Ván cờ lớn
Khi Hitler bước lên đỉnh cao quyền lực của Đức với sự hỗ trợ của các chủ ngân hàng quốc tế vào năm 1933, một số nhóm quyền lực quan trọng trên thế giới đã có những tính toán của riêng họ.
Giới cầm
quyền của Đế quốc Anh luôn một mực tin rằng chế độ của Anh là hình thức tổ chức
hoàn hảo nhất trong lịch sử thế giới. Nó không chỉ nên được thực hiện trong
lãnh thổ của Đế quốc Anh hiện tại, mà còn nên được áp dụng rộng rãi ở tất cả
các quốc gia trên thế giới. Lợi ích cốt lõi của nó là củng cố và tăng cường hệ
thống bá quyền toàn cầu của Đế quốc Anh. Thời điểm ấy, Đế quốc Anh có phạm vi ảnh
hưởng chưa từng có trong lịch sử. Theo Hòa ước Versailles, tiềm năng
kinh tế và tiềm năng quân sự của Đức về căn bản đã bị triệt tiêu, Đức coi như đại
bại. Pháp – kẻ thù truyền kiếp của Đức ở phía Tây đã bị người Anh buộc chặt vào
cỗ chiến xa của họ. Tổn thất cực lớn bởi chiến tranh và mối đe dọa tiềm tàng của
Đức khiến Pháp phải dựa vào Anh để sống sót.
Ở châu Phi,
phạm vi ảnh hưởng của Đế quốc Anh bao trùm hầu hết lục địa này. Có tới 21 quốc
gia thuần phục Đế quốc Anh, một lượng lớn nguyên liệu thô và tài nguyên thiên
nhiên được Vương quốc Anh tùy ý sử dụng. Ở Trung Đông, nguồn dầu mỏ nằm trong tầm
kiểm soát. Ở châu Á, Vương quốc Anh thống trị các khu vực rộng lớn từ Ấn Độ,
Malaysia đến Myanmar và Hồng Kông, Trung Quốc. Nguồn nhân lực, tài nguyên thiên
nhiên và các con đường chiến lược rộng lớn đều nằm dưới quyền kiểm soát của
Vương quốc Anh. Ở châu Đại Dương thì có Úc, New Zealand và các nước Khối Thịnh
vượng Chung hậu thuẫn bằng nguồn nguyên liệu thô công nghiệp. Ở châu Mỹ có
Canada, Guyana, Jamaica, Bahamas, v.v… sẽ mang tới cho Đế quốc Anh một nguồn
cung tài nguyên chiến lược vô hạn từ các căn cứ hải quân cho đến tài nguyên
thiên nhiên.
Vương quốc
Anh còn có sức mạnh hải quân mạnh nhất thế giới, kiểm soát tất cả các tuyền đường
thủy quan trọng trên thế giới. Đầu những năm 1930 Đế quốc Anh thực sự vô cùng
hùng mạnh, phạm vi ảnh hưởng rộng khắp thế giới.
Tất nhiên,
Vương quốc Anh cũng có một số mối lo lắng tiềm ẩn, chẳng hạn như tiềm năng công
nghiệp đáng kinh ngạc của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong thói quen suy nghĩ của giới
cầm quyền Anh, Hoa Kỳ vẫn là thuộc địa của Anh và họ thiếu một chiến lược mang
tính toàn cầu. Trung tâm tài chính vừa mới chập chững những bước đi đầu tiên, nạn
đầu cơ rất nghiêm trọng, sự giám sát hỗn loạn, năng lực sản xuất xảy ra tình trạng
thặng dư quá mức, khiến cho thị trường trong nước không thể hấp thụ hết, và phải
phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu thị trường toàn cầu dưới sự kiểm soát của Anh.
Chưa kể Mỹ có rất ít thuộc địa ở nước ngoài, không có quyền định giá tài
nguyên; quân đội Mỹ khi đó vẫn đang trong giai đoạn nghiệp dư, thiếu những căn
cứ quân sự trên toàn cầu.
Vì lẽ đó,
phương thức mà Vương quốc Anh dùng để kiểm soát Hoa Kỳ rất đơn giản: quyết định
chi phí vốn của thế giới, độc quyền giá cả tài nguyên trên thế giới, kiểm soát
lưu lượng đơn hàng toàn cầu, phân chia nhu cầu thị trường thế giới và bảo vệ
kênh vận chuyển thương mại. Năm cao điểm chiến lược này đã siết chặt cổ họng của
Hoa Kỳ. Hoa Kỳ luôn chỉ là công xưởng sản xuất toàn cầu của Đế quốc Anh, và các
cổ đông kiểm soát công xưởng này chính là nguồn vốn của người Anh. Nói một cách
dễ hiểu, Vương quốc Anh đã định vị bản thân là nhà tổ chức của thị trường
toàn cầu, trong khi Hoa Kỳ chỉ là nhà sản xuất. Chừng nào không xuất hiện
một cuộc chiến tranh quy mô lớn đủ sức lập lại trật tự trên toàn thế giới, Anh
không phải lo lắng về việc Hoa Kỳ có âm mưu “soán quyền”.
![]() |
| Liên Xô |
Điều duy nhất
khiến người Anh thực sự lo lắng là tiềm năng của Liên Xô. Đầu những năm 1930
Liên Xô thở phào nhẹ nhõm vì thoát khỏi tình cảnh hỗn loạn của chiến tranh. Tất
cả các lĩnh vực vẫn còn trong tình trạng hoang tàn. Liên Xô gây nên những căng
thẳng cực độ cho Đế quốc Anh. Nếu mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa có thể giúp
Liên Xô thực hiện được tiến trình công nghiệp hóa mà không cần mở rộng ảnh hưởng,
đồng thời xây dựng được một lực lượng vũ trang hùng mạnh thì điều này sẽ không
chỉ tạo ra một thách thức quân sự nghiêm trọng, mà nguy hiểm hơn là mô hình
Liên Xô sẽ làm thay đổi nhận thức tư tưởng của thế giới. Nếu Liên Xô tự lực
cánh sinh đạt được mục tiêu củng cố đất nước và củng cố quân đội, thì mô hình
thực dân của Anh sẽ trở nên thật xấu xí trong sự tương phản đó. Do đó họ sẽ
không thể duy trì trật tự hợp pháp và hợp lý của mình. Vì lẽ đó, Liên Xô đã bị
Anh coi là kẻ thù nguy hiểm nhất.
Trong mắt của
Vương quốc Anh, sự trỗi dậy của Đức quốc xã có lợi và cũng có hại. Có hại là việc
xây dựng quân hội hùng mạng của Đức tạo ra một mối đe dọa đối với Vương quốc
Anh. Có lợi là Anh sẽ có một “tay đấm” mạnh mẽ để đối phó với Liên Xô. Vương quốc
Anh không quá để tâm đến Đức Quốc xã. Điều này bắt nguồn từ ưu thế mạnh mẽ về mặt
tâm lý. Nền kinh tế Đức vốn rất suy sụp dưới sự tác động của Hòa ước
Versailles. Các chủ ngân hàng quốc tế kiểm soát hoàn toàn hệ thống tài
chính, Ngân hàng Trung ương Đức và huyết mạch của ngành công nghiệp. Hitler chỉ
là một con rối đứng trước sân khẩu mà thôi. Chỉ cần kiểm soát huyết mạch của Đức
Quốc xã thì người Anh sẽ không sợ họ phản lại. Nếu có thể chỉ đường dẫn lỗi cho
nước Đức sau khi trở nên hùng mạnh sẽ chĩa mũi dùi về phía Liên Xô, vậy thì đó
thực sự là một điều quá tuyệt với đối với Vương quốc Anh. Do đó, nội bộ giới cầm
quyền Anh đã chia thành hai phe về vấn đề Đức Quốc xã. Một phe có xu hướng thân
Đức, người đại diện là “Công tước xứ Windsor” nổi tiếng, phe còn lại gồm những
người vẫn mang di chứng tâm lý sợ hãi nước Đức, họ kiên quyết phản đối bất kỳ sự
trỗi dậy nào của Đức, đại diện của phe này là Churchill – người sau này trở
thành thủ tướng Anh.
Các nhóm
quyền lực tài chính mới nổi ở Hoa Kỳ có những cân nhắc chiến lược riêng. Ngay
khi Chiến tranh Thế giới Thứ nhất bùng nổ, với sự phát triển vũ bão của ngành
công nghiệp trong nước, giới cầm quyền Mỹ bắt đâu lên kế hoạch thay thế Đế quốc
Anh và trở thành bá chủ mới của thế giới. Xét cho cùng thực lực quyết định tâm
lý, tâm lý quyết định tầm nhìn, tầm nhìn quyết định chiến lược!
Trong mắt của
Hoa Kỳ, sức mạnh lớn nhất của Anh cũng là điểm yếu lớn nhất ở Anh. Vấn đề mang
tính cốt lõi nhất trong việc phân công sản xuất, tài nguyên và thị trường toàn
cầu và Vương quốc Anh là công nghiệp nội địa của Vương quốc Anh đang ở trong
tình cảnh “rỗng ruột”. Trong khi đó trung tâm tài chính mà bấy lâu nay Anh luôn
dương dương tự đắc, nếu bị tách biệt khỏi một thực tế kinh tế vững chắc, chỉ dựa
vào một thể thống nhất với những lợi ích lỏng lẻo trong phân công trên toàn cầu
thì một khi thế giới xảy ra biến cố gì đó, thể chế của Anh sẽ lập tức suy yếu cực
độ và sụp đổ tan tành.
Do đó,
trong một cuộc chiến tranh quy mô lớn, Hoa Kỳ vừa có thể nhận được nguồn lợi
chiến tranh rất lớn, vừa có thể làm suy yếu đáng kể vị thế thống trị của Anh và
tạo ra cơ hội thay đổi vận mệnh của chính mình. Điều này hoàn toàn phù hợp với
lợi ích chiến lược của các nhóm quyền lực tài chính mới nổi của Hoa Kỳ.
Trong khi
các lực lượng tài chính Do Thái quốc tế hợp tác với các nhóm quyền lực tài
chính mới nổi của Hoa Kỳ trong tư duy chiến lược đánh bại hệ thống thuộc địa của
Anh và đoạt lại vùng đất Palestine để xây dựng lại nhà nước Israel, hai nhóm
quyền lực lớn này ở Phố Wall đã hình thành nên nhận thức chung cao độ, cùng hộ
trợ lẫn nhau mưu đồ nghiệp lớn.
Vào thời điểm
này, ở châu Âu bắt đầu xuất hiện một cục diện kịch tính. Vương quốc Anh đã xác
định kẻ thù chính là Liên Xô. Mục tiêu của thế lực tài chính mới nổi của Hoa Kỳ
là thay thế Vương quốc Anh. Các lực lượng tài chính Do Thái thì tập trung vào
việc khôi phục Israel. Để phục vụ cho những mục đích khác nhau đó, các thế lực
này đều hy vọng sẽ kiểm soát được nước Đức hùng mạnh, qua đó biến Đức trở thành
“họng súng” của mình.
Hitler hiểu
rằng các phe phái khác nhau đang lợi dụng mình để đạt được các mục tiêu của
riêng họ, nhưng ông ta cũng có tính toán của riêng mình. Ông ta hoàn toàn không
chấp nhận việc bị kẻ khác chi phối và kiểm soát, và đang âm mưu “phản lợi dụng”
tất cả các bên để đạt được mục tiêu chiến lược của riêng mình. Hitler quyết tâm
nắm giữ được vai trò chủ đạo trong trò chơi chiến lược quốc tế hết sức phức tạp
này.
Đọc tiếp:


Nhận xét
Đăng nhận xét