SỰ RA ĐỜI CỦA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ - phần 6

SỰ RA ĐỜI CỦA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ

Tháng 7 năm 1947, quân giải phóng nhân dân chuyển sang giai đoạn phản công chiến lược, các khu vực giải phóng Tuy Viễn – Sơn Tây, Sơn Tây – Sát Cáp Nhĩ – Hà Bắc, Sơn Tây – Hà Bắc – Sơn Đông – Hà Nam dần dần liền thành một dải. Các loại tiền tệ được sử dụng tại các khu vực giải phóng khác lũ lượt đổ vào thị trường của khu vực giải phóng thống nhất. Kết quả là nhiều “rối loạn tiền tệ” nảy sinh. Trong một khu vực giải phóng thống nhất, người dân chỉ cần đi khoảng vài trăm cây số, thậm chí chỉ vài chục cây số là đã phải chuyển sang dùng loại tiền khác.

Trụ sở cũ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc ở Thạch Gia Trang
Trụ sở cũ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc ở Thạch Gia Trang

Đổng Tất Võ – người phụ trách các vấn đề tài chính khu vực phía Bắc Trung Quốc thời điểm đó, đã tự thân trải qua những rắc rối đấy. Anh xuất phát từ Diên An và đến khảo sát tại căn cứ địa Sơn Tây – Sát Cáp Nhĩ – Hà Bắc. Dọc đường đói khát, anh cùng vợ con dừng chân nghỉ ngời dưới gốc hòe cổ thụ bên đường. Lương khô mang theo đã hết, viên cảnh vệ chạy đến quầy tạp hóa nhỏ trong làng mua một út bánh mè và khoai lang nướng. Nào ngờ khi trả tiền thì lại xảy ra chuyện.

Chủ quầy nhận tiền nhưng không biết đó là tiền ở đâu, viên cảnh vệ đành phải giải thích đó là biên tệ của khu vực giải phóng Thiểm-Cam-Ninh. Chủ quầy xem đi xem lại số tiền đó, cuối cùng dứt khoát trả lại. Hóa ra nơi này chỉ sử dụng tiền tệ của Khu giải phóng Sơn Tây – Sát Cáp Nhĩ – Hà Bắc, những loại tiền khác đều không được dùng!

Viên cảnh vệ bất lực, đành đem tiền đến một cửa hàng quốc doanh gần đó để trao đổi. Nhân viên bán hàng cũng không cho đổi và trả lời với giọng kiên quyết: “Khu vực Sơn Tây – Sát Cáp Nhĩ – Hà Bắc chỉ nhận biên tệ Sơn Tây – Sát Cáp Nhĩ – Hà Bắc, những loại tiền khác đều không nhận đâu. Tôi mà nhận tiền của anh thì cũng vứt xó, chẳng thể dùng, ai lại làm chuyện uổng công đó?”

Lúc này, phu nhân của Đổng Tất Võ nói với viên cảnh vệ rằng: “Anh đừng lo lắng! Em có mang theo một bọc tã cho lũ trẻ, anh cầm lấy rồi mang đi đổi với người ta! Em nghĩ bọc tã này đủ để đổi được vài chiếc bánh mè đây!” Đường đường là “nguyên lão cách mạng” Đổng Tất Võ, vậy mà có lúc bị vấn đề tiền tệ ép vào đường cùng, phải dùng cả bọc tã đổi lấy mấy cái bánh mè chống đói.

Thời điểm đó, hệ thống tài chính khu vực giải phóng đang rời vào tình trạng “mạnh ai nấy làm”, không chỉ các loại tiền tệ không được thống nhất, mà còn đánh thuế lẫn nhau, tiến hành bảo hộ thương mại. Để giảm thiểu thâm hụt thương mại, một số khu vực giải phóng thậm chí còn cho tăng giá đặc sản địa phương, từ chối nhập cảnh hàng hóa từ các khu vực giải phóng khác.

Căn cứ địa Sơn Đông có mặt hàng “mạnh” nhất là muối biển, đồng Bắc Hải tệ cũng là loại tiền tệ mạnh nhất trong các khu căn cứ địa. Tiền giấy của khu căn cứ địa Sơn Tây-Hà Bắc Sơn Đông-Hà Nam mạnh thứ hai. Khu vực Tây Bắc cần lượng nhập khẩu lớn nhất vì rất thiếu thốn nguyên vật liệu, thế nên đồng “Tây Bắc nông tệ” phát hành ở Tây Bắc là yếu nhất. Kết quả gây ra hiện tượng hỗn loạn như căn cứ địa Sơn Tây-Hà Bắc Sơn Đông-Hà Nam hạn chế nhập khẩu muối biển của căn cứ địa Sơn Đông, Hà Nam tạm giữ lô than mà Hà Trung đặc mua, v.v.

Báo cáo với Ủy ban Trung ương vào cuối năm 1947, Đổng Tất Võ nghiêm túc chỉ trích các địa phương “xây dựng hàng rào thuế quan lẫn nhau, làm suy yếu và chống lại tiền tệ của nhau, mâu thuẫn cạnh tranh với nhau trong thương mại và lãng quên kẻ thù.”

Thống nhất công tác tài chính và kinh tế của khu vực giải phóng, thành lập ngân hàng khắp khu vực giải phóng và phát hành tiền tệ thống nhất trên toàn quốc trở thành việc đại sự không thể chậm trễ thêm nữa. Nếu không mau chóng thống nhất tiền tệ, đến khi giải phóng Bắc Kinh, mỗi cánh quân mang theo tiền giấy của riêng họ đổ vào Bắc Kinh, thị trường chắc chắn sẽ rồi như canh hẹ.

Tượng Nam Hán Thần và Đổng Tất Võ
Tượng Nam Hán Thần và Đổng Tất Võ

Để phát hành một loại tiền tệ thống nhất, có hai lựa chọn, một là dựa trên kinh nghiệm cải cách tiền tệ của Liễn Xô năm 1947. Sau Thế chiến II, đổi tiền mới lấy tiền cũ và thực hiện trao đổi chênh lệch giữa tiền mới và tiền cũ ở mức 1:10. Ai nắm giữ càng nhiều tiền cũ thì mất giá càng lớn, nhân cơ hội này tước đi của cải, tiền tệ của một bộ phận người dân, giảm lượng lưu thông và đạt được mục đích ổn định tiền tệ.

Trên thực tế, khi tiếp nhận khu vực chiếm đóng, Tưởng Giới Thạch đã áp dụng mức trao đổi giữa tiền pháp định và tiền ngụy là 1:200, Liên Xô áp dụng mức trao đổi giữa tiền mới và tiền cũ là 1:10. Đó đều là thủ đoạn cướp của của những người nắm giữ tiền cũ. Tương tự như vậy, Mỹ đang gây sức ép để nhân dân tệ tăng giá. Với tình hình sức mua tài sản quốc tế bằng đồng đô-la không thay đổi, giả dụ tỷ giá trao đổi giữa đồng đô-la và nhân dân tệ đang ở mức 1:7, đột ngột biến thành 1:6, thì cũng tương tự như “đổi cũ lấy mới” đồng nhân dân tệ. Tại thời điểm tăng giá, “nhân dân tệ mới” đã thay thế “tiền cũ” với tỷ giá 6:7. Kết quả tất nhiên là sự tổn thất của cải của những người đang nắm giữ “tiền cũ”. Nói cách khác, sự tăng giá của đồng nhân dân tệ là “sự tăng giá trên danh nghĩa” đối bới bên ngoài, nhưng là sự mất giá thực tế của sức mua trong nước.

Đứng từ góc độ bảo vệ lợi ích của người dân, Nam Hán Thần tin rằng Trung Quốc không phù hợp để áp dụng theo chính sách cải cách tiền tệ của Liên Xô.

Một lựa chọn khác là, trước hết, tiến hành hợp nhất và đơn giản hóa tất cả các loại tiền được phát hành bởi mỗi khu vực giải phóng, chờ đến khi vật giá và tiền tệ ổn định thì mới phát hành tiền mới. Đồng thời, xem xét những tác động tiêu cực mà cuộc cải cách tiền tệ của Quốc dân Đảng gây ra, phải làm công tác tư tưởng để người dân hiểu rằng Đảng Cộng sản đang thực hiện thống nhất tiền tệ, chứ không phải là cải cách tiền tệ, hoàn toàn khác với Quốc dân Đảng. Cải cách tiền tệ của Quốc dân Đảng là sử dụng lạm phát nghiêm trọng như một thủ đoạn cướp bóc của cải của người dân. Kết quả là khiến cho vật giá tăng vọt, dân chúng lầm than và nền kinh tế sụp đổ. Còn việc thống nhất tiền tệ là đơn giản hóa và củng cố hệ thống tiền tệ trong các khu vực giải phóng, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và trao đổi hàng hóa, hoàn toàn dựa trên lợi ích của người dân.

Ngày 1 tháng 12 năm 1948, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc tuyên bố thành lập tại thành phố Trạch Gia Trang, tỉnh Hà Bắc. Nam Hán Thần được bổ nhiệm làm thống đốc và chính thức phát hành loại tiền “nhân dân tệ”.

Để không làm tổn hại lợi ích của người dân trong quá trình thống nhất tiền tệ, chính phủ áp dụng nguyên tắc “tỷ giá cố định, lưu thông hỗn hợp, từng bước thu hồi và chịu trách nhiệm đến cùng”, dần dần tiến hành thu hồi những loại tiền tệ của các khu vực giải phóng.

Căn cứ theo mức vật giá của từng khu vực giải phóng, chính phủ thiết lập tỷ giá hợp lý giữa đồng nhân dân tệ và tiền tệ khu vực, đồng thời yêu cầu các chính quyền khu vực chấm dứt phát hành tiền riêng, và các ngân hàng phải tiến hành thu hồi tiền theo tỷ giá quy định. Như vậy, các mối quan hệ kinh tế giữa các khu vực riêng biệt ban đầu nhanh chóng được điều chỉnh. Sự xuất hiện của nhân dân tệ tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông thị trường.

Để loại bỏ những nỗi e ngại của người dân, như “nhỡ không kịp đổi tiền tệ khu vực sang nhân dân tệ thì lượng tiền cũ trong tay sẽ thành giấy vụn”, chính phủ cam kết không chỉ chịu trách nhiệm đối với loại tiền mới của Ngân hàng Nhân dân mà còn đối với tất cả các loại tiền cũ do ngân hàng phát hành. Trong tương lai, chính phủ không chỉ chịu trách nhiệm thu hồi tiền tệ phát hành trong kháng chiến chống Nhật và chiến tranh giải phóng, mà còn thu hồi tiền tệ, kỳ phiếu và công trái phát hành trong thời kỳ Cải cách ruộng đất với mức giá hợp lý. Điều đó đảm bảo lợi ích của người dân không bị tổn hại, từ đó thiết lập uy tín của đồng nhân dân tệ trong xã hội.

Bộ tiền nhân dân tệ đầu tiên
Bộ tiền nhân dân tệ đầu tiên

Trước ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chính phủ liên tiếp thu hồi tiền tệ do các khu vực giải phóng phát hành thông qua nghiệp vụ ngân hang, trưng thu tài chính và hỗ trợ thương mại, tạo nền tảng vững chắc cho việc thống nhất tiền tệ, tránh hiện tượng đủ loại tiền tệ của các khu vực giải phóng lưu hành hỗn loạn tại thủ đô.

Tình hình kinh tế trong nước ổn định, năm 1950, tiền tệ khu vực Đông Bắc bắt đầu thu hồi. Ban lãnh đạo chủ trì công tác vùng Đông Bắc muốn toan tính độc lập, nên chỉ thị cho thống đốc Ngân hàng Đông Bắc đề nghị bảo lưu tiền tệ Đông Bắc, nhưng bị Nam Hán Thần chất vấn nên rút lại.

Đến thời điểm này, kể từ năm 1911, Trung Quốc lần đầu tiên thực sự thống nhất tiền tệ quốc gia. Vấn đề “cát cứ tiền tệ” suốt 40 năm qua của nước này đã được loại bỏ triệt để.

Ngoài việc từng bước thống nhất trong nội bộ khu vực giải phóng, để đảm bảo lưu thông nhân dân tệ, chính phủ đã học hỏi kinh nghiệm trục xuất tiền pháp định ở các khu vực căn cứ địa, áp dụng các biện pháp “thải độc” khác nhau đối với Kim viên khoán(62), ngoại tệ và vàng bạc trong khu vực lưu thông nhân dân tệ.

  1. Đầu tiên là kiên quyết xóa tiền pháp định và Kim viên khoán. Đây là thủ phạm dẫn đến siêu lạm phát, bắt buộc phải giải quyết triệt để, mở đường cho nhân dân tệ chiếm lĩnh thị trường.
  2. Thứ hai là thực hiện quản lý ngoại hối: hủy bỏ quyền phát hành tiền tệ của các ngân hàng nước ngoài, cấm lưu thông ngoại tệ và thực hiện quản lý ngoại hối thống nhất. Cả nội tệ và ngoại tệ đều phải gửi vào Ngân hàng Trung Quốc, các giao dịch mua bán, chuyển nhượng đều bị cấm và Ngân hàng Nhà nước sẽ nắm quyền quản lý thống nhất.
  3. Thứ ba, nghiêm cấm lưu thông vàng và bạc. Siêu lạm phát khiến vàng bạc được định giá và lưu thông trên thị trường, trở thành mục tiêu chính của những kẻ đầu cơ tài chính. Đây cũng là trở ngại chính trong quá trình chiếm lĩnh thị trường của nhân dân tệ.

Chú thích:

(62) một dạng tiền được bổ trợ bằng vàng, thực hiện thanh toán dựa trên giá vàng.

Chính phủ nghiêm cấm lưu thông vàng bạc, quy định rằng việc mua bán và trao đổi vàng bạc sẽ do Ngân hàng Quốc gia thống nhất xử lý. Việc tự ý giao dịch và định giá là hành vi bất hợp pháp. Đối với vàng bạc người dân đang nắm giữ, Ngân hàng Quốc gia sẽ mua lại với mức giá phù hợp. Vàng bạc từng bước tập trung về ngân hàng quốc gia để làm quỹ dự trữ quốc tế.

Song, khi nhân dân tệ mới phát hành, nó chỉ có thể giải quyết vấn đề thống nhất tiền tệ toàn quốc, chứ chưa kịp giải quyết vấn đề ổn định tiền tệ. Năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chiến thắng toàn diện trong chiến tranh giải phóng. Chi tiêu tài khóa tăng vọt, chính phủ buộc phải phát hành một số lượng lớn nhân dân tệ để vù đắp thâm hụt. Lạm phát là không thể tránh khỏi và xảy ra nhiều lần ở các mức độ khác nhau.

Lạm phát và thế lực đầu cơ tương tự như mối quan hệ giữa lửa và gió. Một ngọn lửa không có gió thì không phải là vấn đề, nhưng lửa mượn sức gió, gió giúp lửa lan thì sẽ khiến cho tình trạng lạm phát trở nên nghiêm trọng. Nhiệm vụ cốt lõi của việc chống lạm phát là chống lại các thế lực đầu cơ.

Tại Thượng Hải – trung tâm kinh tế của Trung Quốc, chính phủ nước này và các thế lực đầu cơ nổ ra cuộc chiến tranh đoạt vật giá với quy mô lớn. Giữa những cơn đau nhức nhối do lạm phát gây ra, chính phủ cuối cùng đã đánh gục các thế lực đầu cơ để ổn định đồng nhân dân tệ và vật giá.

Trích "Chương 8, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét