Schacht: người trung gian của các chủ ngân hàng quốc tế
![]() |
| Horace Greeley Hjalmar Schacht |
Horace
Greeley Hjalmar Schacht sinh vào tháng 1 năm 1877 tại Teinlev (trước đây thuộc
Đức, nay thuộc Đan Mạch). Cha William Schacht là một công dân Mỹ gốc Đức, mẹ
Constance von Egers là một nữ nam tước quốc tịch Đan Mạch. William sống một cuộc
đời lang bạt phiêu tán, từng làm giáo viên làng, biên tập báo chí, kế toán, và
cuối cùng làm việc cho Công ty bảo hiểm Nhân thọ Hoa Kỳ. William khá hứng thú với
nền dân chủ và chủ nghĩa tự do kiểu Mỹ. Chính trị gia đáng ngưỡng mộ nhất của
ông là chính trị gia theo chủ nghĩa tự do và chống chủ nghĩa nô lệ của New
York, nhà báo Horace Glitch. Để tưởng nhớ chính trị gia tự do này, William đặt
tên cho cậu con trai Hjalmar theo tiếng Mỹ là Horace Greely, qua đó có thể thấy
mối quan hệ mật thiết giữa gia tộc Schacht và Mỹ.
Cậu bé
Schacht hết sức thông minh và siêng năng. Anh nghiên cứu lần lượt qua các lĩnh
vực như văn học, báo chí, xã hội học, triết học và khoa học chính trị. Anh được
trao danh hiệu tiến sĩ triết học khi mới 22 tuổi, và sau đó phát triển sang
lĩnh vực tài chính và gia nhập Ngân hàng Dresden. Schacht sở hữu khả năng trực
quan về bản chất của tài chính, và khả năng làm việc xuất sắc của Schacht nhanh
chóng khiến anh trở thành một nhân vật tinh hoa, được mọi người trong giới tài
chính chú ý. Năm 1923, Schacht được bổ nhiệm làm Thống đốc Ngân hàng Đế quốc để
cứu đồng mark Đức trong cơn thảm họa. Năm 1930, do những vấn đề liên quan đến
việc sửa đổi kế hoạch Yang, Schacht rời khỏi Ngân hàng Đế quốc.
Từ năm
1931, Schacht bắt đầu tích cực làm việc cho Đức Quốc xã. Tháng 3 năm 1933, sau
khi Hitler lên nắm quyền, ông ta đã bổ nhiệm Schacht làm Chủ tịch Ngân hàng Đế
quốc và văn bản bổ nhiệm được ký bởi Hitler lẫn Tổng thống Hindenburg. Những chữ
ký khác cũng xuất hiện trên tài liệu này thuộc về 9 thành viên hội đồng quản trị
của Ngân hàng Đế quốc, bao gồm ba chủ ngân hàng Do Thái: Mendelssohn, Vasman và
Warburg.
Trên thực tế,
Schacht và Warburg là những nhân vật chủ chốt trong việc liên lạc giữa các tập
đoàn tài chính Phố Wall và vòng tròn cốt lõi của Đức Quốc xã. Tháng 7 năm 1933,
Hitler đã thành lập Ủy ban Các Vấn đề Kinh tế và bắt đầu lên kế hoạch cho sự hồi
sinh của nền kinh tế Đức. 17 thành viên của ủy ban đều là những nhà đại tư bản
và chủ ngân hàng lớn, bao gồm Krupp, Siemens, Bosch, Tyson, Schroeder, v.v… Người
đứng đầu ủy ban là Schroeder – người được nhóm các nhà lãnh đạo tư bản tiến cử.
Tháng 8 năm
1933, Schacht thay mặt cho Chính phủ Đức Quốc xã tiến hành đàm phán với Hiệp hội
Ngân hàng Hoa Kỳ về vấn đề liên quan đến các khoản vay. Phố Wall vui vẻ đồng ý
với sự chậm thanh toán các khoản vay của Đức, ngoài ra còn đảm bảo rằng toàn bộ
nguồn vốn và thu nhập Mỹ có được thông qua đầu tư công nghiệp ở Đức sẽ chỉ được
sử dụng trong phạm vi nước Đức. Số tiền này sẽ được sử dụng để xây dựng ngành
công nghiệp vũ khí mới, hoặc mở rộng quy mô của các xí nghiệp sản xuất vũ khí
hiện có.
Trong một
cuộc họp vào tháng 7 năm 1934, Hitler hỏi Schacht nếu được bổ nhiệm làm Bộ trưởng
Kinh tế Đức thì ông có ý tưởng gì. Schacht trầm ngâm hồi lâu, rồi thận trọng hỏi
rằng Hitler muốn ông đối phó với vấn đề Do Thái như thế nào. Hitler trả lời, vế
các vấn đề kinh tế, người Do Thái có thể tiếp tục thực hiện tất cả các hoạt động
kinh doanh thông thường mà họ đã làm cho đến nay. Câu hỏi của Schacht tất nhiên
không phải hướng đến những người Do Thái thông thường, mà ông muốn xem thái độ
của Hitler với Warburg và những người khác như thế nào. Thời điểm đó, Hitler rõ
ràng không thể đụng tới Warburg, vì vậy ông ta đã trả lời mập mờ như vậy. Xét từ
một góc độ nhất định, Warburg thực sự là một điệp viên mà Phố Wall cài bên cạnh
Hitler để giám sát chính sách tài chính của ông ta.
Mùng 2
tháng 8 năm 1934 là ngày Tổng thống Hindenburg qua đời, đó cũng là ngày mà
Hitler nắm được đại quyền trong tay, Schacht chính thức được bổ nhiệm làm Bộ
trưởng Kinh tế.
Mối quan hệ
giữa Schacht và Warburg hết sức sâu sắc, có thể nói là có phúc cùng hưởng có họa
cùng chịu. Một mặt, Schacht đã khéo léo bảo vệ Warburg trước Hitler. Mặt khác,
Warburg là một viên “đá thử vàng” để các chủ ngân hàng quốc tế khảo sát Hitler.
Nếu Hitler nảy sinh ý đồ gì khác thì việc tài trợ của Phố Wall cho Đức có thể
ngay lập tức bị gián đoạn. Đối với Hitler – người vừa mới lên nắm chính quyền
và đang đau đầu nhức óc đối mặt với khủng hoảng kinh tế thì hậu quả của việc
này sẽ mang tính chí mạng. Ngoài ra, nếu không có sự hỗ trợ của Phố Wall, toàn
bộ sự chuẩn bị quân sự của Hitler cũng sẽ gặp phải những khó khăn nghiêm trọng.
Tục ngữ có
câu: “Chuyện nhỏ không nhẫn nhịn sẽ làm hỏng chuyện lớn.” Hitler cũng hiểu rõ
điều này. Ông ta đã lợi dụng tài năng tài chính của Schacht để vỗ về ổn thỏa
Warburg – đại diện tới từ Phố Wall. Từ năm 1933 đến 1939, trong sáu năm chuẩn bị
cho Thế chiến II ở Đức, ông ta tận dụng tối đa các doanh nghiệp nằm dưới sự kiểm
soát của Phố Wall như Công ty Hóa học và Tài chính quốc tế Dupont, Tập đoàn Tài
chính Rockefeller và Công ty Dầu mỏ Mobil, Tập đoàn Morgan và Công ty Điện báo
và Điện thoại Quốc tế Hoa Kỳ thuộc quyền kiểm soát của nó, Công ty Xe hơi Ford,
để treo những chiếc bánh lớn của các đơn đặt hàng vũ khí khổng lồ từ Đức, dụ dỗ
những gã tài phiệt tham lam kéo tới tranh giành.
Marx từng
nói: “Nếu tỷ suất lợi nhuận lên đến 300% thì tự treo cổ mình lên nhà tư bản
cũng sẵn sàng làm.” Câu nói này thực sự tuyệt diệu! Henry Ford, ông vua xe hơi
Mỹ, đã được trao tặng Thập tự Sắt vì sự hợp tác với Đức Quốc xã. Người cũng có
vinh dự đặc biệt này là Thomas D Watson, Tổng giám đốc IBM kiêm Chủ tịch Phòng
Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ. Chỉ với một dự án máy bay, trong tám tháng của năm
1934, số lượng sản phẩm của Hoa Kỳ xuất sang Đức đã tăng hơn năm lần so với
1933. Trong hệ thống công nghiệp vũ khí của Đức Quốc xã, có tới hơn 60 công ty
của Mỹ. Ngoài việc bán các sản phẩm quân sự hiện đại, Hoa Kỳ còn hào phóng chuyển
giao nhiều công nghệ quân sự tiên tiến cho Đức. Dupont bán công nghệ cao su tổng
hợp (Neoprene) và dung dịch chống nổ dành cho máy bay cho Đức thông qua Công ty
IG Farben. Công ty Dầu mỏ Mobil thì tích cực tiếp thị công nghệ dầu bôi trơn xe
tăng. Nguồn cung xăng dầu dành cho máy bay của Không quân Đức do nhà máy nhiên
liệu hàng không của Mobil ở Đức cung cấp. Công ty Điện báo và Điện thoại Quốc tế
Hoa Kỳ tham gia phát triển máy bay chiến đấu thế hệ mới của Đức. Sau chiến
tranh, ngay cả Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ cũng thừa nhận rằng Hoa Kỳ đã cung cấp
cho Hitler những động cơ máy bay tiên tiến nhất. Không có sự giúp sức của Schacht
và Warburg, chỉ e công cuộc chuẩn bị chiến tranh của Hitler còn lâu mới được
thuận lợi như vậy.
Chính vì lý
do này mà đến năm 1936, tức ba năm sau khi Hitler lên nắm quyền, ngân hàng gia
tộc của Warburg ở Hamburg, Đức vẫn có lãi. Họ vẫn trả lãi và cổ tức cho các
trái chủ và cổ đông khác như thường lệ. Về cơ bản các hoạt động kinh doanh của
ngân hàng gia tộc Warburg không bị Đức Quốc xã quấy rối. Thậm chí cho đến năm
1938, Ngân hàng Warburg vẫn làm ăn có lãi.
Ngoài việc
tận dụng mối liên hệ chặt chẽ giữa Warburg và Công ty Kuhn Loeb của Phố Wall, từ
cuộc đời của Schacht chúng ta có thể thấy, bản thân ông cũng có mối liên hệ rất
sâu sắc với cộng đồng tài chính Anh – Mỹ. Ngay từ năm 1905, khi đi cùng Hội đồng
Quản trị Ngân hàng Dresden đến thăm Hoa Kỳ, ông đã có dịp gặp mặt Morgan. Năm
1923, việc đầu tiên ông làm sau khi trở thành Chủ tịch Ngân hàng Hoàng gia Đức
là tới London để gặp Thống đốc Ngân hàng Anh, Norman. Từ đó ông thiết lập tình
bạn trọn đời với Norman, thậm chí ông này còn trở thành cha đỡ đầu cho một cháu
trai của Schacht. Schacht thông thạo tiếng Đức hơn cả tiếng Anh. Trong phiên
tòa ở Nürnberg xét
xử tội phạm chiến tranh của Đức Quốc xã, chỉ có ba bị cáo mà hành vi phạm tội của
họ không được thành lập, được tuyên phóng thích ngay tại tòa. Đại diện Liên Xô
cáo buộc gay gắt rằng “các nhà tư bản sẽ không bao giờ bị trừng phạt”.
Với việc thực
hiện toàn diện “Chính sách kinh tế mới” của Hitler, nền kinh tế Đức ngày càng ổn
định, tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh, và sức mạnh quân sự nhanh chóng trở nên đáng
gờm. Đặc biệt là Thế vận hội Olympic diễn ra tại Berlin, Đức đã được tổ chức
thành công vào năm 1936, đưa người dân Đức với tới trung tâm của thế giới,
Hitler giờ đây đã thực sự đủ lông đủ cánh.
Sau Thế vận
hội Đức, Schacht bắt đầu cảm thấy tình hình không ổn, không chỉ nền kinh tế quá
thiên về sản xuất quân sự dẫn đến sự mất cân bằng trong cấu trúc, mà ông lo lắng
rằng mục tiêu cuối cùng của Hitler có vẻ “không đơn giản”. Cùng lúc đó Hitler bắt
đầu âm thầm phân hóa đại quyền kiểm soát kinh tế của mình.
Mùa thua
năm 1936, Hitler bổ nhiệm Goering làm người thực hiện “Kế hoạch bốn năm” phục
hưng nền kinh tế Đức và thành lập một cơ quan chính phủ mới chịu trách nhiệm thực
hiện. Rõ ràng, việc thành lập tổ chức mới này đã có sự chồng chéo nghiêm trọng
về chức năng với Bộ Kinh tế Đế quốc của Schacht, và cuối cùng chắc chắn sẽ dẫn
đến cuộc đấu tranh quyền lực giữa Schacht và Goering.
Với tư cách
là “chưởng môn” của phe học thuyết chủ nghĩa tự do Đức, về mặt lý thuyết,
Schacht không hề bị bối rối bởi kế hoạch kinh tế của tất thảy các quốc gia. Ông
cũng thấy rằng kế hoạch này đang trực tiếp làm suy yếu quyền lực của mình và
đương nhiên hết mực căm ghét cái gọi là Kế hoạch bốn năm. Ông lập tức hành động
để tiến hành phản kháng. Tuy nhiên Hitler lại liên tục chơi trò đưa đẩy theo kiểu
“Thái cực quyền” giữa Schacht và Goering. Thấy một số lượng lớn các đơn đặt
hàng công nghiệp và vũ khí liên tục đổ về phía Goering, trong khi phe của mình
thì ngày càng thưa thớt, Schacht dần hiểu rằng ông đã bị Hitler chơi một vố.
Thế là
tháng 8 năm 1937, Schacht đệ đơn từ chức lên Hitler. Sau ba tháng “phủ dụ ngon
ngọt”, Hitler chính thức bãi nhiệm Bộ trưởng Kinh tế của Schacht vào tháng 11.
Schacht không cam tâm thừa nhận thất bại này. Ông vẫn là Thống đốc Ngân hàng
Trung ương Đức và muốn sử dụng quyền phân phối tiền tệ để thực hiện cuộc quyết
chiến cuối cùng. Từ năm 1938, Schacht từ chối tái chiết khấu “hối phiếu công ăn
việc làm”, khiến cho cuộc xung đột của ông với Hitler càng trở nên gay gắt. Thời
điểm này, Hitler đã hoàn tất công tác chuẩn bị cho việc quốc hữu hóa Ngân hàng
Trung ương. Tháng 1 năm 1939, Schacht bị miễn nhiệm chức Thống đốc Ngân hàng
Trung ương. Mặc dù ông vẫn giữ danh xưng là thành viên nội các, nhưng trên thực
tế Hitler đã gạt ông ra khỏi vòng tròn trung tâm quyền lực của Đức. Tin tức về
việc Schacht rời Ngân hàng Trung ương bị che giấu trong hơn 5 tháng, cho đến
giây phút cuối cùng trước khi chiến tranh bùng nổ. Trận chiến giữa quyền thuật
chính trị của Hitler và chiến lược tài chính của Schacht có thể coi là một màn
“cao thủ đọ sức”, nhưng rốt cuộc chính trị vẫn đè bẹp tài chính.
Năm 1944,
Schacht bị nghi ngờ có dính líu đến vụ mưu sát Hitler trong sự kiện Steinburg
và bị đưa đến trại tập trung Dachau. Schacht không chỉ không hoàn thành nhiệm vụ
nặng nề là giám sát Hitler mà còn bị Hitler dắt mũi mà không hề hay biết, do đó
việc ông nảy sinh ý định trả thù cũng là điều dễ hiểu.
Đọc tiếp:
.jpg)
Nhận xét
Đăng nhận xét