NAM KINH – GIẤC MỘNG VỤNG VỠ - phần 5

"MAI PHỤC" THEO KIỂU TÀI CHÍNH

Vào mùa thu 1939 tại New York, Trần Quang Phủ đã phỏng vấn một chàng trai trẻ trong một nhà hàng Trung Quốc, vẻ nho nhã của anh ta luôn hàm chứa một thần thái của sự lão luyện, trải đời. Với đôi mắt sắc bén và suy nghĩ nhanh nhạy, trước những câu hỏi bằng tiếng Anh của Trần Quang Phủ, anh trả lời lưu loát cũng bằng tiếng Anh. Trần Quang Phủ âm thầm gật đầu, quả nhiên không hổ danh là trợ lý bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ kiêm cục trưởng Cục Tiền tệ, một thanh niên tài mạo song toàn do chính người bạn cũ Earl Browder của ông đích thân tiến cử. Trần Quang Phủ ngay lập tức ngỏ lời mời chàng trai trẻ đang ngồi trước mặt làm thư ký riêng, dốc lòng bồi dưỡng.

Ký Triều Đỉnh
Ký Triều Đỉnh

Chàng trai trẻ đó tên là Ký Triều Đỉnh, xuất thân danh gia vọng tộc ở Sơn Tây, có bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Columbia và là nhà nghiên cứu tại Hiệp hội Quốc tế Thái Bình Dương. Có một điều mà không nhiều người biết: Anh ta là một đảng viên gạo cội của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã gia nhập đảng trong giai đoạn "khủng bố Trắng" lên đến đỉnh điểm năm 1927. Trong quan hệ tổ chức nội bộ đảng, anh ta được đích thân Chu Ân Lai chỉ đạo trực tiếp. Em trai của ông là Ký Triều Chú – người trong tương lai sẽ đại diện cho chính phủ Trung Quốc mới làm phó tổng thư ký Hội Quốc Liên.

Trong thời gian được tổ chức phái đi học tập tại Mỹ, thông qua mối quan hệ tổ chức giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Mỹ, Ký Triều Đỉnh đã quen biết Adler – một viên chức của Văn phòng Nghiên cứu Chính sách Tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ và gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ vào năm 1935. Sau đó, Adler đã giới thiệu Ký Triều Đỉnh với nhân vật nắm thực quyền của Kho bạc Mỹ - Earl Browder. Vào thời điểm đó, Earl Browder là thành viên của Ủy ban Đối ngoại Mỹ (CFR), thấy Ký Triều Đỉnh là một nhân tài hiếm có đến từ Trung Quốc, ông liền tiến cử anh ta vào làm việc cho Hiệp hội Quốc tế Thái Bình Dương với vai trò nhà nghiên cứu.

Hiệp hội Quốc tế Thái Bình Dương là một tổ chức không hề tầm thường. Nó được thành lập tại Honolulu vào năm 1925 với tư cách là một chi nhánh của Ủy ban Đối ngoại Mỹ, bao gồm các nhân vật thuộc giai cấp tinh hoa từ các quốc gia ở Vành đai Thái Bình Dương, bao gồm Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Được tài trở bởi Quỹ Rockefeller và Quỹ Carnegie – hai tổ chức được kiểm soát bởi Liên minh Phố Wall, đại diện cho lợi ích của gia tộc Morgan và Rockefeller. Đồng thời tài trợ kinh phí cho tổ chức này là Tập đoàn Mobil Oil, Công ty AT&T, IBM (International Business Machines Corporation), General Electric, tạp chí Times, JP Morgan, Ngân hàng Citibank, Ngân hàng JP Morgan Chase và các cơ cấu khác liên quan đến Phố Wall.

Là đại diện chính của Mỹ trong tổ chức này, Earl Browder – nhân vật nắm thực quyền của Bộ Tài chính, có những sự kiến giải riêng đối với việc thiết kế hệ thống của trật tự tài chính quốc tế sau chiến tranh. Theo ông, để tránh sự tái diễn của một thảm kịch như Đại suy thoái, nên thành lập một quỹ bình ổn quốc tế với sự tham gia của các nước lớn trên thế giới. Số tiền của quỹ tối thiểu là 5 tỷ đô-la và sẽ được các nước thành viên đóng góp theo quy định, hạn mức đóng góp được xác định dựa trên dự trữ trao đổi vàng, cán cân thanh toán và thu nhập quốc dân của các quốc gia thành viên, và quỹ sẽ dùng 5 tỷ đô-la này làm tải sản đảm bảo để phát hành một đơn vị tiền tệ độc lập, gọi là "unitar". Mỗi unitar tương đương với 10 đô-la hoặc 137 grain (1 grain = 0,0648 gram vàng nguyên chất). Unitar sẽ được liên kết với đô-la và vàng. Tất cả tiền tệ của các quốc gia thành viên phải duy trì tỷ giá cố định với unitar, nếu không được thông qua với ¾ số phiếu bầu của các quốc gia thành viên trong quỹ tiền tệ của quốc gia thành viên kia sẽ không được phép mất giá. Ngoài ra, các biện pháp mang tính phân biệt đối xử như kiểm soát ngoại hối và kết toán song phương sẽ được dỡ bỏ, những khoản vay tín dụng ngắn hạn sẽ được cung cấp cho quốc gia thành viên để giải quyết vấn đề thâm hụt cán cân thanh toán của các quốc gia thành viên.

Đây là tiền thân của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổ chức chi phối trật tự tài chính toàn cầu ngày nay. Kế hoạch quỹ bình ổn quốc tế do Earl Browder đề xuất cuối cùng đã mãi mãi được ghi chép vào lịch sử tiền tệ và tài chính quốc tế với tên gọi "Kế hoạch trắng".

Earl Browder và Bộ Tài chính Mỹ là những người đã đề xuất quỹ bình ổn quốc tế, rất cần một "trường thử nghiệm" để kiểm tra xem rốt cuộc kế hoạch này sẽ phát huy hiệu quả ra sao. Vào thời điểm này, để ổn định tiền tệ, Trung Quốc đã chủ động phái Từ Tân Lục và Hồ Bút Giang tới Mỹ vào tháng 8 năm 1938 để thảo luận về việc thành lập quỹ bình ổn Trung-Mỹ. Tuy nhiên, hai chủ ngân hàng Trung Quốc chưa kịp bay ra khỏi nội địa Trung Quốc thì đã bị bắn hạ bởi các máy bay chiến đấu của Nhật Bản. Ngay trong tháng thứ hai của thảm kịch, chính phủ quốc dân – vốn rất cần sự giúp đỡ của Mỹ, đã nhanh chóng bổ nhiệm Trần Quang Phủ tiếp tục tiến hành đàm phán tại Mỹ.

Đây vốn là một kế hoạch mà Bộ Tài chính Mỹ nóng lòng triển khai, nhưng vì sức ép của các thế lực theo chủ nghĩa cô lập của Mỹ và luật pháp Trung Quốc, nên họ không thể trực tiếp cho chính phủ Trung Quốc vay. Do đó, Trần Quang Phủ, người vốn rất sành sỏi môi trường chính trị và mánh lới thương mại của Mỹ, đã đề nghị Bộ Tài chính Mỹ giao khoản vay cho một công ty đã đăng ký tại Mỹ để xúc tiến thương mại, cụ thể là Công ty Xuất nhập khẩu Toàn cầu Trung Quốc, sử dụng nền tảng đó để chuyển đổi và thành lập quỹ bình ổn trong tương lai. Chính phủ Mỹ có thể kiểm tra hồ sơ của công ty này bất cứ lúc nào. Các khoản vay này được đảm bảo bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc mà Mỹ đang thiếu, bao gồm dầu tung, thiếc và vonfram, v.v.. Xuất khẩu các tài nguyên này sẽ cho phép Trung Quốc xây dựng các ngành công nghiệp quan trọng để đáp ứng khả năng phòng thủ tối thiểu như xe tải, vận chuyển, thông tin liên lạc, các loại máy móc khai thác và nhà máy chế biến hiện đại. Sau đó, Trần Quang Phủ đã tiền hành các cuộc đàm phán chuyên sâu và chi tiết với Bộ trưởng Tài chính Mỹ Hans Morgenthau và Browder, cuối cùng đã đạt được thỏa thuận "khoản vay dầu tung" đầu tiên trị giá 25 triệu đô-la vào nửa cuối năm 1938.

Cả Browder và Trần Quang Phủ, những người đang rất nóng lòng thành lập quỹ bình ổn Trung-Mỹ, đều biết rõ rằng "khoản vay dầu tung" này chỉ là "bản demo" của việc thành lập quỹ bình ổn Trung-Mỹ trong tương lai. Browder phải cài cắm "tay trong" ở Công ty Xuất nhập khẩu Toàn cầu Trung Quốc càng sớm càng tốt. Trần Quang Phủ cũng cần tìm một người có năng lực, không chỉ có thể xử lý các công việc hằng ngày của công ty mà còn duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Bộ Tài chính Mỹ. Đúng lúc đó thì Ký Triều Đỉnh xuất hiện. Và công việc đầu tiên Trần Quang Phủ sắp xếp cho Ký Triều Đỉnh là viết báo cáo về "khoản vay dầu tung".

Năm 1944, Browder đại diện cho chính phủ Mỹ tham gia hội nghị Bretton Woods, sau khi dùng "Kế hoạch trắng" của mình để đánh bại "Kế hoạch Keynes" – đại diện cho lợi ích của Anh, ông đã bị FBI tiến hành điều tra vì nghi ngờ là gián điệp của Liên Xô. Sau đó không lâu, Browder đã qua đời một cách bí ẩn.

Trước những diễn biến khó lường của chiến sự, gần như tất cả các lộ tuyến thương mại với nước ngoài của Trung Quốc đã bị quân đội Nhật Bản cắt đứt, thực tế là hầu như chẳng còn giao dịch ngoại thương nào cả. Vì Công ty Xuất nhập khẩu Toàn cầu Trung Quốc không còn lý do nào để tồn tại, nên Trần Quang Phủ đã đưa Ký Triều Đỉnh trở về nước và đảm nhiệm chức vụ giám đốc của Ủy ban quỹ bình ổn Trung-Mỹ-Anh mới được thành lập. Ký Triều Đỉnh cũng mau chóng trở thành tổng thư ký của ủy ban này. Các thành viên chính của Ủy ban quỹ bình ổn như Trần Quang Phủ, Tập Đức Mậu và Bối Tổ Di đều là những nhà trùm sò tài chính nắm giữ nhiều vị trí khác nhau, ai nấy đều có "phe đảng" của riêng mình và rất nhiều việc khác, thế nên họ không thể dốc hết tâm sức để xử lý các công việc hằng ngày của Ủy ban, nên hoạt động hàng ngày của quỹ hoàn toàn do Ký Triều Đỉnh kiểm soát. Trong khi vào thời điểm đó, Quỹ bình ổn gần như tương đương với Ngân hàng Trung ương thực tế của Trung Quốc, vì vậy có thể nói vị "gián điệp cộng sản" đang nằm vùng rất sâu này thực sự có quyền cao chức trọng.

Điều kỳ quặc hơn nữa là Ký Triều Đỉnh không chỉ hô mưa gọi gió trong Ủy ban quỹ bình ổn, một thời gian sau ông còn trở thành tổng thư ký của Ũy ban Quản lý Ngoại hối dưới sự kiểm soát của Khổng Tường Hy. Hóa ra ở vị trí của mình, Ký Triều Đỉnh đã hết sức nhạy bén khi phát hiện ra rằng giữa hai ủy ban này, đặc biệt là giữa Trần Quang Phủ và Khổng Tường Hy, cán cân quyền lực sớm muộn gì cũng sẽ nghiêng về Khổng Tường Hy. Để ẩn vào một vị trí sâu hơn, ông nhất định phải tận dụng mâu thuẫn giữa hai người họ, điều chỉnh chiến lược của mình một cách kịp thời và nhảy sang phe của Khổng Tường Hy. Mặc dù tài năng, đạo đức và sự thu hút cá nhân của Trần Quang Phủ trội hơn hẳn so với Khổng Tường Hy, hai bên vẫn có mối quan hệ gần gũi suốt hơn hai năm. Giữa hai người từ lâu có một tình bạn sâu sắc, mặc dù việc phản bội Trần Quang Phủ khiến Ký Triều Đỉnh hết sức đau đớn, thế nhưng vì đại nghĩa, ông bắt buộc phải làm điều đó.

Sau khi quân đội Nhật chiếm được Hồng Kông, Quỹ bình ổn ban đầu được mở tại đây bất đắc dĩ phải chuyển đến Trùng Khánh, và văn phòng nằm ngay trong tòa nhà Ngân hàng Trung ương. Còn các nhân viên của quỹ bình ổn, bao gồm cả Ký Triều Đỉnh thì sống ở tòa nhà nằm trong khuôn viên biệt phủ của Khổng Tường Hy tại thị trấn Phạm Trang, mạn bắc Trùng Khánh. Ký Triều Đỉnh chiếm được "địa hình thuận lợi" và có thể tiếp xúc với Khổng Tường Hy mỗi ngày. Dựa vào mối quan hệ truyền đời giữa họ Khổng và họ Ký – hai gia tộc hào môn của vùng Sơn Tây, Ký Triều Đỉnh đã nhanh chóng thân quen với nhà họ Khổng. Chẳng lâu sau, ông đã được Khổng Tường Hy bổ nhiệm làm Tổng thư ký của Ủy ban Quản lý Ngoại hối.

Trong toan tính của Khổng Tường Hy, Ký Triều Đỉnh và Adler, đợi đến khi khoản vay "ba không" trị giá 500 triệu đô-la này được sắp xếp ổn thỏa, vừa hay có thể dùng Ký Triều Đỉnh để thay Trần Quang Phủ giao thiệp với người Mỹ, hoàn toàn gạt Trần Quang Phủ ra khỏi cuộc chơi. Ký Triều Đỉnh cũng là đồng hương Sơn Tây, còn là hậu duệ của một danh gia có mối quan hệ thân mật truyền đời với gia tộc của mình, đã từng theo nghiệp bút nghiên ở Mỹ, có mối quan hệ mật thiết với giới thượng lưu Mỹ, đã vậy năng lực nghiệp vụ lại thực sự cao siêu, không trọng dụng một nhân tài "đáng tin cậy, đáng dựa dẫm, đáng để dùng" như vậy thì còn muốn tìm ai? Khổng Tường Hy nào ngờ rằng Ký Triều Đỉnh với bối cảnh xuất thân như vậy lại là một đảng viên Cộng sản! Do đó, Ký Triều Đỉnh đã nhanh chóng trở thành tâm phúc của Khổng Tường Hy và giành được sự tin tưởng cao nhất. Khổng Tường Hy thậm chí còn tặng những bộ Âu phục quý giá mà ông chưa mặc đến cho Ký Triều Đỉnh. Ngay khi Ủy ban bình ổn giá bị giải thể vào tháng 2 năm 1944, Ký Triều Đỉnh ngay lập tức trở thành giám đốc của Ủy ban Quản lý Ngoại hối.

Đến lúc này, Ký Triều Đỉnh đã trở thành nhân vật nắm quyền thiết lập chính sách tiền tệ của chính phủ quốc dân. Quyền lực nắm gọn trong tay, Ký Triều Đỉnh chuẩn bị xuất chiêu.

Trích "Chương 7, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét