Chính sách kinh tế mới của Hitler - phần 13

“Tiền Feder”: tiền xanh Lincoln ở Đức

Gottfried Feder - “Tiền Feder”: tiền xanh Lincoln ở Đức
Gottfried Feder

Lý thuyết mà Feder luôn kiên trì theo đuổi là lý thuyết giá trị danh nghĩa của tiền của Georg Friedrich Knapp. Cuốn sách Lý thuyết về tiền tệ nhà nước của ông có nói, tiền tệ là một loại sản vật của pháp luật. Do đó, khi nghiên cứu lý luận về tiền tệ thì chúng ta phải nghiên cứu về lịch sử của pháp luật. Một cột mốc quan trọng trong phát triển xã hội là hợp pháp hóa các công cụ thanh toán. Đánh giá thế nào là tiền, đâu là tiền thì chỉ có một tiêu chí, đó là liệu loại tiền tệ này có thể được sử dụng như một phương tiện thanh toán được chính phủ chấp nhận hay không. Trong lý luận này, chính phủ có quyền định nghĩa tiền tệ và không còn phụ thuộc vào vàng vốn bị kiểm soát bởi bàn tay của các chủ ngân hàng quốc tế. Miễn là chính phủ chấp nhận, họ có thể tự ý chỉ định một hòn đá hoặc một cây gậy làm một loại tiền tệ pháp định, dùng để nộp thuế cho chính phủ. Nói cách khác, tiền sẽ chẳng bao giờ được coi là có tính khan hiếm, và cũng không được lưu trữ như của cải. Nó chỉ đơn giản là một biểu tượng lưu thông được sử dụng trong quá trình giao dịch và không yêu cầu bất kỳ giá trị nội tại nào.

Năm 1932, Cương lĩnh kính tế khẩn cấp của Đảng Quốc xã đã giải thích chính sách hóa đối với lý luận này, nó bác bỏ quan điểm “lý thuyết về sự thiếu hụt nguồn vốn” đang khá phổ biến lúc bấy giờ. Nếu tiền chỉ được sử dụng như một biểu tượng giao dịch thì chắc chắn sẽ không tồn tại vấn đề về “sự khan hiếm”. Cương lĩnh nêu rõ: “Vấn đề kinh tế của chúng ta không phải do thiếu phương tiện sản xuất, mà thực tế là do các phương tiện sản xuất hiện tại không được sử dụng đẩy đủ. Muốn giảm bớt thất nghiệp, nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay là sử dụng triệt để các tư liệu sản xuất đang trong tình trạng nhàn rỗi. Hồi sinh thị trường nội bộ thông qua một số chương trình lao động công cộng, như khai khẩn đất hoang, cải tạo thổ nhưỡng, xây dựng đường cao tốc và kênh rạch, xây dựng các khu nhà ở cho công nhân. Để huy động vốn cho những chương trình này thì cần phải sử dụng rộng rãi các khoản vay mang tính sản xuất. 20% đến 30% loại hình cho vay này có thể được thực hiện thông qua việc gây quỹ, và phần còn lại có thể huy động được thông qua việc tiết kiệm trợ cấp thất nghiệp và tăng thuế.”

Tiêu dùng cho “các khoản vay mang tính sản xuất” tới từ đâu? Quan điểm của Feder là, hoàn toàn bỏ qua những hạn chế của lý thuyết tiền tệ truyền thống và thoát khỏi những hạn chế của dự trữ vàng và dự trữ ngoại hối, chính phủ có thể tạo ra một hình thức tiền tệ mới tên là “hối phiếu công ăn việc làm” để cung cấp các khoản vay mang tính sản xuất. Ý tưởng của Feder mang màu sắc “phi chính quy” hết sức mạnh mẽ. Theo quan điểm của ông, một bên là rất nhiều “tư liệu sản xuất nhàn rỗi” và sức lao động, một bên là “lý thuyết về sự thiếu hụt nguồn vốn”, trong khi các nhà lý thuyết chính thống nhấn mạnh rằng, do thiếu hụt tiền tệ nên mới xảy ra tình trạng nhàn rỗi của tư liệu sản xuất và sức lao động. Sách vở của họ nói rằng tiền phải được cung cấp bởi các chủ ngân hàng “có trách nhiệm”, trong khi đó hiện tại thì các chủ ngân hàng không muốn cung cấp, vì vậy khủng hoảng kinh tế rất khó khắc phục. Feder thì tin rằng logic này hoàn toàn vô lý. Một người đang sống sờ sờ há có thể chết vì bí tiểu? Nếu các chủ ngân hàng không muốn cung cấp tiền, thì chính phủ có thể trực tiếp tạo ra tiền tệ. Một khi loại “tiền tệ mới để tạo ra công ăn việc làm” này được rót vào nền kinh tế thực thể thì nó sẽ ngay lập tức tận dụng được các tư liệu sản xuất và lao động nhàn rỗi, từ đó tạo ra của cải và cơ hội việc làm.

Schacht, người xuất thân từ trường lớp chính quy đã có một cuộc tranh cãi qua lại với Feder về phương án “tiền tệ mới” của Keith. Schacht, người đại diện cho lợi ích của các chủ ngân hàng, đã vô cùng phẫn nộ với cách chính phủ dự định bỏ qua hệ thống ngân hàng và trực tiếp tạo ra tiền tệ. Ông thậm chí chỉ trích kiến nghị của Feder là “một ý tưởng điên rồ và cực đoan bắt nguồn từ các nhóm lợi ích, với mục đích là lật đổ hoàn toàn hệ thống tiền tệ và ngân hàng của chúng ta. “Schacht đã thuyết phục Hitler không nên “đưa ý tưởng ngu ngốc, lố bịch và nguy hiểm này vào thực tế. Những ý tưởng ngu ngốc này thường xuất phát từ những hiểu biết hết sức ngu ngốc về ngân hàng và tiền tệ trong nội bộ Đảng Quốc xã”.

Hitler, một nhân vật “lão mưu thâm toán” đã hiểu rõ về lý luận của Feder và cũng hiểu được lập trường của Schacht. Do vừa mới nắm quyền nên Hitler không muốn đắc tội với Schacht và các thế lực tài chính đằng sau ông ta. Do đó, một mặt ông ta “mời” Feder – người đặt nền móng cho lý thuyết kinh tế của Đức Quốc xã và cũng là vị “nguyên lão” góp công xây dựng Đảng đảm nhận một chức vụ “hư danh” trong chính phủ, mặt khác để Schacht đảm nhận chức Bộ trưởng Kinh tế, để thể hiện thái độ khiêm tốn và “nghe lời” của mình đối với nhóm quyền lực tài chính. Tuy nhiên, Hitler đã hạ quyết tâm, nhất định phải triển khai “hối phiếu công ăn việc làm” vào thực tiễn, hạ lệnh Schacht đưa ra một bản kế hoạch càng sớm càng tốt.

Schacht không thể gánh vác được trọng trách mà Hitler giao cho, vì vậy ông đã đưa ra một loạt các phương án thực hiện. Schacht đề xuất thành lập một công ty ma tên là MEFO (Metallurgische Forschungsgesellschaft) với số vốn đăng ký chỉ 1 triệu mark. Có thể lý giải công ty này là đại diện của chính phủ Đức, MEFO sẽ “thu mua” các sản phẩm và dịch vụ từ những công ty có khả năng tạo ra công ăn việc làm, phương thức thanh toán là sử dụng “hối phiếu công ăn việc làm”, đây là một loại hối phiếu ngắn hạn với lãi suất 4,5% và thời hạn 3 tháng, trước khi hết hạn có thể tiến hành gia hạn liên tục, thời hạn tối đa là không quá 5 năm.

Khi chủ doanh nghiệp nhận được “hối phiếu công ăn việc làm”, họ có thể đến bất kỳ ngân hàng nào của Đức để tiến hành “chiết khấu”, lấy tiền mặt bằng đồng mark của Đức, sau đó thuê công nhân, mua nguyên liệu thô và tổ chức sản xuất. Các ngân hàng sau khi nhận được “hối phiếu công ăn việc làm” thì có thể tự giữ lại lượng hối phiếu này, hoặc có thể gửi chúng đến Ngân hàng Trung ương để “tái chiết khấu” và nhận về tiền mặt.

“Hối phiếu công ăn việc làm” thuộc một dạng “cải cách tài chính” tương đối mang tính phòng vệ của Đức Quốc xã, và hiệu quả nó mang đến rất rõ ràng. Nó được thiết kế để giải quyết hàng loạt những thách thức quan trọng.

Đầu tiên, các quốc gia đồng minh, đặc biệt là Pháp, đặt ra hạn mức pháp lý 100 triệu mark để Ngân hàng Trung ương Đức trực tiếp phát hành tín dụng cho chính phủ Đức. Họ lấy cớ là để ngăn chặn sự tái xuất hiện của tình trạng siêu lạm phát, nhưng thực tế nó hạn chế nghiêm ngặt khả năng chi tiêu của chính phủ Đức, dùng biện pháp tài chính để ngăn ngừa việc Đức tăng cường sức mạnh quân đội với quy mô lớn. Thiết kế của “hối phiếu công ăn việc làm” sẽ bỏ qua được hạn chế pháp lý này và giúp chính phủ Đức có thêm tín dụng từ Ngân hàng Trung ương.

Thứ hai, do “hối phiếu công ăn việc làm” được chính phủ Đức Quốc xã trả trực tiếp cho các công ty có thể tạo ra công ăn việc làm thông qua MEFO, nên nó đã thực hiện một chức năng giống như tiền tệ. Xét theo ý nghĩa này, “hối phiếu công ăn việc làm” cũng tương đương với loại tiền xanh Lincoln do chính phủ Lincoln phát hành trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Tuy nhiên, “hối phiếu công ăn việc làm” được sử dụng để tạo ra công ăn việc làm, còn tiền xanh Lincoln thì được dùng để đầu tư trực tiếp vào cuộc chiến. Bản chất của nó là chính phủ đã lấy lại quyền phát hành tiền tệ.

Thứ ba, “hối phiếu công ăn việc làm” được chính phủ dùng để trả trực tiếp cho các doanh nghiệp có thể tạo ra cơ hội việc làm, từ đó chính phủ có thể quán triệt được chính sách kinh tế với trọng tâm là cố gắng “tạo ra việc làm” trong xã hội, tránh được tình trạng các ngân hàng thương mại trong quá trình cho vay có khuynh hướng “chạy theo lợi nhuận” – trong thời kỳ suy thoái chắc chắn sẽ dẫn đến khuynh hướng tiếc nợ và vấn để giảm phát; không những vậy còn đảm bảo được rằng tiền tệ mới sẽ trực tiếp được rót vào vòng tuần hoàn của thực thể kinh tế, tổ chức lại những nguồn tư liệu sản xuất và nhân công nhàn rỗi để tiến hành sản xuất, từ đó tạo ra nhiều của cải hơn nữa để ứng phó với vấn đề tín dụng trên đà mở rộng.

Thứ tư, do sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ vàng và ngoại hối của Ngân hàng Trung ương Đức, từ năm 1929 đến 1933, từ 2,6 tỷ mark đã giảm mạnh xuống còn 409 triệu mark. Đến năm 1934, chỉ còn 83 triệu mark và lượng cung tiền thiếu hụt nghiêm trọng. Nếu chiếu theo lý thuyết tiền tệ cổ điển truyền thống thì Đức đang trên bờ vực phá sản, năng lực sản xuất mạnh mẽ của nó đang bị chết đói bởi tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng. Sự đổi mới tài chính mang tên “hối phiếu công ăn việc làm” đã ngay lập tức giúp người Đức thoát ly khỏi những hạn chế của vàng và ngoại hối. Người Đức đã chứng minh bằng thực tiễn rằng cái gọi là lý thuyết tiền tệ cổ điển hoàn toàn không đáng tin cậy.

Thứ năm, “hối phiếu công ăn việc làm” đã thực hiện được vai trò quan trọng trong việc giúp chính phủ Đức Quốc xã bí mật tăng cường xây dựng quân đội mà thế giới bên ngoài không hề hay biết.

Thứ sáu, “hối phiếu công ăn việc làm” với mức lãi suất hàng năm là 4,5% đã cung cấp cho các doanh nghiệp một phương thức tài chính thuận tiện và chi phí thấp.

Mặc dù người thực hiện thực tế của “hối phiếu công ăn việc làm” là Schacht, nhưng tư tưởng là linh hồn của nó đến từ Feder.

Trích "Chương 6, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét