VINH QUANG VÀ GIẤC MỘNG CỦA BẠC - phần 4

TIỀN GIẤY ĐÔ-LA CÓ THỂ GIỮ GIÁ HAY KHÔNG?

Tiền là gì? Của cải là gì? Những câu hỏi này là điều kiện tiên quyết để tìm hiểu bản chất của đồng đô-la.

Một đặc điểm quan trọng giúp chúng ta nhận biết một nhà tư tưởng vĩ đại là anh ta có sự nhảy cảm đặc biệt và suy nghĩ sâu sắc về những sự vật quan trọng mà người bình thường đã quá đỗi quen thuộc. "Quả táo rơi" – một hiện tượng bình thường mà chúng ta không hề để tâm đến trong suốt hàng ngàn năm, nhưng lại truyền cảm hứng cho sự hiểu biết thấu đáo về lực hấp dẫn trong tâm trí của Newton. Khái niệm "thời gian" cũng bình thường đến mức không thể bình thường hơn, lại đem tới một điều dường như vô tận trong tâm trí Einstein, dẫn đến sự ra đời của Thuyết Tương đối. Trong hàng ngàn năm, con người đã sống trong xã hội tiền bạc, và trong số tất cả những người đang ngày ngày bận rộn kiếm tiền, có bao nhiêu người có thể bình tĩnh ngồi xuống và nghiêm túc suy nghĩ xem "tiền" rốt cuộc là gì?

Không còn nghi ngờ gì nữa, có rất nhiều người trên thế gian này đã nghiên cứu kỹ lưỡng câu hỏi tiền là gì. Đáng tiếc là, các cuộc thảo luận này chẳng những không thể tạo ra một lý thuyết tài chính và tiền tệ tuyệt vời có thể sánh với luật hấp dẫn và thuyết tương đối, mà chúng ngày càng trở nên rắc rối và hồ đồ hơn. Bởi lẽ tiền khác với các khái niệm vật lý thuần túy "thời gian" và "trọng lực" ở chỗ, nó bị ảnh hưởng phần lớn bởi biến số khó đo lường là lòng tham của con người. Các học giả đã đề xuất một loạt các lý thuyết tiền tệ, không tương thích với nhau và đầy mâu thuẫn. Các chủ ngân hàng thì nhân cơ hội vớt cá trong ao bùn, dẫn dắt toàn bộ hệ thống tài chính phương Tây từ lý thuyết đến thực tiễn, từng bước lạc lối để rồi cuối cùng bị "tẩu hỏa nhập ma", khiến cho thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính khổng lồ.

Khái niệm tiền theo nghĩa kinh điển là khá rõ ràng. Tiền là một loại hàng hóa đặc biệt đã tồn tại, có giá trị ổn định và dễ dàng sử dụng làm phương tiện trao đổi hàng hóa. Nó có các đặc điểm sau: số lượng hạn chế, dễ đo lường, dễ trao đổi, không dễ làm giả, được thị trường công nhận và bảo quản lâu dài. Nhiều sản phẩm đáp ứng các đặc điểm trên có thể trở thành "tiền". Sản phẩm đáp ứng tốt nhất các định nghĩa và đặc điểm trên chính là loại "tiền" tốt nhất. Vàng và bạc từ cổ chí kim, ở bất cứ quốc gia và vùng lãnh thổ nào, bất cứ nền văn hóa nào, trải qua quá trình so sánh và thực tiễn kéo dài hàng ngàn năm chính là hai loại "tiền" tốt nhất của con người. Vì bản thân chúng đều có một giá trị nội tại cụ thể, bên cạnh đó lại sở hữu các đặc tính như không thấm nước, chống cháy, chống ăn mòn, chống mài mòn, có thể bảo quản trong thời gian dài, có thể sử dụng làm tài sản lưu trữ giá trị. Bởi vì chúng dễ dàng mang theo, cắt xẻ, đo lường và khó làm giả, thế nên chúng trở thành phương tiện thuận lợi và đáng tin cậy nhất để trao đổi hàng hóa. Bởi vì giá trị của chúng ổn định và dễ đo lường, nên chúng trở thành thước đo giá trị phù hợp nhất. Và bởi chúng vốn là hàng hóa có giá trị thực tế, thế nên chúng không đòi hỏi bất kỳ sự bảo đảm hoặc sự cưỡng chế nào. Chúng là loại tiền đáng tin cậy nhất không bị vô hiệu bởi các nguyên do bất khả kháng như thay đổi chính phủ, thay đổi pháp lý, khủng hoảng tự nhiên và thiên tai. Càng trong thời kỳ hỗn loạn, vàng và bạc lại càng trở thành chiếc "thuyền Noah" cho chúng ta bấu víu vào nhằm bảo vệ của cải của mình. Đúng như câu nói "Thời thế càng nhiễu loạn thì càng lộ rõ bản sắc ảnh hùng." Chính bởi điều này nên vàng và bạc là hình thức tối cao của "tiền", và chúng hoàn toàn xứng đáng với ngôi vị "ông vua tiền tệ" được loài người tung hô.

Vậy của cải là gì? Bản chất của cải là tất cả các loại hàng hóa được con người tạo ra thông qua quá trình lao động. Tiền đại diện cho "quyền đòi hỏi" thành quả của những người lao động. Bằng cách bán thành quả lao động của mình, mỗi một người trong xã hội đều sẽ có "quyền đòi hỏi" thành quả lao động của người khác.

Khi quyền đòi hỏi này được chuyển giao, nó giống như một phương tiện thanh toán. Khi một quyền đòi hỏi nào đó được tiếp nhận rộng rãi, nó sẽ trở thành phương tiện giao dịch. Nếu người nắm giữ quyền đòi hỏi quyết định trì hoãn việc chuyển đổi, thì nó sẽ thực hiện chức năng lưu trữ tài sản. Khi quyền đòi hỏi này được yêu cầu chuyển đổi, nó có thể thu về thành quả lao động tương đương của những người khác, vậy thì "quyền đòi hỏi" đó chính là một loại thước đo giá trị tuyệt vời. Bốn yếu tố này cùng nhau tạo thành mối quan hệ đối ứng hoàn hảo giữa tiền tệ và của cải.

Trên thực tế, trong bốn chức năng chính của tiền tệ, chức năng "lưu trữ của cải" đóng vai trò cốt lõi nhất. Càng là loại tiền tệ có khả năng trì hoãn chuyển đổi nguyên vẹn của cải thì lại càng phát huy được vai trò quan trọng của một thước đo giá trị. Nó ngày càng phổ biến trên thị trường và càng dễ lưu thông, từ đó trở thành một phương tiện giao dịch và phương tiện thanh toán có chất lượng. Việc bãi bỏ hoàn toàn các thuộc tính hàng hóa của tiền dẫn đến rối loạn và mất cân bằng chức năng lưu trữ của cải. Bất kỳ loại tiền tệ nào, một khi đã thoát ly khỏi "quy luật thép" về bản chất hàng hóa của tiền tệ, cuối cùng đều sẽ không thoát khỏi kết cục là không ngừng mất giá. Loại tiền tệ theo nghĩa kinh điển, với đại diện là vàng – bạc chính là "cảnh giới" truy cầu cao nhất của bất cứ loại tiền tệ nào.

Xét trong lịch sử, một đế chế đang trong chu kỳ phát triển mạnh mẽ đều sẽ có nền kinh tế phát triển, thương mại tích cực, sức mạnh quân sự mạnh mẽ, biên giới đế chế mở rộng, sức mua tiền tệ ổn định, lưu thông tiền tệ mở rộng và lãi suất cho vay thấp. Cùng với sự hủ bại của giai cấp thống trị, mâu thuẫn nội bộ của đế chế gia tăng, năng lực sản xuất giảm, các cuộc chiến bên ngoài không ngừng tiếp diễn, chi tiêu tài chính tăng mạnh, thuế má dần trở nên bất cập, dẫn đến chi phí chung cho việc duy trì đế chế ngày một tăng cao. Vào thời điểm này, trong nỗ lực giảm thiểu áp lực tài khóa, đế chế thường bắt đầu can thiệp vào đồng tiền đang bị mất giá của mình. Chiến lược "tiền tệ hóa" thâm hụt tài khóa, cho dù là chính sách nhằm "pha loãng" hàm lượng vàng của các loại tiền tệ thời xưa, hay chính sách "nới lỏng định lượng" của các loại tiền tệ hiện đại, đều là căn nguyên dẫn đến lạm phát.

Phát minh thiết yếu nhất của lý thuyết tiền tệ phương Tây đương đại là sử dụng nợ làm tài sản thế chấp cho tín dụng của tiền tệ, thay thế cho vàng và bạc – những loại tiền thực thụ không đánh mất giá trị do vỡ nợ. Các nước phương Tây trước tiên đã cướp đoạt bạc của các quốc gia sử dụng bạc làm tiền tệ chính thông qua chiến tranh hoặc buôn bán thuốc phiện, từ đó bãi bỏ bản vị bạc. Sau đó, họ áp dụng phương pháp kết nối tiền tệ của các quốc gia trên thế giới vào đồng đô-la, còn đô-la thì lại kết nối với vàng để bước đầu thiết lập một hệ thống trao đổi tiền tệ thế giới. Tiếp theo là tách đồng đô-la khỏi vàng và bãi bỏ bản vị vàng. Khiến cho tiền tệ pháp định – đại diện bởi đồng đô-la Mỹ trở thành đồng tiền dự trữ của thế giới mà không liên kết với vàng và bạc.

Đồng đô-la mà chúng ta sử dụng ngày nay là một loại tiền tệ không có bất kỳ định nghĩa giá trị thực nào. Loại tiền này được gọi là "currency" trong tiếng Anh và ý nghĩa cơ bản của nó là tính thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt và tương đương tiền mặt). Nó chỉ là một phương tiện tạo điều kiện cho "dòng chảy" của hàng hóa, chứ bản thân phương tiện này không có bất cứ giá trị nào. Nó có thể là tiền giấy, séc hoặc thậm chí là một con số trên máy tính. Nó là một chứng từ tạm thời sử dụng để trao đổi giá trị. Bản chất của nó là một loại giấy vay nợ. Nó không thể đảm bảo rằng, trong tương lai nó có thể trao đổi ngang bằng với giá trị ban đầu hay không. Bởi nó là giấy vay nợ, nên nếu ai đó chây ỳ hoặc "xù nợ" thì giấy vay nợ sẽ trở thành giấy vụn.

Ngày nay, khi chúng ta dần quên rằng vàng và bạc mới là hai loại tiền thật đáng tin cậy nhất suốt hàng ngàn năm qua, chúng ta thường nhầm lẫn giữa hai khái niệm tiền tệ tín dụng là giấy vay nợ và tiền, nghĩ rằng giấy vay nợ chính là tiền. Kiếm tiền có nghĩa là kiếm về loại giấy vay nợ đó, và tiết kiệm tiền nghĩa là tiết kiệm loại giấy vay nợ đó. Trên thực tế, trong hệ thống tín dụng, loại giấy vay nợ "giả định là có thể chuyển đổi được" mà mọi người nỗ lực lao động để kiếm về và gửi tiết kiệm trong ngân hàng, khi "con nợ" chưa bị vỡ nợ thì nó vẫn có giá trị đầy đủ, khi con nợ bị vỡ nợ một phần thì nó chỉ còn lại một phần giá trị, còn khi con nợ vỡ nợ hoàn toàn thì nó chẳng còn đáng một xu.

Các thử nghiệm với tiền giấy thuần thường mang lại kết quả tốt đáng ngạc nhiên trong giai đoạn đầu, nhưng cuối cùng, các loại tiền giấy này đều bị mất giá và trở lại giá trị ban đầu của chúng, đó là một tờ giấy! Hệ thống tiền giấy thuần túy, về bản chất, chỉ là một bài kiểm tra lòng tham của con người mà thôi. Cho dù quyền phát hành tiền tệ nằm trong tay chính phủ hay tư nhân, và bất kể chính sách tiền tệ nào, những điều này không thể thay đổi bản chất của vấn đề, nghĩa là lòng tham vốn có trong bản chất con người có đáng tin cậy hay không! Toàn bộ lịch sử loài người cho thấy tham, sân, si chính là những bản chất có sẵn nơi con người.

Đây là nguyên nhân sâu xa của việc trong suốt lịch sử văn minh nhân loại, bất cứ loại tiền giấy nào cũng khó có thể duy trì giá trị.

Thời Bắc Tống, từ năm 1023 đến 1060, dự trữ phát hành tiền tệ giảm từ 1/3 xuống 1/60. Đến cuối triều đại Nam Tống, tỷ lệ lạm phát lên tới 20.000 tỷ lần! Tài chính sụp đổ hoàn toàn, khả năng huy động tài chính cho chiến tranh quốc gia cạn kiệt, và triều đại sụp đổ.

Triều đại nhà Kim phát hành tiền giấy trong hơn 70 năm và vật giá tăng 60 triệu lần. Cuối cùng khiến cho nhân tâm hỗn loạn và khả năng sáng tạo của cải hoàn toàn tuyệt tích. Đó cũng là hiện tượng hệ thống tiền tệ sụp đổ trước khi đế chế lụi tàn.

Nhà Nguyên bắt đầu phát hành tiền giấy Bảo Sao trong hơn 20 năm và đồng tiền này bị mất giá tới 1/10 giá trị ban đầu. Đến cuối nhà Nguyên, giá gạo tăng lên hơn 60.000 lần so với những năm đầu. Hệ thống Bảo Sao hoàn toàn sụp đổ. Vương triều nhà Nguyên không thể kiểm soát tài chính và thuế thu, quốc lực cạn kiệt, cuối cùng diệt vong.

Thử nghiệm của nhà Minh với hệ thống tiền giấy thuần túy tiếp tục kéo dài thêm 150 năm nữa. Đến năm 1522, tiền giấy Minh Bảo mất giá đến mức chỉ còn lại 2/1000 so với giá trị ban đầu và lạm phát hoành hành khắp chốn. Nhà Minh cuối cùng buộc phải từ bỏ hệ thống tiền giấy và khôi phục lại tiền bạc. Nhờ vậy mà giang sơn của đế chế này mới được duy trì đến năm 1644.

Năm 1716, bài kiểm tra tiền giấy đầu tiên của John Lowe ở Pháp khiến Pháp "khuynh gia bại sản" chỉ 4 năm sau đó. Năm 1790, bài kiểm tra tiền giấy thứ hai sau Cách mạng Pháp, tỷ lệ lạm phát đạt 13.000% sau 5 năm. Kết quả khiến cho dân chúng đại loạn, mở đường cho Napoléon lên nắm chính quyền. Thử nghiệm tiền giấy lần thứ ba xảy ra vào năm 1937 khiến đồng franc mất giá 99% sau 12 năm. Người Pháp thậm chí còn cười nhạo chính họ rằng, người Pháp có hai truyền thống: một là đầu hàng cực kỳ nhanh, hai là tiền tệ mất giá rất nhanh.

Bài kiểm tra tiền giấy của Cộng hòa Weimar của Đức, từ 1 đô-la đổi được 12 mark, đến năm 1923 thì 1 đô-la đổi được 42 tỷ mark. Đồng tiền này đi đến điểm cuối sinh mệnh của nó chỉ sau 4 năm.

Nếu bản chất lòng tham của còn người không thay đổi, đồng đô-la ngày nay chắc chắn sẽ đi vào vết xe đổ của lịch sử.

Trích "Chương 10, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét