BIÊN GIỚI TÀI CHÍNH VÀ QUỐC TẾ HÓA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ - phần 10 - hết

THỜI “XUÂN THU CHIẾN QUỐC” CỦA TIỀN TỆ ĐANG TỚI GẦN

Các hoạt động của xã hội nhắm đến hai điều: một là tạo ra của cải, và thứ hai là phân phối của cải. Hiệu quả của việc tạo ra của cải và sự cân bằng của phân phối của cải sẽ quyết định quỹ đạo của nền văn minh. Không tạo ra của cải, thì cũng không có phân phối của cải.

Nếu nói rằng nền kinh tế thực thể tập trung vào lao động, sản xuất, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và thương mại sẽ chịu trách nhiệm tạo ra của cải, vậy thì sẽ có hai hình thức phân phối của cải. Một là hệ thống phân phối tài chính cấu thành từ tiền tệ, tín dụng, thuế, công cụ tài chính và thị trường tài chính. Hai là hệ thống phân phối bạo lực thông qua chiến tranh, cướp bóc, lừa đảo và thuộc địa.

Lớn như một quốc gia hay nhỏ bé như một cá nhân, có hai cách để sở hữu của cải: một là tạo ra nó thông qua lao động tự thân, hai là chia sẻ nó thông qua hệ thống phân phối. Một đất nước mạnh và một xã hội hài hòa phải tìm được điểm cân bằng ổn định trong các quy tắc trò chơi về tạo ra và phân phối của cải.

Xét cho cùng, của cải là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có tổ chức và hiệu quả của con người. Thông qua quá trình lao động, các sản phẩm và dịch vụ khác nhau được tạo ra để đáp ứng nhu cầu cuối cùng của xã hội. Nó chính là sự tích hợp các yếu tố tĩnh khác nhau trong quá trình lao động năng động để cuối cùng tạo thành của cải, vì vậy lao động mới chính là ngọn nguồn của của cải.

Lao động cho phép chúng ta duy trì thói quen sống và làm việc tích cực. Sự hăng say lao động của con người luôn xoay quanh cách giảm chi phí sản xuất, sử dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất và từ đó tạo ra nhiều sản phẩm hơn. Lao động cho phép chúng ta duy trì và tiếp tục tăng cường năng lực tạo ra của cải. Trên thực tế, tạo ra của cải quan trọng hơn nhiều so với việc sở hữu của cải.

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, Đế chế Tây Ban Nha hùng mạnh từng sở hữu 18.000 tấn bạc và hơn 200 tấn vàng, chiếm 80% tổng số vàng và bạc của thế giới, có thể coi họ là “Phú giáp thiên hạ” (giàu nhất thiên hạ). Cả thế giới phải phục vụ cho Tây Ban Nha. Khi một quốc gia có quá nhiều của cải, chính của cải sẽ làm xói mòn khả năng tạo ra của cải của quốc gia đó.

Năm 1545, lượng tồn đọng các đơn đặt hàng từ Thế giới mới nằm trong tay các nhà sản xuất Tây Ban Nha lên tới 6 năm. Dưới sự bảo vệ của các lực lượng quân sự hùng mạnh, các đơn đặt hàng ở nước ngoài này chỉ có thể do Tây Ban Nha sản xuất, lợi nhuận khổng lồ hoàn toàn nằm trong tầm tay họ. Lượng của cải quá lớn đã tước đi tinh thần cần cù, chịu khó và khát vọng theo đuổi những hoạt động sản xuất gian nan, vất vả của người Tây Ban Nha. Các nhà sản xuất này bắt đầu ký kết một lượng lớn các hợp đồng bao thầu sản xuất. Ngành dệt may của Anh, các nhà máy đóng tàu của Hà Lan, các trang trại của Ý và các tàu đánh cá Bắc Âu lũ lượt tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất vất vả, gian khổ.

Các nhà sản xuất Tây Ban Nha dán nhãn mác riêng của họ lên các sản phẩm cuối cùng và xuất khẩu sang các nước, tạo thành các mô hình sản xuất bao thầu và gia công sớm nhất. Hậu quả của nó là, người Anh – với bản tính cần cù, dũng cảm và luôn truy cầu sự tối ưu hóa trong công việc, đã sử dụng rộng rãi công nghệ tiên tiến và mô hình tổ chức sản xuất mới, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường của cải và sự sáng tạo của chính họ. Cuối cùng, họ đã nắm được nguồn của cải không lồ và chiếm lấy ngai vàng bá quyền thế giới của Đế chế Tây Ban Nha – do bành trướng quá đà, nên sản xuất bị thu hẹp, tài khóa bị phá sản và nạn thất nghiệp trầm trọng.

Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Anh trỗi dậy từ ngành công nghiệp chế tạo, đã đạt đến những phạm vi ảnh hưởng chưa từng có trong lịch sử sau khi giành quyền bá chủ quân sự và tài chính hàng hải toàn cầu. Ở châu Phi, phạm vi ảnh hưởng của Anh bao trùm hầu hết lục địa này. Có tới 21 quốc gia “thuần phục” Đế quốc Anh, và một số lượng lớn nguyên liệu thô và tài nguyên thiên nhiên bị nước Anh tùy ý sử dụng. Ở Trung Đông, Anh kiểm soát các khu vực rộng lớn từ Palestine, Ả Rập Saudi, Iran và Iraq, nắm giữ nguồn dầu Trung Đông. Ở châu Á, họ cai trị một vùng rộng lớn từ Ấn Độ (bao gồm Pakistan), Malaysia (bao gồm Singapore) đến Myanmar, Hồng Kông, Trung Quốc. Những nguồn nhân lực khổng lồ, tài nguyên thiên nhiên và các cung đường chiến lược đều bị nước này kiểm soát chặt chẽ. Tại châu Đại Dương, các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung như Úc và New Zealand trở thành những điểm hậu thuẫn nguyên liệu thô cho ngành công nghiệp của Anh. Ở châu Mỹ, Canada, Guyana, Jamaica và Bahamas trở thành nguồn cung vô tận cho Anh, từ các căn cứ hải quân cho đến tài nguyên thiên nhiên.

Với tư cách là một bá chủ toàn cầu, Anh một lần nữa phải đối mặt với sự lựa chọn tương tự Đế quốc Tây Ban Nha khi xưa. Đó là tiếp tục tạo ra của cải thông qua tinh thần lao động gian khổ, cần cù của chính mình, hay sẽ sử dụng quyền bá chủ quân sự và tài chính để “chia sẻ” thành quả lao động của người khác? Của cải một lần nữa làm xói mòn sự sáng tạo của cải. Người Anh giàu có lúc này cảm thấy mệt mỏi với những công việc lao động nhàm chán và gian khổ. Họ bắt đầu đầu tư vào Mỹ trên quy mô lớn, xuất khẩu công nghệ sản xuất công nghiệp, để người Mỹ thay mình làm những việc khổ công và vất vả. Còn bản thân họ ngồi hưởng những khoản lợi tức đầu tư khổng lồ, hưởng thụ “cuộc sống tươi đẹp” của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Tại thời điểm này, Vương quốc Anh quyết định chi nguồn vốn trên thế giới, lũng đoạn giá cả tài nguyên thế giới, kiểm soát dòng chảy của các đơn đặt hàng trên toàn câu, phân chia nhu cầu thị trường thế giới, bảo vệ các kênh thương mại và vận chuyển. Năm điểm cao chiến lược này đã bóp chặt cổ họng của Mỹ. Mỹ sẽ luôn là công xưởng sản xuất toàn cầu của Đế quốc Anh, và cổ đông kiểm soát công xưởng sản xuất này vẫn sẽ là nguồn vốn tư bản của Anh. Nói tóm lại, Anh tự đặt mình là nhà tổ chức thị trường toàn cầu, trong khi Mỹ chỉ là nhà sản xuất. Chừng nào chưa xảy ra một cuộc chiến tranh quy mô lớn làm đảo điên toàn bộ thế giới, Anh sẽ không phải lo lắng về việc Mỹ âm mưu “soán ngôi” mình.

Kết quả là, hai cuộc chiến tranh thế giới đã ném hoàn toàn giấc mơ “Mặt trời không bao giờ lặn” của Anh vào bảo tàng lịch sử.

Lịch sử luôn xảy ra những sự tương đồng khiến cho chúng ta phải kinh ngạc. Khối tài sản khổng lồ và sự sáng tạo do “Đế quốc Mỹ” tạo ra sau 200 năm làm việc chăm chỉ đang bị xói mòn bởi nguồn của cải mà họ từng dễ dàng sở hữu. Năm 1971, khi Nixon tuyên bố rằng đồng đô-la sẽ tách ra khỏi vàng, Mỹ nắm trong tay một quyền lực khổng lồ mà Tây Ban Nha và Anh không bao giờ có thể tưởng tượng được, đó chính là phát hành đồng đô-la! Năm xưa Tây Ban Nha muốn sở hữu của cải, họ vẫn phải đi xa và mở rộng lãnh thổ để cướp bóc vàng bạc. Anh cũng phải dùng “đồng bảng Anh trung thực” đi đầu tư nhằm có được đặc quyền lợi nhuận. Còn nước Mỹ giờ đây chỉ cần in đô-la là có thể dễ dàng tước đoạt nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và giá rẻ từ các quốc gia trên thế giới. Quyền bá chủ chưa từng có tiền lệ này có một sự cám dỗ không thể cưỡng lại. Nó khiến cho mọi sự lao động trung thực đều trở nên dư thừa. Nó kích thích sự mở rộng điên cuồng của trò chơi vơ vét của cải. Nó lật đổ hệ thống tinh thần Puritan – đề cao sự gian khổ khởi nghiệp của nước Mỹ trong giai đoạn lập quốc. Nó làm tan rã nền tảng công nghiệp của Mỹ với tư cách là một cường quốc. Nó làm gia tăng khoản cách giàu nghèo trên thế giới. Và nó trở thành nguồn gốc thực sự của Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008!

Rất nhiều người nghĩ rằng các vấn đề hiện tại ở Mỹ chỉ là vấn đề kỹ thuật. Hệ thống Mỹ có khả năng tự điều chỉnh, tự sửa sai hết sức mạnh mẽ. Giống như các cuộc khủng hoảng khác trong lịch sử Mỹ, cuối cùng họ vẫn có thể “quá độ” thành công. Trên thực tế, cuộc khủng hoảng ở Mỹ không mang tính hệ thống, mà nó còn nghiêm trọng hơn, đó là toàn bộ đất nước dần bị xói mòn bởi khối tài sản khổng lồ và sẵn có, từ đó đánh mất nhiệt huyết với những công việc lao động gian khổ, sự sáng tạo của cải đã bị tổn thương đến mức không thể phục hồi. Thâm hụt thương mại kéo dài và ngày càng lớn kể từ năm 1971 cho thấy một cách tàn nhẫn rằng, người Mỹ đang sản xuất ngày càng ít sản phẩm có thể trao đổi với các quốc gia khác. Thu nhập đáng kinh ngạc từ thuế đúc tiền trên toàn cầu và lợi nhuận đầu tư khổng lồ đi kèm với đặc quyền phát hành đô-la khiến Mỹ không ngừng “xuất khẩu” các ngành công nghiệp trong nước. Điều này không khác Tây Ban Nha và Anh năm xưa. Trong khi thu về nguồn lợi nhuận khổng lồ, nó cũng phá vỡ khả năng tạo ra của cải của người dân đất nước này.

Trong những năm 1950 và 1960, nghề nghiệp được xã hội kính trọng nhất và nhà khoa học và kỹ sư. Trong những năm 1970 và 1980 là bác sĩ và luật sư. Từ những năm 1990 lại là các nhà tài chính Phố Wall. Nếu một sinh viên xuất sắc cảm thấy rằng khởi nghiệp ở Phố Wall sẽ kiếm được nhiều tiền hơn so với việc trở thành một nhà khoa học hoặc kỹ sư, vậy thì ai trong xã hội này sẵn sàng theo đuổi công việc nghiên cứu khó khăn hoặc cuộc sống nhà máy nhàm chán? Mỹ có thể xuất khẩu bác sĩ, nhà tài chính và luật sư sang các nước khác không? Có thể, đó là những loại thuốc đắt tiền, sản phẩm tài chính chất lượng kém và các dịch vụ pháp lý nhiêu khê và kéo dài.

Khi chiếc mặt nạ bị lột trần, cả thế giới bất ngờ phát hiện ra rằng một nước Mỹ từng có củ cà cốt và cây gậy khổng lồ, giờ chỉ còn lại cây gậy trần trụi. Có lẽ các khoản nợ khó trả lên tới 57.000 tỷ đô-la và 100.000 ty đô-la thâm hụt tiềm tàng của quỹ an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, đã tạo thành một “hồ nợ” khổng lồ. Cuối cùng cả thế giới sẽ đặt câu hỏi: Một nền kinh tế với GDP 14.000 tỷ đô-la sẽ lấy gì để trả những khoản nợ lớn gấp 10 lần này? Hơn nữa, tốc độ tăng của các khoản nợ này cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Đúng như lời giáo sư Harvard, Neil Ferguson đã chỉ ra trong bài báo Sự suy tàn của đế chế đăng tải trên tờ Newsweek của Mỹ tháng 12 năm 2009: “Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng khi 20% doanh thu tài chính của một quốc gia được sử dụng để trả cả gốc và lãi cho các khoản nợ, tài chính của đất nước đó sẽ đối mặt với một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.”

Tây Ban Nha: Từ năm 1557 đến năm 1696, gánh nặng nợ nần nặng nề dẫn đến 14 lẫn vỡ nợ quốc gia.

Pháp: Năm 1788, trước thềm Cách mạng Pháp, 62% doanh thu tài chính được sử dụng để trả nợ gốc và lãi.

Đế chế Ottoman: Năm 1875, 50% thu nhập của chính phủ được sử dụng để trả nợ gốc và lãi.

Đế quốc Anh vào đêm trước Thế chiến II: 44% doanh thu tài chính được dùng để trả nợ gốc và lãi.

Những đế chế hùng mạnh này cuối cùng lại ngã gục dưới giá thập tự mang tên nợ công quá mức. Điều gì đã gây ra tình trạng nợ quá mức như vậy? Xét cho cùng, nguyên nhân bắt nguồn từ sự suy giảm trong sáng tạo của cải và sự gia tăng chi phí để duy trì đế chế.

Khi một quốc gia dễ dàng có được của cải thì sự nhiệt tình đối với việc lao động gian khổ để tạo ra của cải sẽ càng thấp, nguồn của cải to lớn sẽ làm xói mòn động lực tạo ra của cải. Đây có lẽ chính là phép biện chứng của lịch sử.

Dự kiến, đến năm 2035, tỷ lệ nợ quốc gia của Mỹ trên GDP sẽ đạt 200%. Vào thời điểm đó, tỷ lệ doanh thu tài chính của Mỹ dùng để trả nợ gốc và lãi sẽ lên tới 46%. Đây chính là tình huống mà Anh phải đối mặt vào năm 1939! Đó là lúc Đế quốc Anh bắt đầu suy tàn.

Khi vấn đề nợ của Mỹ ngày càng trở nên tồi tệ hơn, đồng đô-la cuối cùng sẽ đi đến hồi suy thoái. Cùng với việc đồng đô-la ngày càng suy yếu trong tương lai, hệ quả tất yếu là tiền tệ thế giới sẽ bước vào thời kỳ “Xuân thu ngũ bá” và “Chiến quốc thất hùng”. Một cuộc chiến tranh giành bá chủ tiền tệ trên phạm vi toàn cầu sẽ dần mở màn trong ¼ thế kỷ tới đây.

Trích "Chương 9, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét