“BẮC HẢI TỆ” DỰA TRÊN “BẢN VỊ VẬT GIÁ”: ĐỔI MỚI TÀI CHÍNH TẠI CĂN CỨ ĐỊA SƠN ĐÔNG
Tháng 8 năm
1945, một ngày sau chiến thắng của công cuộc kháng chiến chống Nhật, một nhà
báo người Mỹ đã phỏng vấn một cán bộ của Bát lộ quân tại căn cứ địa Sơn Đông.
Phóng viên:
Tiền tệ trong căn cứ địa Sơn Đông không có vàng, bạc cũng như ngoại hối để
làm tài sản thế chấp cho việc phát hành. Vậy tại sao giá trị tiền tệ và vật giá
vẫn có thể giữ ổn định? Đây thực sự là một kỳ tích đáng kinh ngạc!
Cán bộ của
Bát lộ quân: Chúng tôi có đủ vật tư để làm tài sản thế chấp cho việc phát
hành. Các anh có 40% dự trữ vàng, còn chúng tôi có 50% dự trữ vật tư.
Các nhà báo
Mỹ nhìn nhau trong bối rối.
Cán bộ của
Bát lộ quân: Cứ mỗi 10.000 đồng được phát hành, chúng tôi sẽ dùng ít nhất
5.000 đồng để thu mua và lưu trữ các vật tư quan trọng như ngũ cốc, bông, vải
và đậu phộng. Nếu vật giá tăng cao, chúng tôi sẽ bán các vật tư này để ổn định
giá. Ngược lại, nếu vật giá giảm, chúng tôi sẽ phát hành thêm tiền tệ và thu
mua vật tư. Chúng tôi sử dụng những nhu yếu phẩm này như một tài sản thế chấp
cho việc phát hành tiền, nó vượt trội hơn nhiều so với vàng và bạc – những thứ
mà khi đói chẳng thể dùng để ăn, khi rét không thể dùng để mặc.
Các nhà báo
Mỹ vừa ghi chép vừa suy nghĩ.
Cán bộ của
Bát lộ quân: Sau khi hiện thực hóa hệ thống tiền giấy, giá trị đại diện bằng
tiền tệ được xác định bởi sự lưu thông của nó. Khối lượng lưu thông tăng 10 lần.
Nếu các điều kiện khác không đổi, vật giá cũng sẽ tăng 10 lần. Nguyên nhân khiến
cho tiền pháp định và tiền của chế độ ngụy quyền bị mất giá khủng khiếp, là bởi
họ quá tùy tiện trong việc phát hành tiền giấy. Vật giá của chúng tôi tương đối
ổn định vì chúng tôi kiểm soát lượng tiền tệ lưu thông một cách thích đáng.
Phóng viên:
Điều này rất thú vị. Xin vui lòng cho tôi biết thêm về nó.
Cán bộ của
Bát lộ quân giảng giải cho các nhà báo Mỹ suốt 4 giờ để họ hiểu được sự tình.
Phóng viên:
Anh có nghĩ rằng Mỹ có thể thực hiện một hệ thống tiền tệ như vậy không?
Cán bộ của
Bát lộ quân: Mỹ hiện nắm giữ 2/3 số vàng của thế giới, ngoài ra còn thực hiện
chế độ bản vị vàng.
Cán bộ của
Bát lộ quân hoàn toàn không thể ngờ rằng, 30 năm sau, Mỹ cũng buộc phải từ bỏ bản
vị vàng, và kiểm soát tiền phát hành để ổn định vật giá, qua đó biến Thuyết
Tiền tệ của Friedman(59) trở thành học thuyết nổi tiếng của phương Tây. Thế
nhưng học thuyết của ông muộn hơn nhiều thập kỷ so với thực tiễn tiền tệ ở căn
cứ địa Sơn Đông. Khi cán bộ Bát lộ quân được phỏng vấn, Friedman vẫn đang là một
nghiên cứu sinh đại học và là một “người tôn sùng triệt để chủ nghĩa
Keynes(60)”. Nhận thức của ông đối với tiền tệ còn lâu nữa mới trở thành lý luận.
Chú
thích:
(59) Milton
Friedman (1912 – 2006): Nhà kinh tế học người Mỹ. Năm 1976, Friedman nhận giải
Nobel Kinh tế vì những đóng góp vào lĩnh vực phân tích tiêu dùng, lịch sử và lý
thuyết tiền tệ cũng như vì công lao của ông trong việc chứng minh tính phức tạp
của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Theo tờ The Economist, Friedman là nhà
kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất vào nửa sau thế kỷ XX.
(60) Chủ
nghĩa Keynes trong kinh tế học là hệ thống các tư tưởng và học thuyết kinh tế của
các trường phái Keynes, do nhà kinh tế học lỗi lạc người Anh – John Maynard
Keynes đặt nền móng với tác phẩm Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ
(1939).
Lúc này, thực
tiễn tiền tệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc mang tính tiên phong hơn nhiều so với
lý thuyết tiền tệ phương Tây. Điều quan trọng hơn là, cảm giác tự đúc rút kinh
nghiệm từ thực tiễn hoàn toàn khác biệt so với việc thảo luận lý thuyết trên giấy.
Điều này giống như một giáo sư dạy MBA (Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh) trong trường
đại học diễn thuyết hùng hồn về cách quản lý một công ty. Song, dù kiến thức của
ông tuyệt vời đến mấy, cũng không thể sánh với thực tiễn quản lý của Vương Vĩnh
Khánh hay Lý Gia Thành.
Sau khi
Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, có một dạo Friedman được tôn sùng như một
vị thần. Chúng ta đã coi nhẹ những thành tựu to lớn mà bản thân đạt được thông
qua thực tiễn sáng tạo tiền tệ, bị lạc lối trong hào quang lấp lánh của các lý
thuyết phương Tây, hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc tối cao “thực tiễn là tiêu
chí duy nhất để kiểm tra sự thật”. Điều đó làm cho chúng ta phải thở dài tiếc
nuối! Từ khi học hỏi tư duy tiền tệ của Mỹ, sức mua thực sự của đồng nhân dân tệ
giảm mạnh trong 30 năm qua. Mức thu nhập trên 10.000 tệ của các hộ “siêu giàu”
khiến ai cũng phải ngưỡng mộ trong những năm 80 của thế kỷ XX, giờ chỉ tiêu chuẩn
của những hộ cần “xóa đói giảm nghèo” mà thôi.
Danh tính
thực sự của nhà báo người Mỹ: Học giả kinh tế.
Cán bộ của
Bát lộ quân: Tiết Mộ Kiều, trình độ văn hóa tiểu học, “tốt nghiệp” từ “đại học”
nhà tù Thượng Hải, Cục trưởng Cục Công thương, người chủ trì chính sách tiền tệ
của khu vực căn cứ địa Sơn Đông. Đồng thời, ông là một trong những người sáng lập
nên hệ thống tiền tệ của nhà nước Trung Quốc mới.
Rốt cuộc Tiết
Mộ Kiều đã tạo ra loại tiền tệ nào mà khiến cho các học giả kinh tế Mỹ đường xa
vạn dặm tìm đến Trung Quốc?
Hóa ra, khu
vực căn cứ địa Sơn Đông bắt đầu phát hành “Bắc Hải tệ” như một loại tiền bổ trợ
cho tiền pháp định từ năm 1938. Do khu vực căn cứ địa thiếu kinh nghiệm phát
hành tiền giấy, nên ban đầu tín dụng của Bắc Hải tệ kém hơn so với tiền pháp định.
Thời điểm
đó, tiền pháp định liên kết với đồng bảng Anh và đồng đô-la, có tiềm lực rất mạnh
trong khu vực chính quyền thống trị.
Không chỉ
riêng khu vực căn cứ địa nắm giữ một số lượng lớn tiền pháp định để đảm bảo sự ổn
định của đồng nội tệ, mà chế độ ngụy quyền thân Nhật cũng phát hành tiền tệ của
riêng họ trong các khu vực bị chiếm đóng, tiến hành trao đổi tiền pháp định để
lấy ngoại tệ hoặc thu mua vật tư.
Sau khi Chiến
tranh Thái Bình Dương nổ ra, Nhật Bản thâu tóm các tổ chức tài chính Anh và Mỹ
tại Trung Quốc, không thể tiếp tục sử dụng tiền pháp định để trao đổi ngoại hối.
Do đó, người Nhật thay đổi chiến thuật, “dùng tiền pháp định chống lại tiền
pháp định”, rót hàng tỷ tiền pháp định từ các khu vực do Nhật Bản kiểm soát vào
khu vực do Quốc dân Đảng cai trị và các căn cứ địa chống Nhật để đầu cơ vật tư.
Chỉ tính riêng năm 1942, tiền pháp định chảy vào căn cứ địa Sơn Đông đã lên tới
vài trăm triệu. Điều này không chỉ khiến cho một lượng lớn vật tư đổ về các khu
vực do kể thù chiếm đóng, mà còn làm cho lượng tiền pháp định trong khu vực căn
cứ địa vượt xa nhu cầu thị trường, sức mua của tiền pháp định giảm mạnh và Bắc
Hải tệ (vốn có liên quan đến tiền pháp định) cũng mất giá nhanh chóng và lạm
phát tăng đột biến. Nó tương tự như việc dòng đô-la lũ lượt đổ về Trung Quốc,
ngoài việc giúp các thế lực nước ngoài “đầu cơ” một lượng lớn sản phẩm, tài
nguyên và nguyên liệu thô của Trung Quốc, nó còn dẫn đến việc phát hành quá mức
đồng nhân dân tệ, từ đó khiến cho sức mua của nhân dân tệ giảm và vật giá tằng
cao.
![]() |
| Bắc Hải tệ |
Kết quả của
việc lạm phát tăng cao là tại một quốc gia có truyền thống tin sùng câu nói
“Dân dĩ thực vi thiên” (dân lấy cái ăn làm trọng), giá thực phẩm năm 1943 đã
tăng gấp 25 lần so với năm 1941!
Giữa tình
thế nguy cấp, đầu năm 1943, Tiết Mộ Kiều tình cờ đi qua khu vực căn cứ địa Sơn
Đông đến Diên An, ông được lãnh đạo căn cứ địa “bắt cóc” để giúp Sơn Đông triển
khai cuộc chiến tiền tệ chống lại kẻ thù.
Lãnh đạo
căn cứ địa lúc đó vẫn chưa hiểu quy luật về tiền tệ và vật giá, nên đã cho phép
tiền pháp định và Bắc Hải tệ lưu hành đồng thời, nhưng lại cấm tiền tệ do chính
phủ ngụy quyền thân Nhật phát hành. Trên thị trường chợ đen ở khu vực bị chiếm
đóng, tiền ngụy có giá trị hơn tiền pháp định. Trong khu vực căn cứ địa, tiền
pháp định có giá trị hơn Bắc Hải tệ. Chính quyền Sơn Đông đã sử dụng các biện
pháp hành chính để kiểm soát tỷ giá tiền pháp định và tuyên bố rằng Bắc Hải tệ
sẽ được chuyển đổi thành tiền pháp định theo tỷ lệ 1:2, nhưng không phát huy
tác dụng.
Sau khi tiến
hành hàng loạt cuộc điều tra và nghiên cứu, Tiết Mộ Kiều đề xuất rằng cách duy
nhất để ổn định giá trị của Bắc Hải tệ và vật giá khu vực căn cứ địa là trục xuất
tiền pháp định, biến Bắc Hải tệ trở thành đồng tiền duy nhất trong khu vực căn
cứ địa và “độc hưởng” quyền phát hành tiền tệ. Phương pháp này sử dụng Bắc Hải
tệ để thay thế và thu hồi tiền pháp định, sử dụng lượng tiền pháp định đó tiến
hành thu mua vật tư từ khu vực do kẻ thù chiếm đóng, sau đó lại dùng số vật tư
này bổ trợ cho Bắc Hải tệ. Khi vật giá tăng cao thì chính phủ bán vật tư để tằng
giá trị tiền tệ, rồi tự khắc vật giá cũng sẽ giảm theo.
Phương pháp
này thực sự hiệu quả. Sau khi tiền pháp định bị trục xuất, vật giá quả thực đã
giảm, nhưng những vấn đề mới lại xuất hiện. Bởi vì số lượng Bắc Hải tệ không thể
đáp ứng nhu cầu lưu thống của thị trường nên vật giá sụt giảm quá mức, mà lúc
này, chính phủ căn cứ địa lại không biết rằng cần phải phát hành thêm tiền để ổn
định vật giá. Thay vào đó, họ rao bán vật tư để ổn định tiền tệ, nhưng lại đúng
vào vụ thu mua nông sản, nông dân đang lũ lượt bán ra, kết quả là vật giá giảm
mạnh. Mặc dù Cục Công thương ngay lập tức triển khai phát hành tiền tệ bổ sung,
nhưng do năng lực in tiền của ngân hàng còn yếu nên đã bỏ lỡ thời cơ thu mua
nông sản. Sự kết hợp của ba yếu tố trên khiến cho vật giá giảm một nửa so với
thời điểm tiền pháp định bị cấm lưu hành. Đến mùa xuân, chính phủ không có đủ
nông sản hỗ trợ cho giá trị của lô tiền tệ bổ sung “đến muộn” kia, kết quả là vật
giá lại tăng kịch liệt.
Tiết Mộ Kiều
và các đồng nghiệp nhận ra rằng trong nền kinh tế nông thôn, có một số quy luật
khách quan nhất định về tính thời vụ và giá phát hành tiền tệ: phát hành tiền tệ
bổ sung vào dịp thu đông để mua các sản phẩm nông nghiệp, bán các sản phẩm nông
nghiệp vào mùa xuân nhằm hỗ trợ giá trị tiền tệ, như vậy mới có thể giữ cho vật
giá ổn định. Vật giá ổn định chính là yếu tố tiên quyết làm nên tín dụng tiền tệ,
là thước đo cho sự thành công của hệ thống tiền tệ. Chính từ trong thực tiễn
này, họ đã nảy ra sáng kiến là sử dụng vật tư làm tài sản thế chấp cho việc
phát hành tiền tệ!
Khi nhớ lại
giai đoạn lịch sử đó, Tiết Mộ Kiều đã đề cập rằng: “Một nửa số tiền do ngân
hàng phát hành phải được giao cho Cục Công thương mới thành lập để thu mua các
sản phẩm nông nghiệp khác nhau, kịp thời xử lý để ổn định vật giá. Tiền tệ
chúng tôi phát hành không sử dụng vàng, bạc và ngoại hối, mà sử dụng vật tư làm
quỹ dự trữ. Trước sự tăng – giảm của vật giá, bất cứ lúc nào Cục Công thương
cũng có thể thu mua vật tư, điều tiết lượng tiền tệ lưu hành nhằm duy trì ổn định
giá trị tiền tệ và vật giá. Thời điểm đó, tất cả các nước tư bản thực hiện bản
vị vàng và không xảy ra vấn đề lạm phát. Nhận thức về tính quy luật mà chúng
tôi thu thập được từ thực tiễn có thể là một khám phá mới trong lịch sử lý thuyết
tiền tệ.”
“Chính quyền
căn cứ địa gọi hệ thống tiền tệ này là “hệ thống bản vị vật giá”, nghĩa là “tiền
tệ vừa không có mối liên hệ nhất định với vàng bạc, cũng không có liên quan tới
tiền pháp định và tiền ngụy. Tiền tệ của chúng tôi liên kết với vật giá, coi chỉ
số vật giá (không phải chỉ số của một loại hàng hóa nhật định, mà là chỉ số tổng
hợp của một số mặt hàng quan trọng) làm tiêu chuẩn xác định giá trị cao – thấp
của tiền tệ”.
Sau khi
hoàn thành công cuộc đấu tranh tiền tệ “trục xuất tiền pháp định và ổn định vật
giá”, khu vực căn cứ địa bắt tay vào một cuộc đấu tranh thương mại, và Cục Công
thương căn cứ này trở thành đơn vị tác chiến chủ đạo.

Nhận xét
Đăng nhận xét