Kế hoạch Haavara
Hitler luôn nhấn mạnh rằng ông ta có hai kẻ địch và một kẻ thù truyền kiếp. Kẻ địch chính của ông ta là những người Bolshevik. Theo quan điểm của Hitler, nếu không có cuộc nổi dậy và bạo loạn của những người Bolshevik ở hậu phương thì nước Đức sẽ không bị đánh bại, điều đó chẳng khác nào một con dao đâm lén Đức từ phía sau. Kẻ địch thứ hai của ông ta là sức mạnh tài chính quốc tế của người Do Thái. Theo sự chỉ dẫn của Feder, Hitler đã nhìn thấy uy lực khủng khiếp của các thế lực tài chính. Ông ta căm ghét đến tận xương tủy đối với hành vi bán đứng lợi ích nước Đức của những kẻ như Max Warburg trong Hòa ước Versailles và sự bảo trợ tài chính của các chủ ngân hàng Do Thái đối với quân Đồng mình – những yếu tố đã khiến cho Đức bại trận. Cộng thêm với việc nền kinh tế Đức bị phá hủy bởi siêu lạm phát, Hitler đã cộng gộp tất cả các món nợ này và trút lên đầu người Do Thái. Còn kẻ thù truyền kiếp của Hitler chính là Pháp – “oan gia thế kỷ” này buộc Đức phải ký một hòa ước đầy cay đắng và sỉ nhục.
Sau khi Đức
Quốc xã lên nắm quyền, họ không thể ngay lập tức ra tay với Liên Xô và Pháp,
nhưng lại chẳng có chút trở ngại nào trong việc bài trừ và tiêu diệt người Do
Thái. Kế hoạch đầu tiên của ông ta là lập ta Kế hoạch Haavara nhằm chống
lại người Do Thái.
“Haavara”
có nghĩa là “chuyển giao” trong tiếng Hebrew. Kế hoạch Haavara là một kế
hoạch khuyến khích người dân Do Thái di cư về Palestine, nó được ký kết giữa
chính phủ Đức Quốc xã và tổ chức người Do Thái ở Palestine.
Đối với Đức
Quốc xã, đó là một chính sách lớn lao nhằm đuổi người Do Thái ra khỏi đất Đức,
nhưng xét về sức mạnh của Đức vào thời điểm đó, họ không được phép “đắc tội”
quá đáng với các chủ ngân hàng quốc tế đang sở hữu những kênh tài chính khổng lồ
trên khắp thế giới. Hầu hết những người này là các chủ ngân hàng Do Thái, và
nhiều người là người Do Thái Đức. Chủ nghĩa bài trừ Do Thái của Hitler nhanh
chóng vấp phải sự phản đối trên trường quốc tế. Các cuộc biểu tình quy mô lớn của
người Do Thái châu Âu và Mỹ nhằm tẩy chay các sản phẩm của Đức đã giáng một đòn
nặng nề vào lĩnh vực xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của Đức. Lúc này, việc
không kích thích quá mức làn sóng phản đối của thế lực Do Thái trên trường quốc
tế hoàn toàn phù hợp với lợi ích của chính phủ Đức Quốc xã mới nắm quyền chưa
lâu và vây cánh còn non. Thế là chính sách bài trừ và trục xuất ban đầu đã thay
hình đổi dạng thành chính sách “khuyến khích di dân ra khỏi lãnh thổ”.
Các khoản bổi
thường khổng lồ mà Đức phải gánh sau Thế chiến I đều được kết toán bằng đô-la
và bảng Anh, vì vậy chính phủ Đức áp đặt các biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với
ngoại hối và lưu thông vàng ra nước ngoài. Năm 1931, việc chuyển vốn từ Đức ra
nước ngoài sẽ phải chịu mức thuế lên tới 25%. Sau khi Đức Quốc xã lên nắm quyền,
việc kiểm soát dòng vốn chảy ra nước ngoài còn nghiêm ngặt hơn. Tất cả những điều
này đã biến việc chuyển tiền ra nước ngoài thành một trong những vấn đề lớn nhất
đối với người nhập cư Do Thái ở hải ngoại. Thời điểm này, Max Warburg là một
trong những “gã khổng lồ tài chính” quan trọng nhất ở Đức. Ông ta có một mạng
lưới quan hệ khổng lồ tại các thị trường tài chính ở London, Paris và New York.
Việc huy động tài chính để giúp cho Kế hoạch Haavara có thể tiến hành
thuận lợi đã trở thành một trách nhiệm mà Max Warburg không thể thoái thác.
Sau nhiều lần
đàm phán giữa Max, tổ chức Do Thái ở Palestine và Đức Quốc xã, một mô thức có lợi
cho cả ba bên cuối cùng đã được hình thành. Theo chương trình này, người Do
Thái chuẩn bị di cư sẽ giao nộp toàn bộ tiền mark và bất động sản ở Đức cho
chính phủ Đức Quốc xã. Một năm sau khi đã chuyển đến Palestine, họ sẽ nhận được
số tiền được quy đổi bằng đồng bảng Anh theo tỷ giá tương đương, với điều kiện
những người nhập cư Do Thái sẽ không được đụng đến khoản tiền này. Tất cả số tiền
sẽ được sử dụng để mua các sản phẩm công nghiệp của Đức như máy móc thiết bị,
đường ống, phân bón, v.v… đến khi những sản phẩm này được tiêu thụ hoàn toàn ở
Palestine thì số tiền thu lại sẽ trao trả cho ngời nhập cư Do Thái. Trên thực tế,
chính phủ Đức Quốc xã đã không thực sự chi trả bằng đồng bảng Anh. Tiền được điều
chuyển qua lại giữa gia tộc Warburg và các chủ ngân hàng quốc tế khác. Cuối
cùng, thông qua việc xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp, chính phủ Đức Quốc xã
đã thu được những nguồn tiền bằng đồng “bảng Anh” hết sức quý giá này.
Đây thực sự
là biện pháp tối ưu cho cả ba bên. Đối với người theo Chủ nghĩa Phục quốc Do
Thái mà nói, việc một số lượng lớn người Do Thái mới nhập cư và nguồn vốn hùng
hậu mà họ mang theo sẽ đóng một vai trò lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của
cộng đồng Do Thái địa phương và tạo nền tảng vững chắc cho nguồn nhân lực và vật
chất để thành lập một nhà nước Do Thái. Đối với chính phủ Đức Quốc xã, một mặt
họ đã mở rộng được việc xuất khẩu các sản phẩm của Đức, tạo cơ hội việc làm ở Đức
và thu được loại tiền tệ quốc tế có giá trị là đồng bảng Anh. Mặt khác, họ chưa
cần sử dụng đến một xu nào của chính phủ mà vẫn thực hiện được mục tiêu chiến
lược là xua đuổi người Do Thái. Đồng thời, họ cũng thể hiện thiện chí với các
chủ ngân hàng Do Thái quốc tế và giảm nhẹ các hoạt động tẩy chay những sản phẩm
xuất nhập khẩu của Đức mà họ đang phát động trên toàn thế giới. Đối với các chủ
ngân hàng quốc tế, đây cũng là một cơ hội tốt để phát tài. Để giám sát việc thực
hiện kế hoạch, người Do Thái Đức đã thành lập công ty tín thác Palestine. ¾ tổng
số tiền cần thiết cho Kế hoạch Haavara và những khoản tín dụng cung cấp cho các
sản phẩm xuất khẩu của Đức không ngừng chảy qua các kênh của gia tộc Warburg và
các gia tộc ngân hàng quốc tế khác để đến với vùng lãnh thổ Palestine. Phía
Palestine, Ngân hàng Anglo-Palestine được thành lập để tiếp nhận nguồn vốn. Trước
khi Thế chiến II bùng nổ từ 1933 đến 1939, 52.000 người Do Thái Đức (chủ yếu là
người giàu có) di cư thành công tới Palestine. Tổng số tiền trị giá tới 140 triệu
mark được chuyển đến Đức thông qua kênh này. Gia tộc Warburg thu về vô số khoản
“phí dịch vụ” tài chính khác nhau khi đảm nhận vai trò trung gian.
Nói một
cách đơn giản, kế hoạch này là Đức Quốc xã trả tiền cho bất động sản của người
Do Thái ở Đức cùng chi phí an cư lạc nghiệp khi di cư đến Palestine bằng các sản
phẩm công nghiệp, chính phủ Đức sẽ nhận được một lượng ngoại tệ bằng đồng bảng
Anh, đồng thời vẫn cho phép một lượng vốn chảy ra khỏi Đức.
Kế hoạch
này không phù hợp với nguyên tắc của Đức Quốc xã, nhưng lại phù hợp với thuật
quyền biến của Hitler với tư cách là một chính trị gia.
Ngoài việc
trực tiếp nhúng tay vào hệ thống tài chính Đức, các chủ ngân hàng quốc tế cũng
đã nuôi dưỡng một tác nhân quan trọng, đó là Schacht.
Đọc tiếp:

Nhận xét
Đăng nhận xét