SỰ RA ĐỜI CỦA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ - phần 2

THẦN TÀI KHU VỰC THIỂM-CAM-NINH

Nam Hán Thần
Nam Hán Thần

Một đêm đông đầu năm 1941, Nam Hán Thần, thứ trưởng Ban Công tác Mặt trận Thống nhất Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, vội vã trên đường đến Dương Gia Lăng, Diên An sau khi nhận được thông báo khẩn cấp của Mao Trạch Đông. Những ánh đèn lập lòe làm Dương Gia Lăng trông ấm áp hơn trong đêm lạnh.

Sau vài giờ hàn huyên ngắn ngủi, Mao Trạch Đông giải thích thẳng thắn về tình hình khó khăn của khu vực Thiểm-Cam-Ninh. Bắt đầu từ năm 1940, Nhật Bản tăng tường các hoạt động dụ hàng với Quốc dân Đảng, giữa Chính phủ Quốc dân Đảng, Bát lộ quân và Tân tứ quân đã liên tục xảy ra xích mích. Đến tháng 1 năm 1941, cuối cùng cũng nổ ra "Sự biến Tân tứ quân" chấn động cả nước.

Sau đó, Chính phủ Tưởng Giới Thạch cắt các khoản hỗ trợ và viện trợ tài chính cho khu vực Thiểm-Cam-Ninh. Đồng thời, họ áp dụng chính sách "phong tỏa" và "bao vậy", hàng hóa bị cấm xuất-nhập vào khu vực này. Họ tuyên bố rằng "Cho dù một cân sợi bông hay một tấc vải cũng không được phép vào khu vực Thiểm-Cam-Ninh." Trong khi đó, năm 1940, khu vực Thiểm-Cam-Ninh trải qua nạn đối nghiêm trọng, gây ra tình trạng suy thoái nông nghiệp tồi tệ nhất trong 30 năm qua. Tài chính khu vực Thiểm-Cam-Ninh rơi vào tình thế khốn đốn cực độ. Có thể nói rằng các nhân viên quân-chính chẳng có cơm ăn, không quần áo mặc, chẳng có chăn đệm, không còn giấy viết, đúng nghĩa là rơi vào bước đường cùng.

Mao Trạch Đông nói với Nam Hán Thần rằng tình hình vô cùng nghiệt ngã, "nếu Ủy viên trưởng Tưởng Giới Thạch không cung cấp lương thực thì chúng ta sẽ rơi vào đại họa. Thế nhưng chúng ta không được phép từ bỏ, không được phép giải tán, phải tự lực cánh sinh thôi."

Đối mặt với tình trạng kinh tế khó khăn của khu vực Thiểm-Cam-Ninh, tại sao Mao Trạch Đông lại nghĩ ngay đến Nam Hán Thần?

Bởi vì Nam Hán Thần có kinh nghiệm cách mạng phong phú và có mối quan hệ hết sức sâu rộng. Đặc biệt vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX, khi ông làm tổng thư kí của chính quyền tỉnh Thiểm Tây. Ông giúp Chủ tịch Dương Hổ Thành giải cứu cuộc khủng hoảng kinh tế sau hạn hán, chỉnh lí mọi mặt ở khu vực này một cách có trật tự, gia tăng tài chính đủ để nuôi sống đội ngũ nhân viên chính phủ và 50.000 quân Tây Bắc. Chính phủ Trung ương quyết định giao cho ông đảm nhiệm chức Bộ trưởng Tài chính của khu vực Thiểm-Cam-Ninh, giải quyết vấn đề cơm ăn áo mặc của đội ngũ nhân viên quân-chính lên tới 4-5 vạn người.

Nam Hán Thần "lâm nguy thụ mệnh", trở thành "đại quản gia" của khu vực Thiểm-Cam-Ninh.

Ưu tiên hàng đầu của Nam Hán Thần là tìm kiếm lương thực. Một đội quân không có cơm ăn thì chẳng những không thể chiến đấu mà ngay cả sinh tồn cũng trở thành vấn đề. Tình hình thực sự khá nghiêm trọng. Kho gạo của Cục Lương thực đã cạn kiệt.

Sau khi điều tra cẩn thận, Nam Hán Thần đã tìm ra mấu chốt của vấn đề.

Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn diện, đội ngũ cán bộ và lực lượng quân sự ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh có quy mô nhỏ và viện trợ bên ngoài lớn. Chính phủ thực hiện các chính sách phục hồi mang lại lợi ích cho người dân, hầu như không thu thập lương thực từ nông dân. Song, với sự gia tăng của đội ngũ quân-chính, số lượng ngựa ngày càng tăng lên, nhu cầu lương thực nhiều hơn, thế nhưng chính quyền Thiểm-Cam-Ninh vẫn không tiến hành trưng thu lương thực từ người dân, gây ra tình trạng khốn đốn vào năm 1941.

Nam Hán Thần tin rằng, nếu vấn đề tài chính của chính phủ luôn nhấn mạnh vào việc "lương nhập vi xuất", mà không xuất phát từ nhu cầu thực tế, thì nó sẽ trở thành "lòng nhân từ của Tống Tương Công(55)". Dân tộc Trung Quốc đang ở một thời điểm then chốt giữa sự sống và cái chết, thế nên bách tính khu vực Thiểm-Cam-Ninh cũng nên đồng cam cộng khổ với chính phủ, có sực giúp sức, có tiền giúp tiền. Chính phủ phải thu thập lương thực từ người dân và chuẩn bị nguồn lực vật chất cần thiết để đánh bại quân xâm lược. Quan điểm phiến diện về "nền nhân chính" rõ ràng là không khả thi trong giai đoạn chiến tranh. Năm 1940, vốn dĩ sẽ cần 140.000 thạch lương thực, nhưng chỉ thu được 90.000 thạch lương thực, số còn thiếu đành hai lần "muối mặt" đi vay và một lần thu mua từ dân chúng. Như thế đã là làm phiền nhân dân lắm rồi.

Chú thích:

(55) Tống Tương Công (? – 637 TCN), tên thật là Tử Tư Phủ, là vị quân chủ thứ 20 của nước Tống – chu hầu nhà Chu. Ông trị vì từ năm 650 TCN đến năm 637 TCN, tổng 13 năm.

Nam Hán Thần đã tính toán chi tiết và đưa ra kết luận. Một mặt, chính sách phục hồi làm giảm gánh nặng của nông dân. 90.000 thạch lương thực thu được năm 1940 chỉ bằng khoảng 6% sản lượng hằng năm, trong khi đó tại địa bàn quản hạt của chính phủ Quốc dân, gánh nặng cho nông dân Tứ Xuyên gấp tới 10 lần khu vực Thiểm-Cam-Ninh! Mặt khác, trong tay nông dân có lương thực. Khi ông đi thăm thú các hộ gia đình vào tháng Giêng, không ít nhà còn đang gói há cảo để ăn, so với tình trạng 9/10 hộ gia đình không có thức ăn qua đêm trước khi Hồng quân đến miền bắc Thiểm Tây, đó là cả một sự khác biệt.

Sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, Nam Hán Thần quyết định ra lệnh trưng thu 200.000 thạch ngũ cốc, 13 triệu cân cỏ vào năm 1941. Ông giải thích với người nông dân rằng tất cả các loại ngũ cốc đã mượn trước đó sẽ được trả lại, và chính phủ sẽ tiếp tục vay trong năm sau.

Sở Tài chính đã điều động một số lượng lớn sinh viên trường đảng và nhân viên công tác đến các huyện lị để tuyên truyền giảng giải với quần chúng, để họ hiểu rằng: Phải có quân đội thì mới có thể bảo vệ đất nước, và phải có lương thực thì mới có quân đội. Khu vực Thiểm-Cam-Ninh là khu vực tươi sáng nhất ở Trung Quốc. Hạnh phúc của người dân ở đây được tạo ra bởi quân đội của Đảng Cộng sản, và điều đó sẽ phải nhờ quân đội bảo vệ. Quân đội phải bảo vệ nhân dân, và nhân dân phải cung cấp lương thực cho quân đội, nếu không quân đội không thể tồn tại.

Công tác trưng thu lương thảo công khai đã nhận được sự thấu hiểu và ủng hộ của người dân. Về cơ bản, nguồn lương thực đảm bảo cung cấp đủ cho khu vực Thiểm-Cam-Ninh và bước đầu giải quyết được vấn đề nan giải trước mắt. Sau này, khi xem xét khoảng cách giàu nghèo của nông dân sau Cách mạng ruộng đất, Nam Hán Thần đề xuất một hệ thống thuế lũy tiến dựa trên thu hoạch thực tế của mỗi hộ gia đình. Qua đó, hầu hết nông dân phải chịu thuế nông nghiệp, ai thu hoạch nhiều thì nộp nhiều, ai thu hoạch ít thì nộp ít, công bằng hợp lý, mọi người đều góp công góp sức vào công cuộc kháng chiến toàn diện.

Vấn đề lương thực dần dần ổn thỏa, nhưng các nhu yếu phẩm hàng ngày như bông, vải vẫn rất khan hiếm, chỉ có thể đưa từ bên ngoài khu vực Thiểm-Cam-Ninh vào, thế nhưng Quốc dân Đảng đã phong tỏa gắt gao. Nam Hán Thần khổ công suy nghĩ tìm biện pháp đối phó. Ông tin rằng chỉ có thể phá vỡ sự phong tỏa bằng thương mại và tìm kiếm các nguồn vật tư cần thiết bên ngoài mới thay đổi được tình hình. Qua điều tra và phân tích, ông phát hiện ra rằng có ba "kho báu" ở phía bắc Thiểm Tây: muối, lông thú và cam thảo. Nhưng việc trồng cam thảo chiếm diện tích lớn và việc vận chuyển lại hết sức khó khăn, sản lượng lông thú thì hạn chế và riêng khu vực Thiểm-Cam-Ninh còn không đủ dùng. Vì vậy, muối trở thành lựa chọn duy nhất.

Vào thời điểm đó, muối ở phía bắc Thiểm Tây có một lợi thế độc nhất. Từ khi kháng chiến toàn diện, muối biển bị quân đội Nhật kiểm soát và không thể vận chuyển, sản lượng của các khu vực sản xuất muối khác gần đó thì giảm dần qua từng năm. Thế nên việc sản xuất muối ở phía bắc Thiểm Tây ngày càng quan trọng hơn, và nó trở thành cơ sở cung cấp muối chủ chốt ở phía tây bắc. Với vật phẩm chiến lược như muối, khu vực Thiểm-Cam-Ninh đã sở hữu một lợi thế thương mại.

Để giải quyết các vấn đề như công nghệ trang trại muối lạc hậu, sản lượng thấp, điều kiện vận chuyển và bán hàng kém, Sở Tài chính khu vực Thiểm-Cam-Ninh thành lập Cục Muối vụ, chịu trách nhiệm sản xuất và vận chuyển muối. Cục Muối vụ điều động quân đội tham gia sản xuất muối nhằm gia tằng sản lượng; thống nhất thu mua muối của quân đội và người dân với giá cả hợp lý; khuyến khích người dân vận chuyên muối. Hộ nào tham gia vận chuyển muối sẽ không phải nộp thuế nông nghiệp, và ngoài ra còn được chia sẻ lợi nhuận từ việc bán muối. Cục Muối vụ phân bổ ngân sách sửa chữa con đường vận chuyển muối, xây dựng nhà trọ dọc đường và giải quyết các vấn đề hậu cần. Những biện pháp này khơi dậy sự nhiệt tình của toàn dân và cả quân đội. Để kiếm tiền bằng cách vận chuyển muối, dù là Mùng 1 Tết, quần chúng không màng đến chuyện ngơi nghỉ.

Thời gian đầu, Quốc dân Đảng chặn muối được vận chuyển từ khu vực Thiểm-Cam-Ninh, nhưng sau nhận thấy không thể ngăn cản, họ lại lợi dụng điểm yếu của việc vận chuyển phân tán để xúi giục các hộ vận chuyển muối ép giá lẫn nhau. Đáp lại âm mưu của Quốc dân Đảng, Cục Muối vụ thực hiện chiến lược thu mua và bao tiêu thống nhất, trước tiên thống nhất mua lại muối của tất cả các hộ vận chuyển muối, sau đó chờ cơ hội để tung ra bán.

Cục Muối vụ nghe tin rằng các khu vực sản xuất muối xung quanh đã bị quân đội Nhật chiếm đóng, họ ngay lập tức tăng gấp đôi giá muối. Ban đầu chính quyền Quốc dân Đảng vẫn cố gắng chịu đựng, nhưng chẳng mấy chốc Cục Muối vụ nhận được thông tin chính xác rằng kho muối dự trữ của Quốc dân Đảng sắp cạn kiệt, thế là họ tiếp tục chờ đợi Quốc dân Đảng tự tìm đến cửa. Qua khoảng 20 ngày, quả nhiên người của Diêm Tích Sơn đã chủ động tìm tới xin mua, vài ngày sau đó đến lượt Hồ Tông Nam(56) cũng không chịu được nữa.

Chú thích:

(56) Hồ Tông Nam (1896 – 1962) là một tướng lĩnh Quốc dân Cách mệnh quân Trung Hoa Dân Quốc. Cùng với Trần Thành và Thang Ân Bá, ông là một trong ba tướng lĩnh tin cẩn của Tưởng Giới Thạch trong Chiến tranh Trung - Nhật.

Cứ như vậy, kế hoạch vận chuyển muối của chính phủ đã hoàn thành thuận lợi, góp phần phá vỡ chiến lược phong tỏa của Quốc dân Đảng, đảm bảo việc cung cấp hàng hóa ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh.

Để thông thương giữa khu vực Thiểm-Cam-Ninh và Quốc dân Đảng, Nam Hán Thần cũng tìm tới các thủ lĩnh bằng đảng ở Tây An.

Nam Hán Thần tham gia cách mạng từ những ngày đầu. Nhờ quá trình huy động quần chúng, ông từng giao du với đủ các tầng lớp và giai cấp xã hội, thậm chí rất có uy tín trong các bang hội. Lúc này, Nam Hán Thần đã đến Tây An, các đại ca địa phương đều gọi ông là "tiền bối" và nghe theo sắp đặt của ông. Thông qua những người anh em thân tín này, Nam Hán Thần huy động các thành viên băng đảng trong quân đội của Hồ Tông Nam, vận chuyển đặc sản địa phương tới Tây An bán, sau đó mua thuốc men, vải vóc và các vật tư khác mà khu vực Thiểm-Cam-Ninh đang thiếu thốn, giải quyết nhu cầu cấp thiết tại đây.

Ngoài việc mở ra các kênh thương mại và nắm các nguồn vật tư chiến lược, Nam Hán Thần và Chu Lý Trị - chủ tịch Ngân hàng khu vực Thiểm-Cam-Ninh, đề xuất phát hành tiền tệ độc lập của khu vực Thiểm-Cam-Ninh, nắm quyền phát hành và sử dụng tiền tệ của riêng mình để hỗ trợ phát triển kinh tế và thương mại, giúp khu vực Thiểm-Cam-Ninh khắc phục những khó khăn về tài chính.

Năm 1941, khu vực Thiểm-Cam-Ninh thâm hụt ngân sách hơn 5 triệu đồng. Sau hơn một năm nỗ lực đã đạt được thặng dư hơn 10 triệu đồng. Nam Hán Thần, người chưa bao giờ học hành kinh tế, đã dựa vào việc nghiên cứu điều tra và những kinh nghiệm có được trong thực tiễn để hóa thân thành một vị quản gia tài ba, cứu rỗi nền kinh tế của khu vực Thiểm-Cam-Ninh.

Trích "Chương 8, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét