“VẬT TƯ CHIẾN LƯỢC” VÀ CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI
Cũng giống
như cách Nam Hán Thần sử dụng muối làm “vũ khí thương mại chiến lược” ở khu vực
Thiểm-Cam-Ninh, Cục Công thương căn cứ địa Sơn Đông lấy muối biển và dầu đậu phộng,
hai nguồn lực giàu có và là nguyên liệu chiến lược rất cần thiết trong các khu
vực chiếm đóng của kẻ thù.
Trước đây,
chính phủ không có một tổ chức thống nhất để quản lý muối biển. Các thương nhân
buôn muối trung gian sẽ trục lợi cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng, lại cộng
thêm thuế muối cao khiến cho các hộ sản xuất muối trốn thuế, chống thuế, gây ra
xung đột rất lớn. Từ khi Cục Công thương nắm độc quyền, các thương nhân buôn muối
trung gian bị loại bỏ và các cửa hàng muối mở ra đồng loạt thu mua, đồng thời
giảm thấp thuế muối, khuyến khích người dân tham gia sản xuất và vận chuyển muối,
đảm bảo mức thu nhập hợp lý cho họ. Cục Công thương xây dựng một chiến lược bán
hàng đặc biệt. Càng gần khu vực chiếm đóng của kẻ thù thì giá muối càng cao. Tại
những nơi giáp ranh với khu vực bị chiếm đóng, giá muối tăng tới 50%. Thiết kế
giá muối theo bậc thang như vậy là cách làm khá thông minh, nó không chỉ đảm bảo
giá muối tại khu vực chủ chốt của căn cứ địa luôn ở mức thấp, có lợi cho cuộc sống
hàng ngày của người dân, mà còn làm cho chi phí mua muối ở khu vực bị chiếm
đóng tăng lên, nhờ đó tối đa hóa thu nhập của khu vực căn cứ địa.
Dầu đậu phộng
là một mặt hàng “bắt buộc phải có” ở thị trường Thượng Hải. Sau khi Cục Công
thương thu mua, họ dùng danh nghĩa doanh nghiệp tư nhân để bán tại thị trường
Thượng Hải, đổi lấy các vật tư công nghiệp cần thiết cho khu vực căn cứ địa,
bao gồm các trang thiết bị, giấy in tiền và vật tư quân sự. Quân đội Nhật Bản ở
Thượng Hải biết rõ nguồn dầu đậu phộng này từ đâu đến, nhưng vì nhu cầu của thị
trường Thượng Hải, họ cũng bất đắc dĩ phải âm thầm bảo vệ.
Kể từ khi Bộ
Công Thương áp dụng chính sách thương mại thuận lợi và thực hiện độc quyền về vật
tư chiến lược, nền thương mại đối ngoại của khu vực căn cứ địa đã xuất siêu với
tỷ lệ rất lớn. Điều này đảm bảo hiệu quả cho việc trao đổi các mặt hàng cấp thiết
trong khu vực căn cứ địa. Cục Công thương kiểm soát một cách rất thuần thục giá
trị của Bắc Hải tệ và ổn định vật giá, qua đó hỗ trợ tích cực và đắc lực cho
công cuộc đấu tranh tiền tệ.
Bất cứ ai
kiểm soát các vật tư chiến lược sẽ kiểm soát quyền thanh toán tiền tệ cho hoạt
động thương mại. Khi tiền pháp định mất giá thì thanh toán bằng tiền ngụy, tiền
ngụy mất giá thì các giao dịch vật tư hạn định trong căn cứ địa bắt buộc phải
dùng Bắc Hải tệ. Như vậy, các thương nhân trong khu vực địch chiếm đóng không
thể không nắm giữ một số lượng Bắc Hải tệ nhất định. Sau đó, người ta cũng nhận
ra rằng Bắc Hải tệ ổn định và “giữ giá” hơn nhiều so với tiền ngụy, vì vậy họ rất
vui khi nắm giữ nó. Bắc Hải tệ thâm nhập vào khu vực chiếm đóng của kẻ thù và
bén rễ như thế. Căn cứ địa Sơn Đông phát hiện ra Bắc Hải tệ còn được dùng làm
“dự trữ ngoại hối” trong khu vực bị chiếm đóng. Do đó, khu vực căn cứ địa có thể
huy động hiệu quả các nguồn lực trong khu vực này. Đây chẳng khác gì một dạng
“thuế đúc tiền” biến tướng, với thiết kế gần như đồng bộ với chiến lược tiền tệ
quốc tế hóa đồng đô-la của Mỹ.
Nếu các
chuyên gia tiền tệ và các cao thủ thương mại của thế hệ cũ vẫn còn sống đến giờ
này thì họ sẽ không ngần ngại tung ra một loạt “đòn tổ hợp tài chính” tuyệt vời
dựa trên vật tư chiến lược cốt lõi (như tài nguyên đất hiếm) mà Trung Quốc đang
kiểm soát. Muốn sử dụng đất hiếm của Trung Quốc? Được thôi, nhưng với điều kiện
phải sử dụng nhân dân tệ để thanh toán, từ đó làm gia tăng nhu cầu về dự trữ quốc
tế của nhân dân tệ và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa của đồng tiền này.
Trải qua thực
tiễn về tiền tệ và thương mại, từ cuộc chiến phòng thủ chống lại tiền pháp định
và bảo vệ vật tư, khu vực căn cứ địa Sơn Đông chuyển sang chiến lược phản công
mở rộng khu vực lưu thông Bắc Hải tệ và thu mua vật tư ở các khu vực do kẻ thù
chiếm đóng. Họ nâng cao nưng lực tác chiến trong chiến tranh tiền tệ và đóng
góp cực lớn vào thu nhập tài chính của căn cứ địa, biến Sơn Đông trở thành khu
vực giàu có nhất trong số những vùng đã giải phòng, đặt nền tảng vật chật vững
chắc cho công cuộc kháng chiến chống Nhật và chiến tranh giải phóng.
Trong những
ngày đầu của chiến tranh giải phóng, khi gặp Tiết Mộ Kiều tại hội nghị công tác
tài chính và kinh tế, Bạc Nhất Ba(61) nói rằng Quốc dân Đảng huy động 700.000
quân tấn công trọng điểm vào khu vực Sơn Đông. Bộ đội chủ lực của Tân tứ quân
đã chuyển tới đồn trú tại Sơn Đông, khiến cho căn cứ địa phải chịu áp lực rất nặng
nề. Vậy thì Sơn Đông phải gánh vác bao nhiêu nhân viên quân-chính? Tiết Mộ Kiều
bảo Bạc Nhất Ba đoán thủ xem sao. Bạc Nhất Ba đoán rằng khoảng 700.000 người. Tiết
Mộ Kiều mỉm cười và nói rằng có tới 900.000 người! Bạc Nhất Ba hết sức kinh ngạc,
ông không ngờ rằng sức mạnh tài chính của căn cứ địa Sơn Đông lại mạnh mẽ đến vậy.
Chú
thích:
(61) Bạc
Nhất Ba: Chính trị gia Trung Quốc, một “công thần lập quốc” từng tham gia cách
mạng Trung Quốc từ những ngày đầu, cùng thế hệ với Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu
Bình. Ông là một trong Bát đại nguyên lão. Ông là cha của Bạc Hy Lai.
Thực tế, tại
căn cứ địa Sơn Đông, Tiết Mộ Kiều đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm quý
báu trong việc phát hành tiền tệ. Điều này cung cấp một nền tảng quan trọng cho
sự độc lập của đồng nhân dân tệ đối với vàng và bạc vài năm sau đó.
Năm 1948, Đảng
Cộng sản Trung Quốc bắt đầu thảo luận về chính sách phát hành nhân dân tệ, và
quan điểm độc lập tiền tệ của Tiết Mộ Kiều phải hứng chịu rất nhiều nghi ngờ.
Vào thời điểm đó, nhiều nhà kinh tế từ Diên An tin rằng khu vực căn cứ địa
không có dự trữ vàng và bạc, lại không nhận sự hỗ trợ của các loại tiền tệ mạnh
như đô-la Mỹ và bảng Anh, nếu cắt đứt mối liên hệ với tiền pháp định thì sẽ
không thể duy trì được sự ổn định của vật giá.
Dựa trên
kinh nghiệm của căn cứ địa Sơn Đông, Tiết Mộ Kiều đã chứng minh rằng giá trị của
tiền tệ về cơ bản xác định bởi sức mua của tiền tệ, và nó hoàn toàn có thể
thoát khỏi mối liên kết với vàng, bạc và ngoại hối. Điều quan trọng hơn là, một
khi có mối liên kết đó, nền kinh tế của khu vực căn cứ địa sẽ dễ dàng bị kẻ thù
gây ảnh hưởng. “Ở một số khu vực (như miền Trung Trung Quốc), mặc dù vài năm
trước tiền pháp định chưa bị cấm lưu hành, nhưng do sự mất giá liên tục, họ
liên tục thay đổi tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và tiền pháp định để duy trì
sự ổn định tương đối của vật giá và giá trị của đồng nội tệ. Thế nhưng ở hai
khu vực căn cứ địa là Sơn Đông và Sơn Tây – Hà Bắc – Sơn Đông – Hà Nam, đã
giành chiến thắng trong cuộc chiến tiền tệ, ngừng sử dụng tiền pháp định và thiết
lập một thị trường tiền tệ địa phương độc lập.”
Cuối năm
1948, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm đấu tranh tiền tệ ở khu vực căn cứ địa, Đảng
Cộng sản Trung Quốc bắt đầu phát hành một loại tiền tệ thống nhất – nhân dân tệ.
Nhân dân tệ không quy định hàm lượng vàng, và tuyên bố rằng sẽ thoát ly khỏi
vàng và bạc, tỷ giá hối đoái chủ yếu dựa trên sức mua thực tế của tiền tệ.
Khi đó, Quốc
dân Đảng mang theo tất cả vàng bạc trong ngân khố. Nếu nhân dân tệ được liên kết
với vàng và bạc, việc thu mua vàng bạc sẽ làm tăng lượng phát hành tiền tệ khiến
vật giá tăng cao. Chính phủ Quốc dân đã trải qua tình huống tương tự trong quá
trình cải cách tiền tệ. Do đó, Đảng Cộng sản quyết định đóng băng định giá vàng
bạc trong quá trình phát hành đồng nhân dân tệ, khiến nó thấp hơn mức độ tăng vật
giá và cũng thấp hơn giá vàng bạc quốc tế. Đây là khởi đầu cho chính sách kiểm
soát vàng bạc kéo dài suốt mấy thập kỷ sau đó của Trung Quốc.
Quan trọng
hơn là, Đảng Cộng sản rút ra những bài học lịch sử của triều đại nhà Minh, nhà
Thanh và chính phủ Quốc dân Đảng rằng, họ đã đánh mất chủ quyền tiền tệ vì
không thể kiểm soát việc cung cấp bạc. Từ đó, Đảng Cộng sản quyết định không
liên kết với vàng, bạc và ngoại hối, thoát ly khỏi sự khống chế tiền tệ, kinh tế,
chính trị của các cương quốc phương Tây với trữ lượng vàng và bạc lớn.
Nhân dân tệ
được phát hành độc lập và thoát ly với vàng bạc. Đây là một lựa chọn thực tế
giúp Trung Quốc thoát khỏi sự kiểm soát tiền tệ của các cường quốc phương Tây
vào thời điểm đó. Nó phản ánh nguyên tắc quan trọng của việc tìm kiếm sự thật từ
thực tiễn. Ngày nay, trong bối cảnh đồng nhân dân tệ gắn kết với đồng đô-la, đồng
đô-la đã bị mất giá suốt một thời gian dài do gánh nặng nợ nần quá lớn. Đối mặt
với nguy cơ đánh mất địa vị “tiền tệ toàn cầu” của mình, nếu như trong tương
lai đồng đô-la quyết định liên kết với vàng thông qua phương thức “bản vị vàng
phiên bản cải tiến” để tăng cường tín dụng của đồng đô-la, thì do lượng dự trữ
vàng của Trung Quốc đang ở mức thấp nghiêm trọng, vị thế chiến lược của đồng
nhân dân tệ sẽ rơi vào tình thế cực kỳ bất lợi.
Liệu tương
lai của đồng nhân dân tệ có liên kết với đồng đô-la, hay là nó sẽ độc lập tự chủ
trong việc tạo ra một mô hình tiền tệ mới? Đây sẽ là một vấn đề chiến lược mang
tính trọng đại.
Nhận xét
Đăng nhận xét