnh "chào bán khấu hao" hai loại sản phẩm đầu tư ra công chúng. Bất kể là quan chức hay dân thường, những người vay tiền từ "tứ hàng lưỡng cục" sẽ buộc phải chuyển đổi 5-20% số tiền vay thành phiếu tiết kiệm đô-la. Bản thân "tứ hàng" cũng phải đăng ký thu mua 2 triệu đô-la phiếu tiết kiệm. Họ thậm chí còn ra lệnh cho các tỉnh thành khi bán lương thực cũng phải "chào bán" phiếu tiết kiệm đô-la cho người mua lương thực theo cách tương tự.

Số phận của công trái đô-la cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Lịch sử tín dụng của chính phủ quốc dân vốn đã không ổn. Sau khi kháng chiến toàn diện, ngay cả sàn giao dịch chứng khoán cũng bị đóng cửa và giao dịch nợ công hợp pháp cũng phải chấm dứt. Vậy mà đột nhiên lại phát hành một loại công trái mới, còn mạnh miệng tuyên bố rằng sẽ trả hết gốc và lãi bằng đô-la? Dân tình đều nghĩ rằng, đây lại là một trò mà Ngân hàng Trung ương và Bộ Tài chính đang bắt tay với nhau để lừa phỉnh bách tính mà thôi.

Trước tình hình này, tổ chức kiểm soát tài chính cao nhất của chính phủ quốc dân cũng không có cách nào tốt hơn, đành phải sử dụng phương thức quảng bá phiếu tiết kiệm đô-la để rao bán công trái đô-la. Ngoại trừ các chiêu như "thuyết phục" và "khấu hao", họ còn buộc Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Giao thông và Ngân hàng Nông thôn Trung Quốc mỗi bên phải đăng ký 2 triệu đô-la công trái chính phủ để tiến hành tạo đà thúc đẩy.

Tuy nhiên trong lúc khó khăn, Khổng Tường Hy – Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm chủ tịch Ngân hàng Trung ương, đã hiểu ra ý nghĩa của khối tiền khổng lồ từ trên trời rơi xuống kia.

Những người khác có thể không biết đến nội hàm sâu xa của công trái đô-la, nhưng chẳng lẽ Khổng Tường Hy lại không hề biết? 100 triệu đô-la được sử dụng để chuẩn bị cho việc phát hành nợ công được gửi vào tài khoản của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, thế nên tín dụng của loại công trái này hoàn toàn không phải là vấn đề. Còn chiến tranh thì chẳng biết đến bao giờ mới kết thúc, chừng nào chiến tranh còn tiếp diễn, tiền pháp định chắc chắn sẽ còn mất giá, và cùng với thời gian, cơ hội để kiếm lời chênh lệch giữa mức giá chính thức và mức giá chợ đen sẽ tăng rất nhiều. Chỉ riêng thủ đoạn này đã không biết có thể kiếm được bao nhiêu. Cái gì là tài chính? Khổng Tường Hy là tài chính. Thế nào là giám sát quản lý? Khổng Tường Hy chính là giám sát quản lý. Vậy nên cứ thế mà làm. Khi mọi người dần dần hiểu ra và bắt đầu háo hức thu mua công trái đô-la, Khổng Tường Hy đã ra lệnh cho Kho bạc của Ngân hàng Trung ương ngừng bán vào ngày 15 tháng 10 năm 1943 với lý do công trái đô-la đã được bán hết.

Thực sự bán hết rồi sao? Theo Trần Cảnh Nhã – chủ nhiệm kiêm ủy viên của chi nhánh Ngân hàng Dự trữ Vân Nam, đến tháng 10 năm 1943, lượng công trái lên tới 50 triệu đô-la vẫn chưa được bán hết, thế nhưng Khổng Tường Hy đã hạ lệnh ngừng bán, để Cục Nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương thu mua. Trên thực tế, Cục Nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương đã không thu mua toàn bộ, mà chính Khổng Tường Hy đã mua 11,5 triệu công trái đó. Khổng Tường Hy đã mua các trái phiếu này với giá chính thức là 1 đô-la chuyển đổi với 20 đồng tiền pháp định, trong khi mức giá trung bình của công trái đô-la trong tháng đó là 1 đô-la chuyển đổi với 250 đồng tiền pháp định. Chỉ bằng thủ thuật này, Khổng Tường Hy và bè đảng của ông ta đã tham ô được 2 tỷ đồng tiền pháp định!

Như vậy vẫn chưa đủ. Sau khi bỏ túi riêng, ông ta muốn nuốt tất 50 triệu đô-la công trái. Tuy nhiên, dù quyền thế của Khổng Tường Hy mạnh đến mức nào, ông ta cũng chỉ có thể tạm thời lừa dối tất cả mọi người, hoặc mãi mãi lừa dối một số người, chứ không thể lừa đối tất cả mọi người mãi mãi. Người xưa có câu "Chẳng có bức tường nào là che kín gió". Sau khi những hành vi đó bị vạch trần, dư luận đã bị một phen rúng động!

Hoàng Viêm Bồi, Bác Tư Niên và các "quan chức chính phủ" khác của Quốc hội quốc dân, tại Hội nghị chính trị quốc gia vào tháng 7 năm 1945, đã cùng nhau đề xuất chất vấn về vấn đề gian lận tư nhân trong việc rao bán công trái đô-la. Bác Tư Niên cũng đã thu được một số lượng lớn chứng cứ và tài liệu ban đầu về công trái đô-la của Khổng Tường Hy, dự định sẽ chính thức đệ trình lên hội nghị để thảo luận. Họ quyết tiến hành một sự kiện "dân chủ kiểu Mỹ", dù gặp phải tai vạ cũng phải nhất định khiến cho Khổng Tường Hy – nhân vật hoàn thân quốc thích, đại tài phiệt thân Mỹ, phải ngã ngựa.

Tuy nhiên, ngay trước thềm cuộc họp chính thức của hội đồng chính trị quốc dân, Trần Bố Lôi – thư ký văn phòng của Tưởng Giới Thạch, đã tìm đến nói chuyện "cởi mở" với Bác Tư Niên, yêu cầu Bác Tư Niên "lấy đại cục làm trọng", chớ nên cho "bè lũ phản động" và "hữu bang" có thêm một cái cớ để công kích chính phủ. Mong ông hãy tin rằng Tưởng Giới Thạch sẽ xử lý vụ việc một cách chí công vô tư. Sau đó yêu cầu ông giao hồ sơ vụ án của Khổng Tường Hy đến tư dinh của Tưởng Giới Thạch với lý do Tưởng Giới Thạch cần xem trước. Tất nhiên, những hồ sơ này cuối cùng đã "mất tích" mãi mãi. Sau đó, mặc dù Khổng Tường Hy bị buộc phải từ chức và rời khỏi trung tâm quyền lực, nhưng ông ta không hề bị điều tra tư pháp hoặc truy cứu trách nhiệm. Thông tin về số tiền khổng lồ mà ông ta bỏ túi cũng chìm nghỉm giữa những đống giấy tờ lịch sử.

Tưởng Giới Thạch rõ ràng là muốn bảo vệ Khổng Tường Hy. Trên thực tế, tứ đại gia tộc đang thống trị chính phủ quốc dân gồm Tưởng, Tống, Khổng, Trần, chẳng gia tộc nào là hoàn toàn "sạch sẽ".

Ngay từ đầu 1943, tạp chí Phố Wall châu Á ước tính giá trị tài sản ròng của Tống Tử Văn là 70 triệu đô-la. Ông ta đã rót tiền đầu tư vào GM và DuPont, mà nếu chỉ dựa vào đồng lương công chức còm cõi khi đảm nhận các chức vụ như Bộ trưởng Bộ Tài chính, chủ tịch Ngân hàng Trung ương, chủ tịch Ngân hàng Trung Quốc thì rõ ràng là không thể kiếm được nhiều tiền như vậy. Khi nhà văn chính trị người Mỹ Moore Miller phỏng vấn Tổng thống Truman – người không được tái đắc cử năm 1953, Truman đã cáo buộc mạnh mẽ rằng Tống Tử Văn và Khổng Tường Hy đang lên kế hoạch âm thầm nuốt trọn viện trợ của chính phủ Mỹ dành cho Trung Quốc. Truman càng nói càng kích động, cuối cùng không thể kiềm chế được bản thân, ông gằn giọng chua chát: "Họ là những tên khốn kiếp, tất cả bọn họ (They're thieves, every damn one of them). Họ đã lấy mất 750 triệu đô-la trong tổng số 3,8 tỷ đô-la mà chúng tôi gửi cho Tưởng Giới Thạch. Họ đã đánh cắp số tiền đó và đầu tư vào bất động sản ở Sao Paulo, Brazil và ngay tại New York!

Tổng thống Mỹ Harry Truman buộc tội tứ đại gia tộc lạm quyền tham nhũng
Tổng thống Mỹ Harry Truman buộc tội tứ đại gia tộc lạm quyền tham nhũng

Số lượng đô-la mà họ đánh cắp, cuối cùng chính người dân Trung Quốc đang vất vả lao động để tạo ra của cải phải gánh vác trả nợ. Thứ mà họ đánh cắp thực ra không phải là tiền thuế của người dân Mỹ, mà là tiền mồ hôi xương máu của người dân Trung Quốc. Một chính phủ như vậy không phải là một "chính phủ quốc dân", mà là một cỗ máy vắt kiệt mồ hôi xương máu của tứ đại gia tộc Tưởng, Tống, Khổng, Trần! Một "chính phủ quốc dân" như vậy, sớm muộn gì cũng bị nhân dân từ bỏ.

Trích "Chương 7, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét