Hệ thống kinh tế của Đức Quốc xã
Nếu chủ nghĩa tư bản truyền thống là một hệ thống kinh tế tập trung vào lợi nhuận, vậy thì những vấn đề cốt lõi mà hệ thống này quan tâm không phải là sản xuất, tiêu dùng, thịnh vượng, tạo công ăn việc làm, phúc lợi nhà nước, hoặc bất cứ điều gì khác. Toàn bộ tiêu điểm của nó chỉ tập trung vào lợi nhuận mà thôi. Phương thức chỉ cân nhắc đến yếu tố lợi nhuận mà bỏ qua các yếu tố khác như vậy chắc chắn sẽ xâm phạm đến tất cả các lĩnh vực của xã hội, dẫn đến sự phản kháng từ các giai cấp quyền lực khác. Khi các nền tàng quyền lực xã hội khác chung tay với nhau để đối phó với hệ thống lợi nhuận, cuối cùng chúng sẽ làm tổn thương đến hệ thống lợi nhuận của giai cấp tư sản.
Thiết kế hệ thống kinh tế của Đức Quốc xã phải được xây dựng dựa trên bốn nền tảng quyền lực của xã hội Đức, nhằm mục đích cân bằng lợi ích của hệ thống coi lợi nhuận là trung tâm với lợi ích của những kẻ thù mà nó đã tạo ra. Một mặt, Đức Quốc xã đàn áp xu hướng “tự cực đoan” của hệ thống lợi nhuận để giảm bớt sự phản kháng của các lực lượng đối đầu khác trong xã hội. Mặt khác, Đức Quốc xã cũng đàn áp các yếu tố tiềm tàng có thể đe dọa đến hệ thống lợi nhuận này, nhằm duy trì hoạt động của hệ thống lợi nhuận.
Khi đánh giá chính sách cầm quyền của Đức Quốc xã, chúng ta có thể thấy họ chủ yếu ngăn chặn các mối đe dọa tiềm tàng của hệ thống lợi nhuận từ sáu khía cạnh: thứ nhất là đàn áp mối đe dọa của chính phủ đối với hệ thống lợi nhuận; thứ hai là đàn áp lao động có tổ chức; thứ ba là đàn áp sự cạnh tranh; thứ tư là né tránh các cuộc khủng hoảng kinh tế; thứ năm là tránh thất bại trong thương mại; thứ sáu là ngăn chặn sự phát triển của các mô hình kinh tế khác tập trung vào sản xuất hoặc phi lợi nhuận trong các hoạt động kinh tế.
Vì bản thân các hành vi của chính phủ không hướng đến lợi nhuận thế nên các hành vi của chính phủ sẽ gây ra mối đe dọa đáng kể cho hệ thống lợi nhuận. Nhưng ở Đức Quốc xã, mối đe dọa của chính phủ đã bị loại bỏ vì các nhà tư bản công nghiệp ủng hộ và kiểm soát Đức Quốc xã, trong khi Đức Quốc xã lại điều hành chính phủ, và trên thực tế Đức Quốc xã đã trở thành người đại diện của các nhà tư bản công nghiệp, giúp cho họ gián tiếp kiểm soát chính phủ.
Trên thực tế, các tổ chức lao động không trực tiếp gây ra mối đe dọa cho hệ thống lợi nhuận, vì bản thân lợi ích của người lao động đã có liên quan mật thiết đến hệ thống lợi nhuận. Tuy nhiên, lao động có tổ chức (đặc biệt là các tổ chức lao động có niềm tin chính trị) sẽ đe dọa trực tiếp đến hệ thống lợi nhuận tư bản. Do đó, nếu Đảng Quốc xã muốn kiểm soát ảnh hưởng của tổ chức lao động với hệ thống lợi nhuận, thì họ phải kiểm soát tư tưởng của người dân và các đoàn thể lao động. Sự kiểm soát này có thể được thể hiện bằng cách khống chế thời gian tự do và phương thức giải trí của người lao động. Khi một người có rất nhiều thời gian rảnh rỗi thì họ thường sẽ nghĩ ngợi mông lung, từ đó sẽ nảy sinh ra nhiều “tạp niệm”. Cách tiếp cận của Đức Quốc xã không phải là bãi bỏ công đoàn, mà là tiến hành giám sát và quản lý đối với tất cả các cơ cấu công đoàn hoạt động có tổ chức. Dưới cơ chế này của Đức Quốc xã, trên thực tế tiền lương và các điều kiện sống khác nhau của công nhân đang dần dần xấu đi. Tuy nhiên, đối với việc người lao động bị bóc lột như vậy, Đức Quốc xã đã thực hiện một số bồi thường theo những cách khác.
Các phương thức bồi thường được Đức Quốc xã áp dụng chủ yếu bao gồm: cấm các nhà tư bản công nghiệp sa thải nhân viên và đảm bảo rằng người lao động không bị thất nghiệp. Xét theo số liệu việc làm ở Đức, số người có việc làm năm 1929 là 17,8 triệu. Năm 1932, khủng hoảng kinh tế trở nên tồi tệ, cũng là năm trước khi Đức Quốc xã lên nắm quyền, số người có việc làm chỉ 12,7 triệu. Tuy nhiên, đến năm 1939, Đức Quốc xã lên nắm quyền được 6 năm, dân số có việc làm lên tới 20 triệu người và đây là thời điểm tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc gia khác ở khu vực Âu – Mỹ vẫn còn khá cao.
Từ quan điểm đàn áp cạnh tranh thương mại, Đức Quốc xã chủ yếu áp dụng việc đàn áp cạnh tranh giá cả. Hoạt động của các doanh nghiệp luôn tồn tại sự cạnh tranh về giá trong các yếu tố liên quan đến thị trường như vốn, nguyên liệu, máy móc thiết bị, bằng sáng chế công nghệ, lao động… Cạnh tranh là một yếu tố không xác định, có thể gây khó khăn cho kế hoạch sản xuất, sự vận hành ổn định của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhìn chung, các doanh nghiệp thường có xu hướng thỏa thuận với các đối thủ cạnh tranh để đạt được sự thống nhất về giá cả và sau đó cùng áp đặt mức phí với người tiêu dùng. Đức Quốc xã chủ yếu thực hiện đàn áp cạnh tranh thông qua các thỏa thuận thể chế khác nhau, trước hết là hiệp hội ngành nghề mang tính độc quyền, tiếp theo là hiệp hội thương mại và hiệp hội người sử dụng lao động, sử dụng ba hiệp hội cốt lõi này để điều phối lợi ích giữa các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiệp hội ngành nghề mang tính độc quyền sẽ đứng ra để quy định mức giá, sắp xếp sản xuất và phân chia thị trường. Hiệp hội thương mại chủ yếu đóng vai trò như một đoàn thể chính trị, tiến hành tổ chức một cách có hiệu quả đối với các hoạt động kinh doanh và nông nghiệp. Hiệp hội người sử dụng lao động sẽ tiến hành kiểm soát đối với người lao động. Do thực hiện một quy trình kiểm soát xã hội một cách triệt để, thế nên lĩnh vực chi phí vốn đã có những chuyển biến hết sức mạnh mẽ, các yếu tố cạnh tranh thương mại mang tính đối kháng trong xã hội như giá nguyên liệu tăng giảm liên tục, công nhân đình công… đều được kiểm soát một cách hiệu quả. Trong môi trường kinh doanh như vậy, tình trạng các doanh nghiệp gặp thất bại ngày càng trở nên hiếm hoi, và các mô thức kinh doanh có thể thay thế cho hệ thống lợi nhuận cũng chẳng thể tồn tại.
Sau khi loại bỏ các mối đe dọa này, hoạt động xã hội của Đức đã cố gắng tiến vào một quỹ đạo mà có thể tránh khỏi khủng hoảng một cách triệt để. Tuy nhiên, loại hệ thống quản lý sản xuất xã hội này sẽ mang tới một mối nguy lớn hơn, đó là toàn bộ hệ thống xã hội không được xoay quanh yếu tố lợi nhuận, và sự phát triển của một hệ thống như vậy có khả năng diễn tiến thành một sự biến dạng nghiêm trọng hơn.
Trên thực tế, xét theo phương thức hoạt động của Đức Quốc xã, bản thân Đức Quốc xã buộc phải gắn liền với bốn nền tảng quyền lực trong xã hội Đức, và dựa trên nền tảng đó để phát triển nên một hệ thống lợi nhuận mang tính cân bằng và được điều tiết. Dù hệ thống đó có hoạt động hiệu quả hay không, nếu Đức Quốc xã rời khỏi các nền tảng quyền lực và hệ thống điều hành kinh tế này, nó chẳng những không thể phát triển, mà còn không thể tồn tại.
Đọc tiếp:
Nhận xét
Đăng nhận xét