Chính sách kinh tế mới của Hitler - phần 9

Nền tảng sức mạnh xã hội của Đức Quốc xã

Nhiều người lầm tưởng rằng chế độ Đức Quốc xã là một chế độ độc tài, nắm trong tay quyền khống chế tất cả các hoạt động của xã hội. Nó có thể tùy ý chi phối tất cả các nguồn lực xã hội, và Hitler có thể quyết định số phận của tất cả người dân. Trên thực tế, Hitler, với tư cách là một chính trị gia, phải dựa vào sự phối hợp của bốn nền tảng quyền lực của xã hội Đức mới có thể vận hành chính phủ.

Trước khi Thế chiến I bùng nổ, vị trí đầu tiên trong nền tảng sức mạnh xã hội của Đức là quân đội, thứ hai là giai cấp địa chủ Junker, thứ ba là giai cấp quan liêu, và cuối cùng là giai cấp tư bản công nghiệp. Trong thời kỳ đế chế, quyền lực quan trọng nhất là quyền lực của triều đình, trong đó hoàng đế sẽ đại diện cho bốn hệ thống quyền lực để điều hành chính quyền. Còn trước và sau giai đoạn Cộng hòa Weimar và Đức Quốc xã lên nắm quyền, mặc dù quyền đế quốc bị sụp đổ, nhưng cơ sở quyền lực xã hội cơ bản vẫn không bị ảnh hưởng, chỉ có trật tự quyền lực xuất hiện sự thay đổi. Tầng lớp tư bản công nghiệp giờ đã đứng đầu, quân đội rút về hàng thứ hai, tầng lớp quan liêu vẫn đứng thứ ba, và tầng lớp địa chủ Junker rơi xuống cuối cùng. Có thể nói, tầng lớp địa chủ Junker trở thành kẻ thua cuộc lớn nhất của hệ thống quyền lực Đức sau Thế chiến I.

Sự suy tàn của tầng lớp địa chủ Junker ở Đức bắt đầu vào năm 1880. Do các yếu tố như sự phát triển của công nghiệp, sự dịch chuyển lao động công nghiệp, thiên tai và thay đổi trong bảo hộ thuế quan vào năm 1895, nông nghiệp Đức đã bước vào thời kỳ suy thoái trong lịch sử. Thời điểm này, tầng lớp địa chủ Junker đã dần rơi vào tình cảnh phá sản, và sự suy giảm về địa vị kinh tế của họ chắc chắn sẽ làm suy giảm ảnh hưởng chính trị của họ.

Sau khi Đức Quốc xã lên nắm quyền, quyền kiểm soát nông nghiệp nằm trong tay chính phủ và Đảng Quốc xã. Chìa khóa cho cái gọi là “khả năng kiểm soát” chính là nắm được quyền định giá. Ai có thể kiểm soát quyền định giá của một lĩnh vực nhất định thì người đó sẽ có quyền kiểm soát tương ứng đối với lĩnh vực đó. Khi tầng lớp địa chủ Junker đánh mất quyền định giá trong lĩnh vực nông nghiệp, đương nhiên họ cũng sẽ đánh mất quyền lực chính trị tương ứng. Vì thế lực quân đội với nòng cốt là các sĩ quan quân đội Phổ có mối quan hệ hết sức sâu sắc với tầng lớp địa chủ Junker, thế nên Hitler phải duy trì lợi ích của tầng lớp địa chủ Junker để hòng duy trì sự ủng hộ của quân đội với Đức Quốc xã. Do đó, Hitler bất đắc dĩ phải bảo vệ lợi ích của tầng lớp địa chủ Junker. Do vậy, Đảng Quốc xã đã đưa ra những bù đắp tương ứng về mặt kinh tế cho tầng lớp địa chủ Junker, cho họ nhận được một số món hời về mặt kinh tế.

Mục đích chính của nhiều dự án nông nghiệp ở Đức vào thời điểm đó là cung cấp một hệ thống giá thị trường nông sản tương đối ổn định cho tầng lớp địa chủ Junker. Các sản phẩm của tầng lớp địa chủ Junker sẽ được bảo hộ trong thị trường này. Đồng thời, do sự kiểm soát chặt chẽ của Đức Quốc xã đối với toàn xã hội, nền tảng của tình trạng bất ổn xã hội do chủ nghĩa tự do đã bị loại bỏ, và toàn bộ thị trường đã loại trừ được sự bất ổn và biến động giá cả do bất ổn chính trị gây ra. Chính phủ Đức Quốc xã cũng áp đặt các biện pháp kiểm soát giá đối với các sản phẩm nông nghiệp, cố định giá thành ở một mức không quá cao nhưng có thể đảm bảo đủ lợi nhuận cho giới địa chủ Junker. Ngoài ra, Đức Quốc xã cũng dành cho giới địa chủ Junker một sự đối xử hào phóng và những đặc quyền tương ứng. Về lợi nhuận kinh tế, giới địa chủ Junker sẽ được hưởng giá nông sản chỉ cao hơn 3% so với năm 1933 năm 1937. Chính phủ cũng cung cấp cho họ sự bảo lãnh và các chính sách ưu đãi khác nhau, như không cho phép các hiệp hội nông nghiệp được thành lập, không cho phép công nhân nông nghiệp đình công và không cho phép các công nhân trong lĩnh vực nông nghiệp đòi tăng lương. Trên thực tế, chính phủ Đức Quốc xã đã cung cấp một mức thu nhập và lợi nhuận tương đối ổn định cho địa chủ Junker bằng cách kiểm soát các công đoàn, kiểm soát các cuộc đình công và điều chỉnh tăng lương. Ngoài ra, Đức Quốc xã đã giảm lãi và thuế đối với khoản vay của giới địa chủ Junker. Từ năm 1933 đến 1936, chi phí lãi vay của các khoản vay khác nhau của tầng lớp địa chủ Junker giảm từ 950 triệu mark xuống còn 630 triệu mark. Lãi suất cho vay nông nghiệp của giới địa chủ Junker giảm 320 triệu mark và doanh thu thuế giảm từ 740 triệu mark xuống còn 460 triệu mark. Điều này cho thấy gánh nặng kinh tế đối với tầng lớp địa chủ Junker đã giảm đi rất nhiều.

Ngoài ra, tầng lớp địa chủ Junker được miễn hoàn toàn nghĩa vụ trả bảo hiểm thất nghiệp cho chính phủ và nhà nước. Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp được thành lập tại Đức vào thời điểm đó là hệ thống phúc lợi xã hội sớm nhất trên thế giới, nhưng tầng lớp địa chủ Junker đã được miễn khỏi gánh nặng này. Từ năm 1932 đến 1933, tầng lớp địa chủ Junker hưởng lợi tổng cộng 19 triệu mark từ việc không phải nộp bảo hiểm thất nghiệp. Vấn đề lớn nhất từ lâu đã quấy nhiễu và đe dọa tầng lớp địa chủ Junker là tình trạng phá sản vì nhiều lý do khác nhau. Mối đe dọa phá sản này lại tiếp tục được chính phủ Đức Quốc xã xóa bỏ một cách đầy “chu đáo”. Cho dù là chính phủ hay người cho vay tư nhân đều không được phép đòi nợ giới địa chủ Junker, tránh việc khiến cho Junker rơi vào tình cảnh phá sản.

Chính sách nông nghiệp mà Đức Quốc xã theo đuổi có lợi cho các chủ nông trại lớn hơn là các chủ nông trại nhỏ, lợi ích của giới địa chủ Junker thu được càng lớn, sự ủng hộ của họ đối với Đức Quốc xã càng cao, thông qua hàng loạt các chính sách này để củng cố sự ủng hộ của giai cấp Junker đối với Đức Quốc xã.

Một trong những mục đích chính của việc Hitler lôi kéo tầng lớp địa chủ là hòng giành được sự ủng hộ của quân đội. Thành phần tinh hoa của giới sĩ quan quân đội Phổ đều là giai cấp địa chủ Junker. Tất cả các tướng lĩnh trong quân đội Đức có tên đệm “von” (von) đều là hậu duệ của các gia tộc Junker. Junker và quân đội cùng chung một hơi thở, môi hở răng lạnh.

Các sĩ quan quân đội Phổ, với tư cách là nòng cốt và tinh hoa của quân đội Đức lại chịu ảnh hưởng bởi Đức Quốc xã nhiều hơn so với Cộng hòa Weimar. Trong kỷ nguyên của Cộng hòa Weimar, các sĩ quan quân đội sẽ không bao giờ tham gia vào vụ mưu sát một vị tướng, nhưng trong thời đại của Hitler, chuyện này lại xảy ra thường xuyên. Điều này thể hiện rằng lực lượng quân sự đang dần dần suy yếu, nhưng sự suy giảm này không liên quan đến Đảng Quốc xã, mà liên quan đến mối quan hệ với nhà nước.

Trên thực tế, Đảng Quốc xã không hoàn toàn kiểm soát quân đội. Trong giai đoạn của Đệ tam Đế quốc, quân đội Đức chủ yếu do chính phủ kiểm soát và Đảng Quốc xã không trực tiếp kiểm soát quân đội. Đó là bởi Đức Quốc xã không thể trực tiếp kiểm soát quân đội Đức, mà họ đã thành lập quân đội của riêng mình lấy tên là Đảng Vệ quân (SS), giữa SS và quân đội chính quy của Đức luôn tồn tại xích mích. Nói cách khác, phần lớn quân đội Đức không chịu sự kiểm soát hoàn toàn của Hitler.

Thời điểm đó, luật pháp Đức tuyên bố rõ rằng các thành viên vũ trang của quân đội không thể đồng thời là thành viên của Đảng Quốc xã. Vì quân đội Đức có truyền thống mãi mãi tuân theo nguyên thủ quốc gia, nên khi Hitler trở thành nguyên thủ quốc gia, ông ta đã khéo léo sử dụng cơ hội này để yêu cầu quân đội thề trung thành với mình. Lý do khiến quân đội cho phép hành vi như vậy xảy ra là vì về cơ bản họ đã đồng ý với các chính sách được thúc đẩy bởi Đảng Quốc xã. Từ năm 1938 đến 1939, hầu như không có tướng quân đội nào của Đức phản đối Hitler vì họ chẳng có lý do gì để phản đối cả. Kết quả của việc Hitler thực hiện các nguyên tắc và chính sách của mình cũng chính xác là những gì các tướng lĩnh quân đội cấp cao này hy vọng đạt được. Nhưng từ sau năm 1939, một số tướng lĩnh của quân đội bắt đầu đặt câu hỏi về các quyết định của Hitler và nghi ngờ khả năng phán đoán của ông ta. Tuy nhiên, những tướng lĩnh cấp cao của các lực lượng vũ trang này không thể tạo thành một mặt trận thống nhất và họ không đủ sức tạo nên một ảnh hưởng quyết định nhằm chống lại Hitler.

Đánh giá về tình hình của giai cấp quan liêu, về tổng thể mà nói, quyền lực của họ bị suy yếu rất nhiều. Rất nhiều người Do Thái và những người có tư tưởng chống phát xít làm việc trong chính phủ được yêu cầu nghỉ hưu sớm. Hệ thống phân tầng quan liêu của Đế quốc Đức cũ bao gồm hai dạng quan liêu: nền tảng học thuật và nền tảng phi học thuật. Các quan chức có nền tảng học thuật thuộc về cấp trung và cấp trên của tầng lớp quan liêu. Những người này đã được chứng nhận về khả năng học thuật, thế nên chính quyền Đức Quốc xã ít tác động đến họ. Tuy nhiên, bộ máy quan liêu cấp thấp hơn bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là một số quan chức cấp thấp không có kỹ năng đặc biệt, rất nhiều người trong số này đã được thay thế bằng các thành viên của Đảng Quốc xã. Đến năm 1939, có 1,5 triệu công chức ở Đức, trong đó 282.000 người là thành viên của Đảng Quốc xã.

Chính sách bài trừ những người không thuộc chủng tộc Aryan và sự bất ổn chính trị của Đức Quốc xã năm 1933 chỉ ảnh hưởng đến 1,1% số công chức thuộc thượng tầng. Còn các quan chức cấp dưới, đặc biệt là các nhân viên mới được tuyển dụng, chủ yếu đều là các đảng viên của Đức Quốc xã. Năm 1937, Luật Công chức Đức không yêu cầu rõ ràng công chức phải trở thành thành viên của Đảng Quốc xã, nhưng họ được yêu cầu bắt buộc phải trung thành với tư tưởng của Đức Quốc xã. Tuy nhiên, trong tầng lớp công chức này, công việc hằng ngày của họ không bị hạn chế bởi Hiến pháp của Đảng Quốc xã, mà bị hạn chế bởi Luật Công vụ, vốn có quyền ưu tiên cao hơn trong hệ thống quan liêu. Xét về tổng thể, các công chức cấp thấp chịu nhiều ảnh hưởng từ Đảng Quốc xã hơn, trong khi các công chức cấp trên về cơ bản vẫn duy trì các trạng thái làm việc và phương pháp làm việc trước đây của họ.

Xét từ góc độ của các nhà tư bản Đức, phần lớn trong số họ không bị Đức Quốc xã ảnh hưởng và can thiệp. Giai cấp tư bản chủ yếu duy trì mô thức tự kiểm soát, không bị Đức Quốc xã quản chế. Nhìn chung, ngành công nghiệp và thương mại Đức vào thời điểm đó sở hữu một địa vị không hề tầm thường. Đầu tiên, các nhà tư bản công nghiệp và tư bản thương mại là những giai cấp đã đạt được quyền lực đáng kể sau khi Đức Quốc xã nắm quyền. Thứ hai, những nhân sĩ trong giai cấp tư bản công nghiệp và tư bản thương mại đã không được tổ chức lại với quy mô lớn, họ cũng không bị kiểm soát và hạn chế theo nguyên tắc trung thành với một nhà lãnh đạo. Chính phủ Đức Quốc xã về cơ bản không can thiệp vào hoạt động tự do của công nghiệp và thương mại, và Đảng Quốc xã không có quyền kiểm soát đối với các nhà tư bản công nghiệp nói chung, trừ phi xảy ra tình trạng chiến tranh.

Quan điểm truyền thống cho rằng, Đức Quốc xã đã thực thi một hệ thống chính trị của chủ nghĩa tư bản nhà nước và chế độ độc tài hoàn toàn. Trên thực tế, cách hiểu này là không chính xác, bởi vì Đức không thực sự thiết lập một mô hình tổ chức như vậy. Cần phải nói rằng hệ thống của Đức Quốc xã là một kiểu chủ nghĩa tư bản độc tài, nhưng nó không phải là chủ nghĩa tư bản độc đoán. Đặc điểm chính của nó là tổ chức hiệu quả của toàn xã hội. Để đáp ứng mục đích của chủ nghĩa tư bản trong việc theo đuổi lợi nhuận.

Trích "Chương 6, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét