CẢI TỬ HOÀN SINH TIỀN TỆ KHU VỰC THIỂM-CAM-NINH
Mặt trận kinh tế ở vùng địch hậu không kém phần
khốc liệt so với mặt trận quân sự. Chính sách của chúng tôi cũng là một vũ khí
quan trọng để phát triển sản xuất và chiến tranh chống lại kẻ thù.
-Đặng Tiểu Bình-
Mùa xuân
năm 1939, Lâm Bách Cừ - chủ tích chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh nhận được một
lá thư từ Khổng Tường Hy – Bộ trưởng Bộ Tài chính và Viện trưởng Viện Hành
chính Chính phủ Quốc dân. Trong đó, ông ta nghiêm trọng chất vấn tại sao chính
quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh lại phát hành loại tiền pháp định mệnh giá 1
nguyên tệ(57) và tem phiếu cửa hiệu Quang Hoa, rồi cưỡng chế lưu hành.
Chú
thích:
(57) 1 yuan:
Trong tiếng Trung Quốc được dùng để chỉ đơn vị tiền tệ cơ bản.
Lâm Bách Cừ
trả lời: "Trong địa bàn quản hạt của mình, chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh
có tín dụng tiền pháp định rất cao, và việc lưu hành diễn ra rất suôn sẻ. Tuy
nhiên, loại tiền lẻ bổ trợ lại hết sức thiếu thốn, khiến cho vật giá tăng cao
và gây cản trở cuộc sống của người dân. Thể theo yêu cầu của Hội Nông dân, Hội
Thương mại, chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh cho phép cửa hiệu Quang Hoa phát
hành tem phiếu mệnh giá 2 xu, 5 xu và 1 giác. Đó chỉ là một biện pháp ứng phó tạm
thời để thuận tiện cho người dân, và việc lưu thông bị giới hạn trong khu vực Thiểm-Cam-Ninh.
Kể từ khi phát hành, do có sự chuẩn bị đầy đủ nên nhân dân hết sức tin tưởng,
hoàn toàn không có chuyện điều động lực lượng vũ trang để cưỡng chế lưu hành.
Các vị chỉ ngồi nghe báo cáo, nên hoàn toàn không nắm bắt được sự thực."
Thời điểm
đó, đồng tiền pháp định do Chính phủ Quốc dân phát hành cũng là tiền tệ pháp định
ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh. Như Lâm Bách Cừ nói, tiền tệ pháp định có tín dụng
cao và lưu thông thuận lợi, trong khi khu vực Thiểm-Cam-Ninh chỉ phát hành tiền
tệ bổ trợ có mệnh giá từ 1 đồng trở xuống và tem phiếu cửa hiệu Quang Hoa, vừa
không cưỡng chế sử dụng trong khu vực Thiểm-Cam-Ninh, cũng chẳng lưu thông đến
khu vực Quốc dân Đảng, cớ sao lại khiến cho Bộ trưởng Khổng của Chính phủ Quốc
dân lại nổi trận lôi đình đến vậy?
Sau "Sự
biến Tây An", Quốc dân Đảng chịu áp lực từ việc người dân cả nước yêu cầu
chiến tranh chống Nhật toàn diện và thành lập Mặt trận Thống nhất chống Nhật với
Đảng Cộng sản. Chính phủ Công-Nông dân chủ của Đảng Cộng sản đổi tên thành
Chính phủ khu vực Thiểm-Cam-Ninh và trở thành một chính phủ đặc khu nằm trong địa
bàn quản hạt của Quốc dân Đảng. Hồng quân được tổ chức lại thành Bát lộ quân và
trở thành một phần của quân cách mạng quốc dân, nhận lương thảo từ Chính phủ Quốc
dân Đảng.
Quốc dân Đảng phải móc hầu bao để hỗ trợ cho Hồng quân – đại
kình địch năm xưa của họ, thương vụ này coi như lỗ vốn. Vì vậy, Quốc dân Đảng
nhất định phải "kiếm chác" gì đó từ Đảng Cộng sản, và kiểm soát hệ thống
tài chính khu vực Thiểm-Cam-Ninh. Theo thỏa thuận ký kết giữa Quốc dân Đảng và
Đảng Cộng sản về việc không được thành lập ngân hàng ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh.
Đồng tiền pháp định do Quốc dân Đảng phát hành sẽ là loại tiền hợp pháp duy nhất
ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh, ngân hàng khu vực này không được triển khau nghiệp vụ
ngoại hối công khai, chỉ bố trí một đội ngũ nhân viên thu – chi để nhận lương
thảo, quân dụng mà Quốc dân Đảng cấp phát cho Bát lộ quân và duy trì sự lưu
thông của tiền pháp định, Và như vậy, chính quyền ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh đã mất
quyền phát hành tiền tệ!
Không có quyền phát hành tiền tệ giống như việc một người
không có khả năng tạo máu, chỉ dựa vào sự truyền máu để giữ cho cơ thể hoạt động
bình thường. Quốc dân Đảng có thể cắt nguồn cung tiền bất cứ lúc nào và khiến
khu vực Thiểm-Cam-Ninh rơi vào khủng hoảng kinh tế.
Khổng Tường Hy – một nhân vật gạo cội trong ngành tài chính
há lại không hiểu được ẩn ý sâu xa đó. Song, tiền pháp định do Quốc dân Đảng
cung cấp cho khu vực Thiểm-Cam-Ninh toàn là loại mệnh giá từ 1 đồng trở lên. Đối
với cuộc sống hằng ngày mà nói, mệnh giá như vậy là quá lớn. Thời điểm đó, 3 đồng
tiền pháp định có thể mua cả một bàn tiệc rượu hoành tráng ở Trùng Khánh. Khu vực
Thiểm-Cam-Ninh thiếu sự lưu thông của các loại tiền bổ trợ, và mọi người bất đắc
dĩ phải dùng bưu phiếu thay tiền bổ trợ. Chính phủ khu vực Thiểm-Cam-Ninh và
Chính phủ Quốc dân Đảng đã thực hiện nhiều cuộc đàm phán mà không có kết quả.
Thế nên bắt đầu tư tháng 6 năm 1938, họ đã phát hành tem phiếu dưới danh nghĩa
của cửa tiệm Quang Hoa – hợp tác xã trực thuộc ngân hàng khu vực Thiểm-Cam-Ninh.
Điều khiến Khổng Tường Hy khó chịu và sợ hãi không phải vì
tiền giấy mệnh giá nhỏ do chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh phát hành, mà là
chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh đang âm thầm phát hành tiền tệ của riêng
mình, cố gắng khôi phục chức năng “tạo máu” và muốn trở thành một hệ thống độc
lập với tiền pháp định Quốc dân Đảng. Khổng Tường Hy biết rõ, năm xưa Quốc dân
Đảng phải trả cái giá đắt đến thế nào để thống nhất tiền pháp định và loại bỏ sự
cát cứ của các thế lực quân phiệt về mặt kinh tế. Do đó, ngay khi Đảng Cộng sản
đang manh nha phát triển một loại tiền tệ độc lập, ông ta phải đề phòng nghiêm
ngặt và tra xét đến cùng.
Vì hồi đáp của Lâm Bách Cừ là hợp tình hợp lý, cộng thêm việc
ngân hàng địa phương ở các tỉnh thành của Quốc dân Đảng đã phát hành các loại
phiếu bổ trợ tiền tệ với mệnh giá nhỏ, cuối cùng Khổng Tường Hy không thể
“nghiêm túc xử lý”, đành phải phó mặc cho “sóng gió Quanh Hoa khoán” này tự
sinh tự diệt.
Từ năm 1935 đến 1939, giá trị đồng tiền pháp định của chính
phủ Trùng Khánh tương đối ổn định và tình trạng lạm phát cũng ở mức khiêm tốn.
Tuy nhiên, khi chiến tranh tiếp diễn, lượng tiêu thụ vật tư rất lớn, viện trợ
nước ngoài bị chặn và thâm hụt ngân sách bắt đầu tăng cao. Để lấp lỗ hổng thâm
hụt, chính phủ Trùng Khánh phải vận hành máy in tiền giấy và tiến hành “nới lỏng
định lượng”. Do đó, đồng tiền pháp định bắt đầu mất giá mạnh, và “con quỷ” lạm
phát được đà thể hiện sức mạnh.
Sau “Sự biến Tân tứ quân”, chính phủ Quốc dân Đảng ngừng
hoàn toàn việc viện trợ và hỗ trợ tài chính cho chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh,
và thực hiện phong tỏa kinh tế toàn diện. Cùng lúc đó, chính phủ Trùng Khánh khởi
động vũ khí tiền tệ, tung một lượng lớn tiền pháp định đã mất giá mạnh vào khu
vực Thiểm-Cam-Ninh để mua ngũ cốc và các sản vật địa phương nhằm hoán đổi lạm
phát. Kết quả là vật giá ở Diên An tăng vọt, một hộp thuốc lá có giá bán lẻ 0,1
đồng/hộp tăng lên tới 100-300 đồng/hộp. Một hộp diêm giá bán lẻ 0,05 đồng/hộp
tăng lên 50-100 đồng/hộp. Tiếng oán thán vang lên khắp nơi, nền kinh tế mậu dịch
đang bị thu hẹp, và vấn đề tiền tệ hết sức gay gắt.
![]() |
| "Biên tệ" của ngân hàng khu vực Thiểm-Cam-Ninh |
Khi ấy, biện pháp đối phó của Nam Hán Thần là trước tiên cấm lưu hành tiền pháp định ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh, nắm chặt quyền phát hành tiền tệ và quyền định giá thương mại, và ngân hàng khu vực Thiểm-Cam-Ninh đã phát hành loại tiền tệ mang tên “Biên tệ”. Đề xuất này gây ra rất nhiều tranh cãi trong đảng. Một số người phản đối cho rằng khu vực Thiểm-Cam-Ninh đang rất thiếu thốn vật tư, nếu bây giờ lại phát hành biên tệ, há chẳng khiến cho vật giá tăng cao và lạm phát càng trở nên nghiêm trọng? Hai bên tranh cãi liên miên, cuối cùng, thư ký của Ban Thư ký Trung ương – Nhậm Bật Thời, thay mặt Ủy ban Trung ương tuyên bố ủng hộ đề xuất của Nam Hán Thần. Quyết định này phản ánh đầy đủ tầm nhìn chiến lược của ban lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản. Sự hiểu biết của họ đối với tình hình tài chính nói chung không thua kém gì nhà tài phiệt Khổng Tường Hy. Lạm phát chỉ là một khó khăn tạm thời, nếu để mặc cho tiền pháp định lưu thông trong khu vực Thiểm-Cam-Ninh, thì mới khiến cho khu vực Thiểm-Cam-Ninh “nhiễm độc toàn thân” và không bao giờ yên bình.
Việc phát
hành biên tệ giúp chính quyền Thiểm-Cam-Ninh khôi phục chức năng tạo máu, trục xuất tiền
pháp định và “giải độc” cho khu vực này, đảm bảo rằng dòng máu tươi mới tự thân
không bị cản trở. Bằng cách ép tiền pháp định ra khỏi sự lưu thông, đã có chỗ
cho sự gia nhập của biên tệ và mở rộng khu vực lưu thông của nó.
Tháng 3 năm
1941, Chu Lý Trị - Chủ tịch Ngân hàng khu vực Thiểm-Cam-Ninh, chính thức nhậm chức, ông từng học
hai năm tại Khoa Kinh tế Đại học Thanh Hoa. Dựa trên một lượng lớn các cuộc điều
tra và nghiên cứu, Chu Lý Trị nhận thấy rằng, vì chính quyền Thiểm-Cam-Ninh nằm trong khu vực kinh tế lạc hậu,
trước đây đa phần phụ thuộc vào viện trợ từ bên ngoài, không chủ động phát triển
kinh tế tự thân và thuế thu rất ít. Trong thời gian ngắn hạn, không thể dựa vào
việc tăng thuế cao để bù đắp thâm hụt tài khóa do mất viện trợ từ bên ngoài. Do
đó, chỉ có thể áp dụng phương thức phát hành tiền tệ tín dụng để vượt qua khủng
hoảng tài chính và mở rộng sản xuất.
Việc phát
hành biên tệ và xóa bỏ tiền pháp định là hai mặt của một đồng xu. Tiền pháp định
bị thu hồi có thể sử dụng để thu mua nguyên liệu từ khu vực Quốc dân Đảng. Có
thể nói là “nhất tiễn hạ song điêu”, vừa có thể giảm nhẹ áp lực lạm phát, vừa
có thể thu mua vật tư ở khu vực Quốc dân Đảng, khống chế tình trạng vật giá
tăng cao ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh. Bởi vì chính quyền Thiểm-Cam-Ninh đã nắm quyền phát hành tiền tệ, nên họ không
còn rơi vào thế tuyệt vọng trong cuộc chiến tiền vệ với Quốc dân Đảng.
![]() |
| Chu Lý Trị |
Một vấn đề khác mà Chu Lý Trị phải đối mặt là vừa phát hành tiền tệ để kích thích phát triển kinh tế, nhưng cũng không được để tiền tệ lan tràn, khiến cho tình trạng lạm phát vốn đã quá mực lại càng mất kiểm soát. Làm thế nào để xử lý ổn thỏa vấn đề giữa phát hành tiền tệ và vật giá? Ông nhận thấy “lượng lưu thông hàng hóa được giả định là không đổi và lượng lưu thông tiền giấy đã tăng lên, vì vậy vật giá tăng theo. Tương tự, nếu lượng lưu thông tiền tệ trên thị trường được giả định là không đổi và lượng lưu thông hàng hóa giảm, thì vật giá chắc chắn sẽ giảm(58).”
Chú
thích:
(58)
Party History Research Office of CPC Henan Provincial Committee, Commemorating
Zhu Lizhi’s Anthology, CPC History Publishing House, 2007, trang 112.
Do đó, Chu
Lý Trị đề xuất một giải pháp hai hướng cho lạm phát: “Một mặt, cung cấp nhiều
khoản vay hơn cho ngành công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải để thúc
đẩy phát triển sản xuất. Mặt khác, phát triển tín dụng càng nhiều càng tốt, giảm
thiểu phát hành tiền tệ để biên tệ không rơi vào tình cảnh lạm phát.” Trên cơ sở
đảm bảo nguồn cung và hỗ trợ phát triển kinh tế, mục tiêu chính là ổn định giá
trị của biên tệ và thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ vừa phải.
Từ năm 1941
đến 1942, ngân hàng khu vực Thiểm-Cam-Ninh giảm 11% tỷ lệ vay tài chính của chính phủ và
chuyển sang các lĩnh vực thương mại, sản xuất và xây dựng. Chỉ tính riêng khoản
vay hỗ trợ xuất khẩu muối đã lên tới gần 10 triệu đồng. Đồng thời, sử dụng nguồn
tiền tích trữ và doanh thu bán muối của chính phủ để vực dậy tiền tệ, giảm lưu
thông tiền tệ và kiểm soát lạm phát.
Sự ổn định
và độ tin cậy của biên tệ không thể tách rời khỏi thương mại “đối ngoại” khu vực
Thiểm-Cam-Ninh, sự tăng
trưởng thương mại liên quan chặt chẽ đến “tỷ giá hối đoái” giữa biên tệ và tiền
pháp định.
Ngay sau
khi Ngân hàng khu vực Thiểm-Cam-Ninh thành lập, do hạn mức tín dụng của biên tệ không cao và khu vực lưu
thông không rộng, chính phủ đã áp dụng các biện pháp hành chính can thiệp vào tỷ
giá giữa biên tệ và tiền pháp định, dẫn đến sự xuất hiện của thị trường chợ đen
“ngoại hối”. Chu Lý Trị tin rằng để giải quyết vấn đề này thì không thể sử dụng
biện pháp ngăn cấm và phá vỡ. “Vì với chính sách ngoại hối ngày nay, tiền pháp
định của ngân hàng chỉ xuất chứ không nhập, thế nên thị trường chợ
đen là hiện tượng không thể tránh khỏi.” Chu Lý Trị thấy được bản chất của vấn
đề. Trong giai đoạn phát hành biên tệ, tiền pháp định vẫn tồn tại song song.
Biên tệ tạm thời không thể thay thế hoàn toàn tiền pháp định, vì vậy việc trao
đổi giữa hai loại tiền này là không thể tránh khỏi. Thay vì đán áp bằng hành
chính, chi bằng dẫn dắt thị trường.
Chu Lý Trị
đề xuất biện pháp thiết lập một sàn tiền tệ để giao dịch biên tệ và tiền pháp định.
Cuối năm
1941, chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh thiết lập một sàn giao dịch tiền tệ. Biên tệ
và tiền pháp định được giao dịch công khai và tự do trao đổi, Ngân hàng khu vực
Thiểm-Cam-Ninh sẽ điều
tiết giá niêm yết dựa trên cung và cầu thị trường, điều chỉnh thời gian và các
khoảng trống còn lại, hướng đến mục tiêu loại bỏ thị trường chợ đen, ổn định
giá trị của biên tệ và thương mại tài chính khu vực.
Việc mở sàn
giao dịch tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi tiền tệ và tiền
pháp định, thúc đẩy phát triển thương mại xuất nhập khẩu ở khu vực Thiểm-Cam-Ninh, đặc biệt là xuất khẩu muối và các
sản phẩm địa phương. Sàn giao dịch tiền tệ cũng đóng vai trò quan trọng trong
việc ổn định tỷ giá hối đoái giữa biên tệ và tiền pháp định, cho phép Ngân hàng
khu vực Thiểm-Cam-Ninh
chống lại tình trạng đầu cơ tiền tệ. Bằng cách ổn định và tăng tỷ giá hối đoái
của biên tệ, việc tăng cường tín dụng biên tệ đã có hiệu quả. Kết quả là ngày
càng có nhiều người chấp nhận sử dụng và nắm giữ biên tệ, phạm vi lưu thông
cũng ngày càng lớn hơn, dần dần chiếm thế thượng phong trong cuộc chiến tiền tệ
chống lại tiền pháp định.
Do đã kiểm
soát việc phát hành tiền tệ và phát triển kinh tế, nguồn cung ứng vật tư tăng
lên, sau 18 tháng nỗ lực, đến nửa cuối năm 1942, tốc độ tăng giá hàng hóa bắt đầu
chậm hơn so với tốc độ tăng trưởng phát hành tiền tệ. Không những vậy, tỷ giá
giữa biên tệ và tiền pháp định cũng tăng trở lại, từ 325:100 trong tháng 7 lên
đến 209:100 vào tháng 12. Chính quyền khu vực Thiểm-Cam-Ninh đạt được kết quả đáng mừng trong việc
ổn định vật giá, ổn định tài chính, và loại tiền tệ riêng của khu vực đã có chỗ
đứng vững chắc.
Hơn nửa thế
kỷ trước, Trương Vu Yến – một học giả tài chính nổi tiếng, đã nhận xét về những
thành tựu tài chính và tiền tệ của Khu vực Thiểm-Cam-Ninh như sau:
Tất cả
chúng tôi đều không khỏi ngạc nhiên khi thấy rằng, bất chấp sự khác biệt về quy
mô và tính phức tạp, những điều người ta thường bàn luận ngày nay như quyền bá
chủ đô-la, thiết lập đồng tiền chung châu Âu, mở rộng khu vực đồng euro, tự do
hóa tài chính, chiến tranh tiền tệ và quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, năm xưa
chính quyền biên khu Thiểm-Cam-Ninh, đặc biệt là chủ tịch ngân hàng, đều đã từng
đương đầu, thảo luận và xử lý một cách tuyệt vời. Nếu nói rằng một trong những
thách thức lớn nhất đối với Trung Quốc ngày nay đến từ lĩnh vực tiền tệ và tài
chính, thì 10 năm trước, trang sử tuyệt vời về tinh thần dám thực hành, tích
lũy kinh nghiệm, sử dụng các quy tắc và tổng kết một cách khoa học có thể cho
chúng ta rất nhiều điều bổ ích. Trong đó, còn đặc biệt bao gồm những kiến thức
đặc sắc như lý thuyết thuế đúc tiền và các lý thuyết liên quan như lý thuyết
‘khu vực lưu thông’ và ‘lạm phát’.
Cuộc chiến
tiền tệ tương tự một lần nữa được tái hiện tại căn cứ địa Sơn Đông hai năm sau
đó.


Nhận xét
Đăng nhận xét