Chính sách kinh tế mới của Hitler - phần 5

Hitler gặp vận may

William J. Donovan
Donovan (William Joseph "Wild Bill" Donovan)

Ngay từ đầu những năm 1920, các chủ ngân hàng quốc tế bắt đầu tìm kiếm các tác nhân chính trị có thể đảm nhận trách nhiệm lịch sử ở Đức. Họ chú ý đến các đảng phải chính trị khác nhau nổi lên sau chiến tranh ở Đức, cố gắng tìm ra "cổ phiếu siêu nguyên bản" có thể mang lại lợi nhuận đáng kinh ngạc. Chính đảng nhỏ bé với vỏn vẹn vài chục người của Hitler cũng lọt vào tầm mắt của họ.

Hệ thống tình báo của các ngân hàng quốc tế hoạt động rất hiệu quả. Đầu tháng 2 năm 1920, Morgan đã sắp xếp cho Donovan tới châu Âu để tiến hành gặp gỡ bí mật, trả cho Donovan 200.000 đô-la để khảo sát một cách có hệ thống tất cả các phương diện của châu Âu sau chiến tranh. Chính trong chuyến đi tới châu Âu này, Donovan đã gặp Hitler ở Berchtesgaden, Bavaria, Đức và đàm luận với Hitler suốt một đêm. Ông nghĩ rằng Hitler là một "người trò chuyện thú vị". Donovan chính là người sáng lập Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS), người khởi tạo nên Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA).

Tất nhiên, lần tiếp xúc này chỉ mang tính chất hết sức sơ bộ. Các đảng phái chính trị ở Đức vào thời điểm đó nhiều như nấm mọc sau mưa. Công cuộc "đầu tư mạo hiểm" của Phố Wall cần phải tiến hành thêm một bước khai phá và chọn ra loại "cổ phiếu nguyên bản" thực sự có tiềm năng giữa hàng ngàn những ứng cử viên khác nhau.

Khi cơn sốt đầu cơ đồng mark Đức kết thúc vào năm 1924, cơn bão siêu lạm phát cuối cùng cũng đã tan. Sau khi Phố Wall khống chế được huyết mạch của nền kinh tế Đức, kế hoạch Dawes của Mỹ chính thức được thực thi thì một lượng vốn khổng lồ từ nước ngoài tràn vào. Nền kinh tế Đức cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ, nhưng ảnh hưởng của Đức Quốc xã cũng bị thu hẹp nhanh chóng. Trên thực tế, người dân Đức cũng giống như những người dân bình thường trên thế giới, an cư lạc nghiệp, cơm no áo ấm là những truy cầu quan trọng nhất của họ.

Những sự chém giết chết chóc của thời loạn và những thăng trầm trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế không phải là điều mà họ mong muốn. Một khi hòa bình, người dân Đức sẽ sớm quên đi nỗi đau và thảm họa của quá khứ. Từ năm 1924 đến 1929, các hoạt động của Đức Quốc xã rơi vào tình trạng "thủy triều thấp", Hitler đành phải dấn thân vào trò chơi chính trị nghị viện vốn không phải là sở trường của ông ta.

Mặc dù các tổ chức cơ sở của Đức Quốc xã đã mọc lên khắp nơi ở Đức, những tỷ lệ ủng hộ cử tri của Đảng Quốc xã lại khá hẩm hiu. Lý do là Đảng Quốc xã có màu sắc cực đoan và bạo lực. Thời điểm này, xã hội Đức đã dần ổn định và nền kinh tế được cải thiện. Người dân đương nhiên có tâm lý xa lánh với Đảng Quốc xã vì đường lối dân tộc cực đoan. Trong cuộc Tổng tuyển cử ở Đức được tổ chức vào tháng 5 năm 1928, Đảng Quốc xã chỉ giành được 12 ghế trong Quốc hội, với tỷ lệ bỏ phiếu ít đến mức đáng thương là 2,6%. Năm đó là liên minh cánh tả do Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Cộng sản Đức đại diện giành được 40,4% phiếu bầu, Đảng Trung ương Công giáo giành được 15% và một số đảng cánh hữu khác, như Đảng Nhân dân Đức, chia nhau 42% còn lại.

Hitler là một hình mẫu kiêu hùng thời loạn. Nếu vào lúc quốc gia đại trị, đất nước an định thì ông ta sẽ chẳng nào ngóc đầu lên được.

Đảng Quốc xã giống như một con cá bị mắc cạn trên bờ biển, chẳng còn sống được bao lâu nữa. Thời điểm này, cuộc khủng hoảng kinh tế càn quét thế giới năm 1929 bất thần nổ ra, nền kinh tế Đức lập tức lao dốc không phanh. Năm 1930, dân số thất nghiệp ở Đức lên tới 2 triệu người, và năm 1932 đã tăng vọt lên 6 triệu người. Đảng Quốc xã đã ngay lập tức nắm bắt cơ hội lịch sử này và cáo buộc Hòa ước Hòa bình Versailles và điều khoản bồi thường chiến tranh đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế Đức, chỉ trích sự yếu kém và bất tài của chính phủ, và đẩy người dân vào tình tế nước sôi lửa bỏng. Suy thoái kinh tế và bất ổn xã hội khiến người dân Đức hoàn toàn mất niềm tin vào Cộng hòa Weimar. Những ký ức đau đớn về bảy năm bắt đầu xuất hiện trở lại, nhưng mức độ và thời gian của cuộc khủng hoảng này vượt xa so với năm 1923, và người Đức bắt đầu quay sang ủng hộ Đức Quốc xã. Trong cuộc tổng tuyển cử tháng 9 năm 1930, Đảng Quốc xã đã giành được 18,3% số phiếu. Lần đầu tiên, họ vượt qua Đảng Cộng sản Đức và trở thành đảng lớn thứ hai trong Quốc hội sau Đảng Dân chủ Xã hội. Trong cuộc tổng tuyển cử tháng 7 năm 1932, Đảng Quốc xã đã giành được 37,4% số phiếu, vượt qua 36,2% số phiếu của Đảng Dân chủ Xã hội và trở thành đảng phái lớn nhất trong Quốc hội.

Thấy đà phát triển của Đức Quốc xã, cuối cùng các chủ ngân hàng quốc tế quyết định đặt cược tài sản vào Hitler.

Tháng 11 năm 1933, một cuốn sách nhỏ bất thần xuất hiện ở Hà Lan, trong đó có một vài đoạn hội thoại giữa một chủ ngân hàng tên Sidney Warburg và Hitler, đề cập đến một số nhà công nghiệp và tài chính hàng đầu của Mỹ, bao gồm Rockefeller và Henry Ford. Sau khi Hitler lên nắm quyền, họ đã cung cấp cho ông khoản tài trợ khổng lồ lên tới 32 triệu đô-la thông qua JP Morgan và tập đoàn ngân hàng Chase Manhattan. Cuốn sách đã bị cấm vào năm 1934. Anh em nhà Warburg – những người được cho là lãnh đạo công ty IG Farben của Mỹ và Đức mà cuốn sách ám chỉ, cũng một mực phủ nhận rằng có liên quan đến nội dung cuốn sách. Nhưng các chi tiết trong cuốn sách lại hết sức phù hợp với nhiều dữ liệu trong thế giới thực, dần dần nó được cho là một minh chứng cho sự hợp tác giữa các nhà đầu tư quốc tế ở Phố Wall và Đức Quốc xã.

Một chủ ngân hàng quốc tế khác được xác nhận đã tài trợ cho Hitler là Nam tước Côte von Schroeder. Gia tộc Schroeder cũng là một trong số “17 gia tộc ngân hàng quốc tế lớn nhất thế giới”, với các chi nhánh ngân hàng ở London và New York. Schroeder và Rockefeller đã thành lập một ngân hàng liên doanh tại New York vào năm 1936, và cháu trai của John Rockefeller đã từng là phó chủ tịch và giám đốc.

Schroeder tốt nghiệp Đại học Bonn và gia nhập Lực lượng Phòng vệ Đế quốc trong Thế chiến I. Sau chiến tranh, ông gia nhập ngân hàng Stan ở Köln và trở thành đối tác của ngân hàng này. Niềm tin chính trị cánh hữu của Schroeder khiến ông luôn tỏ thái độ đồng cảm và tài trợ cho Đảng Quốc xã. Ông đã tạo điều kiện cho cuộc gặp giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Đức Papen và Hitler. Cuộc họp này đã giúp Hitler trở thành thủ tướng trong tương lai.

Schroeder cũng là một nhân vật quan trọng trong vòng tròn kinh tế cốt lõi của Đức Quốc xã. Vòng tròn này còn được gọi là “Vòng tròn Kepler”, người sáng lập là Wilhelm Kepler. Kepler là một doanh nhân thượng lưu điển hình, với mạng lưới quan hệ chính trị rộng khắp và khứu giác chính trị nhạy bén. “Vòng trong Kepler” bước đầu được thành lập vào năm 1931. Hitler đã có một cuộc thảo luận sâu sắc với Kepler. Khi ông nói về sự cần thiết của việc thành lập một nhóm các doanh nhân đáng tin cậy để cung cấp những lời tư vấn sau khi Đức Quốc xã lên nắm quyền, Hitler nói: “Hãy tím kiếm một số nhà lãnh đạo trong giới kinh doanh, có thể bây giờ họ không phải là thành viên của Đức Quốc xã, nhưng sau khi đảng lên nắm quyền thì họ sẽ phục vụ chúng tôi.”

Kepler thực sự không phụ lại sứ mệnh của mình. Những nhân vật ông tuyển để kết nạp vào vòng tròn của Hitler bao gồm:

  • Fritz Kranefuss: trợ lý của Himmler;
  • Karl Vincenz Krogmann: Thị trưởng Hamburg;
  • August Rosterg: Tổng Giám đốc Công ty con IG Farben;
  • Emil Meyer: Giám đóc Tập đoàn Điện báo và Điện thoại Quốc tế Hoa Kỳ (ITT) và Giám đốc Công ty Điện khí Thông dụng;
  • Otto Steinbrinck: Phó Chủ tịch Công ty Gang thép Liên hợp;
  • Hjalma Schacht: Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Đế quốc;
  • Emil Helffrich: Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Dầu mỏ Đức Mỹ trực thuộc Công ty Dầu mỏ Mobil;
  • Friedrich Reinhardt: Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại;
  • Ewald Hecker: Chủ tịch Hội đồng Quản trị ILSEDER HUTTER;
  • Graf von Bismarck: Chủ tịch Điều hành Studdin.

Kepler được bầu vào Quốc hội Đế quốc năm 1933 và từng có thời gian là cố vấn tài chính cho Hitler. Chỉ trong vòng vài năm, ông đã “vớ bẫm” khi kiếm được vai trò điều hành trong một vài công ty, bao gồm cả chức chủ tịch hội đồng quản trị hai công ty con của Tập đoàn IG Farben. IG Farben và Công ty Dầu mỏ Mobil có liên quan chặt chẽ với nhau. IG Farben đã có được công nghệ sản xuất xăng tổng hợp từ Công ty Dầu mỏ Mobil. Sau khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu, họ đã gấp rút chuyển nhượng hơn 2.000 bằng sáng chế nước ngoài cho Mobil.

Công ty Điện tín và Điện thoại Quốc tế Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1921 bởi anh em Sosthenes Behn và Hernand Behn, và được kiểm soát bởi gia tộc Morgan. Cuộc gặp đầu tiên giữa Behn và Hitler là vào tháng 8 năm 1933 tại Berchtesgaden. Sau dó, Behn được tuyển dụng vào “vòng tròn Kepler” và có dịp gặp gỡ Schroeder. Behn đánh giá rất cao mối quan hệ mật thiết giữa Schroeder với Hitler và Đức Quốc xã, và mời Schroeder trở thành người bảo vệ lợi ích của Công ty Điện tín và Điện thoại Quốc tế Hoa Kỳ. Schroeder đã giúp Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ đầu tư vào các xí nghiệp quân sự có thể sinh lời rất lớn ở Đức (bao gồm Focke-Wulf, nơi sản xuất máy bay chiến đấu) và nhậm chức trong hội đồng quản trị của các xí nghiệp này. Lợi nhuận của Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ lại được tái đầu tư vào các xí nghiệp này. Theo cách đó, trong Thế chiến II, Hitler đã sử dụng máy bay chiến đấu do Hoa Kỳ đầu tư sản xuất để chống lại chính Hoa Kỳ và các đồng minh. Schroeder có thể coi là một nhân vật chủ chốt. Không chỉ vậy, ông còn chuyển tiền tài trợ của Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ cho Himmler – lãnh đạo của tổ chức đặc vụ Gestapo. Số tiền quyên góp của Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ chiếm tới ¼ tổng số tiền mà các công ty Hoa Kỳ quyên góp cho Gestapo trong chiến tranh.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, hồ sơ thẩm vấn của quân Đồng minh đối với Kurt von Schroeder vào ngày 19/11/1945 đã giải thích về mối quan hệ sâu sắc giữa Schroeder, Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ và Đức Quốc xã:

Hỏi: Trong hồ sơ trước đó, anh nói rằng đã có liên hệ với một số công ty Đức liên quan đến Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ hoặc Công ty Điện khí Thông dụng. Các công ty đó có bất kỳ mối liên hệ nào với các công ty khác của Đức không?

Trả lời: Có. Công ty Lorentz nắm giữ 25% cổ phần của Focke-Wulf tại Bremen trước chiến tranh. Focke-Wulf sản xuất máy bay chiến đấu cho Không quân Đức. Tôi tin rằng sau khi Focke-Wulf hấp thụ thêm vốn do nhu cầu mở rộng, cổ phiếu do Lorentz nắm giữ đã giảm xuống chỉ còn dưới 25%.

Hỏi: Vậy điều này đã xảy ra sau khi đại tá Benni nắm giữ gần 100% cổ phần của Công ty Lorentz thông qua Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ?

Trả lời: Vâng.

Hỏi: Có phải đại tá Benni chấp thuận việc Lorentz mua cổ phần của Focke-Wulf?

Trả lời: Tôi tin chắc rằng đại ta Benni đã đồng ý trước khi người đại diện của ông ấy tại Đức chính thức phê chuẩn.

Hỏi: Lorentz mua 25% cổ phần của Focke-Wulf vào năm nào?

Trả lời: Tôi nhớ là ngày trước khi chiến tranh bùng nổ, nghĩa là trước cuộc xâm lược Ba Lan.

Hỏi: Westerick có biết tất cả các chi tiết về việc mua 25% cổ phần Focke-Wulf của Lorentz không? (Westerick hoạt động như một điệp viên Đức trong Thế chiến I và Thế chiến II.)

Trả lời: Vâng, ông ấy biết rõ hơn tôi.

Hỏi: Số tiền đầu tư của Lorentz là bao nhiêu?

Trả lời: Ban đầu là 250.000 mark và sau đó tăng thêm không ít. Tôi không nhớ chính xác là bao nhiêu.

Hỏi: Có phải đại tá Benni có cơ hội chuyển hết lợi nhuận kiếm được ở Đức về Hoa Kỳ trước khi chiến tranh nổ ra?

Trả lời: Vâng. Lợi nhuận được chuyển trở lại Hoa Kỳ sẽ bị giảm bớt một chút vì chênh lệch tỷ giá hối đoái, nhưng tuyệt đại đa số khoản lợi nhuận đó sẽ quay trở lại Hoa Kỳ. Đại tá Benni đã không làm điều này và không yêu cầu tôi làm như vậy. Dường như ông ấy sẵn sàng để lại lợi nhuận để tiếp tục đầu tư vào công xưởng, thiết bị cùng các xí nghiệp quân sự khác. Công ty Haas ở Berlin là một trong số đó. Haas sản xuất các thành phần vô tuyến và radar quân sự. Tôi nhớ Lorentz đang nắm giữ 50% cổ phần của Haas.

Hỏi: Anh đã là giám đốc của Lorentz từ năm 1935. Trong thời gian này Lorentz và Focke-Wulf tham gia sản xuất thiết bị quân sự. Anh có biết hoặc nghe nói rằng đại tá Benni hoặc đại diện của ống ấy đã lên tiếng phản đối các công ty xây dựng bộ máy chiến tranh này của Đức? Điều này đã xảy ra khi đại tá Benni nắm giữ gần 100% cổ phần của Công ty Lorentz thông qua Công ty Điện tín và Điện thoại Hoa Kỳ?

Trả lời: Không biết.

Vòng tròn Kepler ngày càng trở nên thân cận hơn với Himmler, nó cũng được gọi là “Vòng tròn Himmler”. Trong một lá thư gửi cho “đồng nhân” Emile Meyer – một nhân tố trong Vòng tròn Himmler vào ngày 25 tháng 2 năm 1936, Schroeder đã mô tả mục đích và yêu cầu của Vòng tròn Himmler, cùng với đó là mục tiêu lâu dài liên quan đến tài khoản “S” đặc biệt được mở tại Ngân hàng Stan ở Köln.

Thân gửi vòng tròn bằng hữu của lãnh tụ Đệ tam Đế chế:

Khi kết thúc chuyến đi kéo dài hai ngày tới Munich theo lời mời của lãnh tụ Đệ tam Đế chế, vòng tròn bằng hữu đã đồng ý mở một tài khoản đặc biệt mang mật danh S tại Ngân hàng Stan ở Köln dưới quyền chi phối của lãnh tụ đế quốc. Nguồn tiền trong đó được sử dụng cho các nhiệm vụ nằm ở bên ngoài lãnh thổ. Bằng cách này, lãnh tụ của đế quốc có thể nhờ cậy vào tất cả các bạn bè của mình. Tại Munich, mọi người quyết định rằng nên để người ký tên đứng ra thiết lập và xử lý tài khoản. Đồng thời, chúng tôi muốn nói với mỗi người tham gia rằng nếu người đó đại diện cho công ty hoặc vòng tròn bằng hữu để quyên góp tiền cho các nhiệm vụ của lãnh tụ đế quốc, vậy khoản tiền quyên góp đó cần được gửi vào tài khoản S đặc biệt được lập tại Ngân hàng Stan ở Köln. Đây là tài khoản mà mọi thành viên trong vòng tròn bằng hữu nhất trí sử dụng (tài khoản thanh toán đế quốc, tài khoản séc bưu chính số 1392).

Hitler muôn năm!
Kurt von Schroeder

Bức thư giải thích lý do tại sao sau chiến tranh, Đại tá lục quân Bogdan (cựu lãnh đạo Ngân hàng Schroder của New York) nghĩ trăm phương ngàn kế để chuyển hướng cuộc điều tra từ Ngân hàng Stan ở Köln sang các ngân hàng lớn dưới thời Đức Quốc xã. Bởi vì Ngân hàng Stan đang che giấu sự câu kết của các công ty đa quốc gia của Mỹ với chính quyền Đức Quốc xã trong Thế chiến II.

  • Do tích cực hỗ trợ cho Đức Quốc xã nên Schroeder đã được đền đáp xứng đáng sau khi Đức Quốc xã lên nắm chính quyền, Schroeder lần lượt giữ các vị trí sau:
  • Đại diện của Đức của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế;
  • Cố vấn trưởng cho Ngân hàng Đế quốc Đức;
  • Nhà lãnh đạo cao cấp của Gestapo, Huân chương Thập tự Sắt hạng nhất, hạng nhì;
  • Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Verkehrs-Kredit-Bank (do Ngân hàng Đế quốc kiểm soát);
  • Tổng lãnh sự tại Thụy Điển.

Sau chiến tranh, Kurt von Schroeder đã bị toàn án Đức kết án phạm tội ác “chống lại loài người”. Cuối cùng chủ ngân hàng quốc tế nổi tiếng này chỉ bị kết án ba tháng tù giam.

Max Warburg
Max Warburg

Tội ác “chống lại loài người” không phải là tội nhỏ, nhưng Schroeder – người trực tiếp tài trợ cho Hitler trong Thế chiến II và bị “bắt tận tay, day tận mặt” lại chỉ bị án 3 tháng mang tính tượng trưng. Trong phần sau đây, chúng ta còn được biết câu chuyện của cựu Bộ trưởng Tài chính Đức Quốc xã và người đứng đầu Ngân hàng Trung ương Đức Quốc xã, Schacht – người chịu trách nhiệm huy động tài chính trong toàn bộ quá trình chiến tranh, đã được thả tự do ngay trong phiên toàn. Có vẻ như Schroeder vẫn có lý do để kêu oan vì đã bị phạt tù ba tháng.

Ngoài Schroeder, một trong “17 gia tộc ngân hàng quốc tế lớn nhất thế giới” thì Max Warburg, người đã tham gia tài trợ cho Hitler cũng là một nhân vật hết sức quan trọng.

Trích "Chương 6, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét