“Chính sách kinh tế mới” của Hitler: quốc hữu hóa Ngân hàng Trung ương
![]() |
Ngay từ tháng 9 năm 1919, trong lần đầu tiên được nghe bài diễn giảng của Feder về tiền tệ tài chính, Hitler đã vô cùng xúc động. Và chính bài phát biểu này đã thúc đẩy Hitler tham gia Đảng Công nhân Đức.
Hitler
không có bất kỳ nền tảng lý luận có tính hệ thống nào về vấn đề tài chính. Nói
một cách chính xác, có thể coi ông ta là một người mù tài chính. Tuy nhiên, khả
năng lĩnh hội của Hitler lại vô cùng cao, dù không có kiến thức hệ thống, nhưng
ông ta có thể nắm bắt được bản chất của vấn đề ngay lập tức. Những người như vậy
luôn biết cách học hỏi trong các cuộc trò chuyện, tư duy trong các câu hỏi và
lĩnh hội trong các cuộc tranh luận. Giống như tất cả các nhà lãnh đạo khác,
Hitler không cần phải là một chuyên gia trong lĩnh vực này, nhưng ông ta có khả
năng phân biệt sắc sảo và hiểu biết sâu sắc để nắm bắt một cách chính xác những
vấn đề cốt lõi giữa vô vàng thông tin hỗn tạp trong các cuộc ngôn luận.
Trong cuộc
thảo luận với Feder, Hitler nhận ra rằng ngân hàng trung ương tư nhân đã thu lợi
rất lớn bằng cách kiểm soát phân phối tiền tệ của đất nước, tạo điều kiện cho sự
kiểm soát và khai thác của họ đối với toàn bộ người dân trong xã hội. Lý thuyết
của Feder rõ ràng là một nghịch lý lệch lạc mà các học giả chính thống không thể
chấp nhận được. Nó cố gắng giải thích hiện tượng này từ góc độ tranh giành lợi
ích giữa người với người, và nhà lý luận chỉ thảo luận về sự thật khách quan
liên quan đến bản chất “thất tình lục dục” của con người. Schacht đi ngược lại
với quan điểm của Feder, đặc biệt khi nhắc đến vấn đề nguyên tắc “cực kỳ thị
phi” trong hệ thống ngân hàng trung ương. Trên thực tế, quan điểm của Schacht
có mối liên hệ không tách rời với bối cảnh thực tế là quan hệ mật thiết giữa
ông và Phố Wall, điểm mấu chốt ở đây vẫn là vấn đề lợi ích.
Khi lắng
nghe những cuộc tranh luận gay gắt giữa hai bên, tâm trí của Hitler như thể một
tấm gương. Ông ta chấp nhận quan điểm của Feder từ tận đáy lòng và đưa nó vào
thực tiễn, nhưng ngoài mặt ông ta lại trọng dụng Schacht và xa lánh Feder.
Feder – người đặt nền móng cho tư tưởng kinh tế trong thời kỳ đầu của Đức Quốc
xã, nhưng đến khi Hitler lên nắm quyền, ông lại bị đẩy đến trường đại học để giảng
dạy. Lý do rất đơn giản: Các nhà công nghiệp lớn và các chủ ngân hàng lớn không
thích lý luận của Feder, nhưng họ lại nhiệt tình ủng hộ Schacht, và những nhóm
quyền lực này lại là chỗ dựa để Đảng Quốc xã của Hitler có thể tồn tại. Hitler
căm ghét đến tận xương tủy đám “Tội nhân tháng 11” này, nhưng lại buộc phải lựa
cách chung sống với họ. Bởi vì ông ta là một chính trị gia, ông ta chỉ có thể
tuân thủ các quy tắc trò chơi lợi ích, tuyệt đối không được đặt cảm xúc yêu
ghét cá nhân lên trên quy tắc của trò chơi.
Tuy nhiên,
Hitler đã không thỏa hiệp với Schacht và những người khác về những nguyên tắc
quan trọng trong việc quốc hữu hóa Ngân hàng Trung ương. Năm 1933, khi lên nắm
quyền, ngay lập tức Hitler tiến hành sửa đổi Luật Ngân hàng, quy định rằng: bãi
bỏ sự độc lập của hội đồng quản trị Ngân hàng Đế quốc, quyền bổ nhiệm Thống đốc
Ngân hàng Đế quốc và thành viên hội đồng quản trị sẽ thuộc về người đứng đầu
nhà nước; cấp quyền cho Ngân hàng Đế quốc thực hiện các chính sách thị trường
công khai, nhưng lại rất ít sử dụng nó; Ngân hàng Đế quốc có thể tiến hành chiết
khẩu đối với loại “hối phiếu công ăn việc làm” để huy động nguồn vốn cho chính
phủ nhằm tạo ra cơ hội công ăn việc làm cho người dân. Loại “hối phiếu công ăn
việc làm” này chính là loại “tiền tệ Feder” mà trước kia Feder từng đề xuất,
sau này chính nó đã góp sức rất lớn trong kỳ tích “Chính sách kinh tế mới” của
Hitler.
Tất nhiên,
hành động nêu trên của chính phủ Đức Quốc xã đã bị các thành viên hội đồng quản
trị của Ngân hàng Đế quốc phản đối quyết liệt, tuy nhiên họ không thể ngân chặn
được. Trước những tiếng phản đối của các chủ ngân hàng, Hitler tiếp tục kiên
trì với chính sách của mình, sự độc lập của Ngân hàng Đế quốc dần dần bị suy yếu.
Tháng 2 năm 1937, “Luật trật tự mới của Ngân hàng Đế quốc” được ban hành, quy định
rằng hội đồng quản trị của Ngân hàng Đế quốc sẽ do người đứng đầu nhà nước trực
tiếp điều hành, vậy là sự độc lập của Ngân hàng Đế quốc đã bị tước bỏ hoàn
toàn. Đến năm 1939, hội đồng quản trị của Ngân hàng Đế quốc đã bị giải tán.
Cùng năm đó, chính phủ Đức Quốc xã ban hành Luật Ngân hàng Đế quốc, trong đó
quy định: Ngừng trao đổi vàng thành tiền giấy, việc chuẩn bị phát hành 40% vàng
và ngoại hối có thể được thay thế bằng hối phiếu công ăn việc làm, chi phiếu,
tín phiếu kho bạc ngắn hạn, trái phiếu tài chính đế quốc và các loại trái phiếu
tương tự khác; Hạn mức khoản vay mà Ngân hàng Trung ương cung cấp cho Ngân hàng
Đế quốc sẽ được quyết định bởi “lãnh tụ và người đứng đầu đế chế”. Điều này
trên thực tế có nghĩa là trong hệ thống tiền tệ, Đức đã giành được quyền tự do
và thoát khỏi “giá thập tự bằng vàng” của Rothschild. Tại thời điểm này, chính
phủ Đức Quốc xã cuối cùng đã hoàn thành việc quốc hữu hóa cả về mặt pháp lý lẫn
chính trị của Ngân hàng Trung ương.
Để tránh
làm hỏng đại sự từ trước những phản ứng mạnh mẽ của các chủ ngân hàng quốc tế,
Hitler đành phải thực hiện theo chiến lược “mưa dầm thấm lâu”, mất ròng ra 6
năm trời mới nắm được Ngân hàng Trung ương vào lòng bàn tay mình.
Trích "Chương 6, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"
Đọc tiếp:

Nhận xét
Đăng nhận xét