BIÊN GIỚI TÀI CHÍNH VÀ QUỐC TẾ HÓA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ - phần 8

MẠNG LƯỚI TÀI CHÍNH TOÀN CẦU CỦA RMB

Trong thế kỷ XIX, các chủ ngân hàng Do Thái bắt đầu khởi sự ở Đức và nhanh chóng đi khắp thế giới, thành lập một tập đoàn tài chính Do Thái với nòng cốt là gia tộc Rothschild. Ở Anh có gia tộc Barings; ở Đức bao gồm gia tộc Oppenheimer Mendelssohn, Bresclauer, Warburg, Erlanger; Pháp gồm có gia tộc Fould, Heine, Bellella, Worms, Stern; Mỹ có các gia tộc Belmont, Seligman, Schiff, Warburg, Lehman, Kuhn Loeb và Gorman. Những gia tộc này đã hình thành nên tình thế tác chiến của những tập đoàn quân, liên tục so kè hoặc liên hôn với nhau, đan xen lợi ích, dần dần hình thành nên một mạng lưới tài chính dày đặc khiến người ngoài ngày càng khó lọt vào vòng tròn này.

Rõ ràng là Trung Quốc đã đánh mất cơ hội lịch sử để xây dựng mạng lưới tài chính trên toàn thế giới. Mặc dù các ngân hàng quốc doanh của Trung Quốc “có số có má” trên bảng xếp hạng của các tổ chức tài chính toàn cầu về vốn hóa thị trường của các công ty niêm yết, thế những các ngân hàng Trung Quốc có rất ít chi nhánh quốc tế. Nếu không có một mạng lưới tài chính dày đặc trên toàn cầu, sẽ không thể xây dựng một hệ thống tài chính kết nối ngân hàng trung ương – nơi tạo ra đồng nhân dân tệ với động mạch chủ và mao mạch là những khách hàng cuối sử dụng đồng tiền này.

Việc quốc tế hóa nhân dân tệ tuyệt đối không phải là một chủ đề theo kiểu “được chăng hay chớ” mà các học giả mang ra bàn luận suông, hay chỉ đơn giản là tăng cường dự trữ nhân dân tệ hoặc thanh toán thương mại bằng đồng tiền này ở các quốc gia khác nhau. Như vậy thì còn lâu mới thực hiện được việc kiểm soát các kênh lưu thông đồng tiền này, bởi vì người dùng nhân dân tệ cuối cùng không thể tiếp cận được, và họ phải dựa vào mạng lưới tài chính có sẵn do các tập đoàn tài chính quốc tế kiểm soát chặt chẽ.

Các ngân hàng quốc tế phải mất gần 300 năm liên tục “thanh toán” và cạnh tranh lẫn nhau để tạo ra hệ thống kênh tín dụng và mạng lưới tài chính toàn cầu, há lại cho Trung Quốc sử dụng miễn phí? Muốn sử dụng kênh của người khác thì tất nhiên là phải nộp phí. Miễn là có dòng tiền chảy qua mạng lưới này thì bắt buộc phải nộp “tiền mãi lộ”, không những vậy phải nộp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu chiến lược biên giới tài chính của Trung Quốc không thể mở rộng ra toàn thế giới, vậy thì quyền kiểm soát lưu thông nhân dân tệ vẫn sẽ nằm trong tay những người khác.

Ai kiểm soát các kênh tín dụng và dòng vốn của thế giới, người đó chính là kẻ thiết lập nên quy tắc của trò chơi! “Kênh là vua” quả thực là một chân lý “đau thương” trên thị trường tài chính.

Việc các ngân hàng quốc doanh của Trung Quốc đi ra nước ngoài xây dựng một mạng lưới tài chính toàn cầu quả thực là “khó hơn lên trời”. Đặt một chân vào mạng lưới tài chính thế giới hiện tại chắc chắn sẽ phải hứng chịu những đợt tấn công ồ ạt từ các tập đoàn hưởng lợi từ lâu đời. Dưới áp lực của các tập đoàn này, chính phủ sẽ thực hiện các thủ đoạn khác nhau như hạn chế, phòng ngừa và trì hoãn để ngăn chặn việc xây dựng mạng lưới tài chính toàn cầu của Trung Quốc. Điều này liên quan đến cả lợi ích kinh tế to lớn và lợi ích cốt lõi của chiến lược tài chính. Những thế lực cổ vũ cho thương mại tự do và thị trường mở của phương Tây sẽ “phơi bày hung tướng” trong lĩnh vực cốt lõi này.

Hiện tại, các ngân hàng quốc doanh có hai mô hình thiết lập mạng lưới toàn cầu: một là mô hình Ngân hàng Trung Quốc và một là mô hình Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC). Ngân hàng Trung Quốc tận dụng lịch sử lâu đời của nó, đặc biệt là kinh nghiệm tích lũy gần 100 năm trong kinh doanh quốc tế và có hơn 30 chi nhánh trên toàn thế giới, rất nhiều trong số đó đã tồn tại từ trước năm 1949. Cho dù như vậy, những nỗ lực của Ngân hàng Trung Quốc trong việc mở thêm chi nhánh ở các quốc gia khác trong những năm gần đây không mấy suông sẻ. Bởi lẽ nguồn lực về kênh tài chính trên thế giới từ lâu đã kết thúc kỷ nguyên “chia chác lãnh thổ”, những kẻ đến sau muốn nhòm ngó miếng bánh này, chắc chắn sẽ không thể dễ dàng. Nhưng lợi thế của mô hình Ngân hàng Trung Quốc là nó hoàn toàn có thể kiểm soát 100% hoạt động của các chi nhánh và độ tin cậy các nút mạng như vậy.

Mô hình Ngân hàng Công thương Trung Quốc là mua lại các ngân hàng từ các quốc gia ở nước ngoài. Ví dụ, việc mua lại Ngân hàng South African Standard có thể coi là một ví dụ thành công. Trong những năm gần đây, Ngân hàng Công thương Trung Quốc mở rộng đáng kể số lượng chi nhánh ở nước ngoài thông qua việc sáp nhập và mua lại. Ưu điểm nổi trội của mô hình này là “nhanh”. Vấn đề của nó là làm thế nào có thể tích hợp sử dụng hiệu quả nguồn lực của các ngân hàng địa phương, bao gồm văn hóa doanh nghiệp, sắp xếp nhân sự, thanh lý nợ, thích ứng với luật pháp và quy định của địa phương. Đối với tương lai của hai mô hình, vẫn còn khó để đánh giá ưu và nhược điểm, đòi hỏi phải kiểm nghiệm theo thời gian.

Từ lịch sử phát triển của tài chính thế giới, đối tượng phục vụ đầu tiên của tài chính là thương mại, việc huy động và trao đổi nguồn vốn thương mại đã trở thành một phương thức mở rộng quan trọng của tài chính. Năm xưa, Ngân hàng Hội Phong được thành lập tại Trung Quốc với mục đích trở thành “Ngân hàng Anh” của thuộc địa, cung cấp dịch vụ tài chính cho các tiệm buôn nước ngoài tại Trung Quốc, và trên thực tế là thực thi quyền lực của ngân hàng trung ương.

Hàng hóa Trung Quốc ngày nay được bán cho tất cả các nơi trên thế giới. Có thể nói Trung Quốc là một siêu cường tầm cỡ thế giới về ngoại thương, nhưng tổ chức tài chính của nước này không theo kịp tiến trình của thương mại quốc tế. Khi hàng hóa được đưa lên kệ của các nước trên thế giới, các tổ chức tài chính Trung Quốc vẫn đang mải miết luẩn quẩn trong nội địa. Trong quá trình mở rộng toàn cầu, các công ty thương mại và các doanh nghiệp của Trung Quốc hầu như không nhận được sự hỗ trợ về dịch vụ tài chính địa phương từ các tổ chức tài chính trong nước. Họ phải dựa vào các ngân hàng địa phương hoặc ngân hàng đa quốc gia để xử lý tất cả các dịch vụ tài chính như trao đổi, tín dụng và tiền gửi, phó mặc cho những khoản lợi nhuận khổng lồ đó rơi vào túi người khác. Đánh giá từ tổng quy mô xuất nhập khẩu của Trung Quốc, quy mô tài chính và cơ hội thu lợi liên quan đến quá trình này thực sự là “miếng bánh béo bở mà bất cứ thế lực nào cũng phải tranh giành”.

Đối với các tổ chức tài chính quốc hữu có quy mô lớn, một con đường phát triển thực tế hơn là tham khảo mô hình “thương xã tổng hợp” của Nhật Bản. Trong các thương xã tổng hợp của Nhật Bản, các tổ chức tài chính như bảo hiểm, ngân hàng và các công ty công nghiệp luôn duy trì trạng thái “hiệp đồng tác chiến” hợp tác cực kỳ chặt chẽ. Họ sẽ cùng nhau hành động để xâm chiếm thị trường và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Trung Quốc nên tham chiếu nguyên tắc “mở cửa bình đẳng”, nghĩa là tất cả các nước có tổ chức tài chính ở Trung Quốc cũng phải mở cửa cho các tổ chức tài chính Trung Quốc. Các tổ chức tài chính này có thể bắt đầu với việc huy động tài chính phục vụ cho các doanh nghiệp và công ty thương mại Trung Quốc ở nước ngoài và dần dần đi sâu vào hoạt động kinh tế địa phương.

Căn cứ vào tốc độ và hiệu quả triển khai của chiến lược này, nhiệm vụ thiết lập một mạng lưới tài chính toàn cầu có lẽ sẽ khó có thể phát huy hiệu quả trong ngắn hạn.

Để có thể phá vỡ tình trạng tiến thoái lưỡng nan của mạng lưới tài chính hiện nay, ngoài mô hình “quân chính quy” ra, Trung Quốc còn có lối đánh du kích, phát triển mạng lưới tài chính ngay ở vùng “địch hậu”.

Một trong những thế mạnh lớn của nước này nằm ở cộng đồng doanh nghiệp đang phân bố trên toàn cầu. Họ đưa hàng hóa Trung Quốc đến mọi ngốc ngách trên thế giới. Khuyến khích và hỗ trợ người dân địa phương thành lập nhiều loại tổ chức tài chính, cung cấp cho họ các dịch vụ hỗ trợ tín dụng và sử dụng các kênh thương mại của họ để thiết lập các kênh tài chính. Nó tương tự như việc hệ thống hiệu buôn Sơn Tây năm xưa đã lột xác trở thành hệ thống phiếu hiệu Sơn Tây. Bởi các hiệu buôn này hoạt động kinh doanh ở địa phương trong suốt thời gian dài, họ rất quen thuộc với môi trường kinh doanh và có một lượng khách hàng cơ sở ổn định. Trong số đó, có rất nhiều bậc kỳ tài kinh doanh không hề thua kém vị đại thủ quỹ Lôi Lý Thái của hệ thống phiếu hiệu Nhật Thăng Xương ở Sơn Tây năm xưa. Họ hoàn toàn có khả năng chuyển đổi thành các tổ chức tài chính. Giống như khi khởi nghiệp kinh doanh ở nước ngoài, người Do Thái mở ngân hàng, người Hàn Quốc mở trung tâm mua sắm và người Trung Quốc mở nhà hàng. Quần thể những người khởi nghiệp thường có hiệu ứng hội tụ. Một khi thành công, nó sẽ ngay lập tức hình thành hiệu ứng thị phạm. Ai dám khẳng định rằng sẽ chẳng có ai trong số những người Trung Quốc đó có thể tạo ra một tổ chức tài chính địa phương? Miễn là họ có thể nhận được sự hỗ trợ tài chính phù hợp, những doanh nhân này rất có khả năng tạo ra một mô hình mạng lưới tài chính mới, trở thành hệ thống “phiếu hiệu Sơn Tây” đương đại và có thể “hội thông thiên hạ” (trao đổi tiền tệ cho cả thiên hạ).

Cuối cùng, các mạng lưới này sẽ cung cấp nhiều dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp và người Trung Quốc đang kinh doanh ở địa phương và chấp nhận sự giám sát và quản lý tài chính ở nước sở tại. Họ có thể cung cấp cho người dân địa phương các khoản vay thế chấp, trao đổi thương mại, tiền gửi và các nghiệp vụ trung gian khác. Các tổ chức tài chính Trung Quốc duy trì sự trao đổi tín dụng với họ, vừa có thể nuôi dưỡng các mạng lưới tài chính khổng lồ ở nước ngoài, mở rộng các dịch vụ tài chính, vừa có thể giúp cho dự trữ ngoại hối – một vấn đề đang khiến chính phủ Trung Quốc đau đầu, có thể phát huy công dụng lớn hơn.

Năm xưa, 5 nhà cách mạng như Mao Trạch Đông tối đa cũng chỉ học hết tiểu học, không hề có kinh nghiệm tài chính mà vẫn có thể tạo ra một kỳ tích khiến bất cứ ai cũng phải thán phục là thiết lập nên Ngân hàng Đỏ. Vậy thì ngày nay trong số các doanh nhân Trung Quốc trên khắp thế giới có cả những du học sinh với bằng tiến sĩ và từng có kinh nghiệm công tác tại các tổ chức tài chính lớn, bên cạnh đó là vô số những nhà khởi nghiệp từ tay trắng với đức tính chịu thương chịu khó, cần cù hiếu học, sự kết hợp hữu cơ giữa hai đối tượng này có thể sẽ tạo nên một quần thể hoàn toàn mới mẻ - một quần thể chủ ngân hàng người Hoa ở hải ngoại chưa từng có trước đây.

Việc quảng bá mô hình này có thể giúp Trung Quốc thiết lập mạng lưới lưu thông nhân dân tệ của riêng mình và mở rộng các xúc tu tài chính đến bất kỳ nơi nào trên thế giới.

Khi nguồn vốn dư thừa của Trung Quốc bắt đầu mở rộng trên toàn cầu do thiếu cơ hội đầu tư ở trong nước, nguồn vốn khổng lồ và khô cằn đó sẽ tích cực tìm kiếm các mỏ, rừng, trang trại, tài nguyên nước, công nghệ được cấp bằng sáng chế, nhà máy, viện nghiên cứu hoặc công nghệ y tế trên thế giới. Các chủ ngân hàng Trung Quốc ở địa phương sẽ trở thành một kho tàng tài nguyên mạng lưới khổng lồ.

Nguyên nhân giúp cho bóng bàn của Trung Quốc “độc bá thế giới” là vì hàng trăm triệu người Trung Quốc cùng hòa vào cơn sóng triều này. Với tư cách là một “biên giới” mới cho sự phát triển trong tương lai của Trung Quốc, sự xuất hiện của một số lượng lớn các doanh nhân sẽ là một mắc xích không thể thiếu. Thiết lập một ngân hàng ở Trung Quốc có thể là điều rất đỗi khó khăn, nhưng lại là điều tương đối đơn giản ở nước ngoài. Trong lĩnh vực kinh doanh tài chính, người Do Thái là hình mẫu của Trung Quốc. Ai dám chắc rằng chỉ có người Do Thái mới có thể độc chiếm ngành tài chính thế giới? Một khi người Trung Quốc hiểu rõ những lợi ích to lớn của tài chính, với sự hỗ trợ tương ứng, họ cũng có tiềm năng của “một mồi lửa nhỏ biến thành ngọn lửa liêu nguyên”.

Rồi sẽ có một ngày khi người Hoa ở nước ngoài nói về tinh thần kinh doanh, họ nói: “Tôi đã tìm thấy một khoản đầu tư. Tại sao chúng ta không mở một ngân hàng?”

Ngày Trung Quốc trở thành một cường quốc tài chính thế giới sớm muộn sẽ đến!

Trích "Chương 9, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét