VINH QUANG VÀ GIẤC MỘNG CỦA BẠC - phần 3

ĐỒNG BẠC ĐÃ TỪNG LÀ TIỀN TỆ THẾ GIỚI

Năm 1621, một doanh nhân người Bồ Đào Nha đã viết: “Bạc lưu chuyển khắp thế giới cho đến khi nó đến Trung Quốc. Nó bị giữ lại ở đó như thể nó đã đến trung tâm tự nhiên của mình.”

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, hoạt động kinh doanh chính của người châu Âu trong thương mại thế giới là bán ngược bạc, vàng và hàng hóa vì họ không có gì để bán ở các thị trường châu Á đang bùng nổ, chủ yếu là do các sản phẩm nội địa của họ không thể cạnh tranh.

Trung Quốc sử dụng bạc làm tiền tệ chính từ thời nhà Minh. Thời điểm đó, Trung Quốc không phải là nhà sản xuất bạc lớn trên thế giới. Vậy tại sao nhà Minh lại chọn bạc làm tiền tệ? Bạc của Trung Quốc đến từ đâu?

Bạc trở thành tiền tệ chính của triều đại nhà Minh không phải vì sự lựa chọn tự nguyện, mà xuất phát từ tình thế khi đó. Trước triều đại nhà Minh, thời nhà Tống, Kim, Nguyên đã cố gắng thay thế kim loại quý bằng tiền giấy để làm tiền tệ chính, nhưng kết quả lại giống nhau đến mức đáng ngạc nhiên. Do bản tính tham lam của con người, một khi tiền tệ thoát khỏi các thuộc tính hàng hóa, nó sẽ mất đi những ràng buộc tự nhiên. Trong suốt các triều đại, tiền giấy đã lưu hành trên quy mô lớn để bù đắp thâm hụt tài khóa và tiến hành cướp bóc của cải, cuối cùng tất thảy đều dẫn đến kết cục là siêu lạm phát, thuế thu cực nặng, sụp đổ tài chính và đế chế tan nát. Trong những năm đầu nhà Minh, những người cầm quyền cũng thử “bài kiểm tra” tiền giấy trước đó và phát hành tiền giấy Minh Bảo. Đến năm 1522, tiền giấy mất giá tới 2%, lạm phát lan tràn, bách tính lầm than oán thán. Vương triều nhà Minh cuối cùng buộc phải từ bỏ hệ thống tiền giấy và thay vào đó khôi phục hệ thống tiền tệ kim loại. Từ thời Tống đến thời Minh, sau gần 500 năm thử nghiệm hệ thống tiền giấy, kết luận cuối cùng được rút ra từ lịch sử là: Không đáng tin cậy.

Những lựa chọn tiền kim loại bày ra trước mắt nhà Minh không gì khác hơn ngoài vàng, bạc và đồng. Vàng quá đắt và đồng quá rẻ. Do đó, với tư cách là ứng cử viên cho đồng tiền chính, bạc đã trở thành “tiền tệ nhân dân” thực sự.

Câu hỏi đặt ra là, Trung Quốc – vốn không có nhiều mỏ bạc, tìm đâu ra một lượng lớn bạc để làm tiền tệ? Câu trả lời chính là thương mại thế giới.

Nếu hệ thống thương mại thế giới được ví như một hệ thống guồng nước khổng lồ, thì tiền tệ chính là dòng nước thúc đẩy bánh răng chuyển động. Nguồn cung tiền càng lớn, tốc độ của guồng nước càng nhanh và quy mô thương mại thế giới càng lớn. Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, loại tiền tệ thúc đẩy hệ thống thương mại thế giới chính là bạc.

Năm 1851, Trương Cư Sĩ – Phụ chính đại thần nhà Minh, bắt đầu thực hiện “Luật một roi” (nhất điều tiên pháp) trên khắp cả nước. Đầu tiên áp dụng cho luật phu dịch và điền phú, xuất phát từ nguyện vọng đảm bảo phu dịch cho vương triều, dần dần chuyển đổi trọng tâm của phu dịch từ hộ đinh (tính theo đầu người) chuyển sang điền mẫu (tính theo diện tích ruộng đất), và thiết lập loại tiền tệ thanh toán cuối cùng là bạc, từ đó tạo ra nhu cầu khổng lồ về bạc.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng cũng là điều không thể tránh khỏi: Tây Ban Nha phát hiện ra các mỏ bạc khổng lồ ở Peru và Mexico vào năm 1545 và 1548. Cộng thêm với xuất khẩu bạc của Nhật Bản, nguồn cung bạc lớn ở các khu vực này tạo thành động lực mạnh mẽ cho việc luân chuyển các bánh răng thương mại thế giới, và cuối cùng trở thành ngọn nguồn tiền tệ cho bản vị bạc của nhà Minh.

Vào thời điểm đó, các ngành công nghiệp mạnh nhất của Trung Quốc là trà, gốm sứ và lụa, rất ít đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới. Xuất khẩu sứ của Trung Quốc sang châu Âu chiếm 50% tổng lượng xuất khẩu gốm sứ, đến mức tên của Trung Quốc trong tiếng Anh chính là “đồ sứ” (china). Tơ cũng là một sản phẩm cực kỳ nổi bật do Trung Quốc xuất khẩu. “Lượng tơ lụa xuất khẩu từ Trung Quốc vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta. Mỗi năm, có khoảng 1.000 tạ tơ lụa xuất khẩu sang quần đảo Tây Ấn, các vùng thuộc địa của Bồ Đào Nha và Philippines. Chúng được chất đầy trên các tàu lớn và lụa xuất khẩu sang Nhật Bản nhiều không thể đếm xuể…”

Do Trung Quốc khan hiếm bạc nên xảy ra tình trạng “bạc đắt, vàng rẻ” dưới triều đại nhà Minh. Vào đầu thế kỷ XVII, tỷ giá giữa vàng và bạc ở Quảng Châu là 1:5,5 đến 1:7, trong khi ở Tây Ban Nha là 1:12,5 đến 1:14. Giá bạc của Trung Quốc gấp đôi Tây Ban Nha. Các thương nhân Tây Ban Nha vừa phát hiện ra một mỏ bạc khổng lồ ở châu Mỹ đã vui mừng khôn xiết khi phát hiện ra cơ hội kiếm lời chênh lệch giá khổng lồ này. Từng lớp thương nhân châu Âu đem lượng bạc khổng lồ từ châu Mỹ lên các chuyến tàu tới Trung Quốc. Chính sự chênh lệch giá vàng – bạc này đã thúc đẩy bánh xe thương mại thế giới khổng lồ bắt đầu quay với tốc độ tối đa.

Mặc dù châu Âu bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII, và sản xuất bằng máy móc giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất, thế nhưng sản phẩm chủ đạo của họ - sản phẩm dệt may, lại không thể cạnh tranh ở Trung Quốc. Một mặt, do vận chuyển đường dài làm tăng chi phí vận chuyển. Mặt khác, do các triều đại Trung Quốc trước đây đã đầu tư liên tục và dài hạn vào hệ thống vận tải đường sông nội địa, đặc biệt là kênh Đại Vận Hà, làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển hàng hóa nội địa Trung Quốc, từ đó năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nội địa cũng tăng theo.

Quan trọng hơn, ngành dệt may Trung Quốc bắt đầu sản xuất trên quy mô lớn từ cuối triều đại Minh và đầu nhà Thanh. Theo ước tính của các nhà truyền giáo phương Tây, khoảng cuối thể kỷ XVIII, công nhân thợ dệt ở Thượng Hải và các khu vực lân cận lên tới 200.000 người, công nhân kéo sợi là 600.000. Hiệu ứng quy mô sản xuất và chi phí vận chuyển thấp khiến các sản phẩm châu Âu gần như mất cơ hội cạnh tranh ở Trung Quốc. Hiện tượng này tiếp diễn cho đến giữa và cuối thế kỷ XIX.

Trong tình hình này, loại hàng hóa chủ đạo được các tàu buôn châu Âu vận chuyển đến Trung Quốc là bạc Mỹ. Khi đến Trung Quốc, họ đổi bạc lấy sứ, lụa và trà Trung Quốc; đổi “bạc đắt” lấy “vàng rẻ”, sau đó lại chuyển đến Ấn Độ mua hàng hóa. Cuối cùng, tàu buôn sẽ trở về châu Âu với đủ loại hàng hóa và vàng của phương Đông, kiếm được rất nhiều tiền.

Trong gần 400 năm của thế kỷ XVI đến XIX, “công việc” chính của người châu Âu là cướp bóc bạc của châu Mỹ và kiếm lời chênh lệch giá trên thị trường quốc tế. Sẽ không quá lời khi nói rằng việc cướp bạc của châu Mỹ đã tạo ra “xô vàng” đầu tiền của châu Âu. Vào thời điểm đó, trung tâm xuất khẩu thương mại thế giới rõ ràng là Trung Quốc. Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu tiền bạc, từ đó thiết lập một hệ thống tiền tệ bản vị bạc. Nguyên lý để chứng minh Trung Quốc là trung tâm thương mại thế giới thời bấy giờ thực ra rất đơn giản. Một khi bạc đến Trung Quốc, nó sẽ không bao giờ rời đi nữa, tạo thành hiện tượng "bạch ngân diếu tàng” nổi tiếng. Bạc không còn chảy ra bên ngoài đồng nghĩa với việc xuất khẩu ròng của Trung Quốc sẽ khiến cho nguồn cung ứng bạc trên thế giới không ngừng chảy về nước này. Kết quả là, bạc của châu Mỹ là nguồn cung cấp tiền tệ chính của Trung Quốc cho đến khi người Anh bắt đầu bán nha phiến.

Người ta ước tính rằng từ khi phát hiện ra mỏ bạc của châu Mỹ năm 1545 cho đến năm 1800, châu Mỹ khai thác tổng cộng 133.000 tấn bạc, 75% (khoảng 100.000 tấn) trong số đó được chuyển đến châu Âu, rồi châu Âu chuyển khoảng 32.000 tấn bạc đến Trung Quốc thông qua thương mại châu Á. Nếu tính cả lượng bạc vận chuyển trực tiếp từ châu Mỹ sang Trung Quốc và xuất khẩu bạc của Nhật Bản sang Trung Quốc, Trung Quốc đã tiếp nhận 48.000 tấn bạc thông qua thương mại thế giới. Điều thú vị là, 68.000 tấn bạc của châu Mỹ tràn vào châu Âu (sau khi trừ 32.000 tấn đã chuyển đến Trung Quốc) gây ra lạm phát dài hạn, được gọi là “cuộc cách mạng giá” nổi tiếng trong lịch sử. Trong khi 48.000 tấn bạc chảy vào Trung Quốc lại không gây ra tình trạng lạm phát rõ rệt thời nhà Minh. Nguyên nhân duy nhất là quy mô thị trường của Trung Quốc khi đó rộng lớn hơn hẳn so với châu Âu. Sự gia tăng tiền tệ kích thích sự tăng trưởng mạnh mẽ của nguồn cung hàng hóa và áp lực lạm phát được bù đắp hoàn toàn.

Kể từ khi bạc đến Trung Quốc và lên ngôi vua tiền tệ, căn bệnh trầm kha mang tên siêu lạm phát – vốn liên tục xảy ra suốt 500 năm từ triều đại nhà Tống, Liêu, Kim, Nguyên cho đến giai đoạn đầu nhà Minh, chưa bao giờ tái phát. Sau năm 1935, Tưởng Giới Thạch bãi bỏ hệ thống bản vị bạc, cải cách tiền pháp định và phát hành Kim viên khoán, một lần nữa gây ra siêu lạm phát và cuối cùng đánh mất cả chính quyền.

Trong 400 năm từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, nếu loại tiền tệ nào có thể được gọi là tiền tệ thế giới và thúc đẩy thương mại toàn cầu, bạc sẽ là ứng cử viên duy nhất.

Trích "Chương 10, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét