Đổi mới tài chính đã cứu nền kinh tế Đức
![]() |
| Cựu Chủ tịch Ngân hàng Đế quốc Schacht trong phiên tòa ở Nichberg |
Ngày 31 tháng 5 năm 1933, chính phủ Đức đã tuyên bố phát hành “hối phiếu công ăn việc làm” trị giá 1 tỷ mark, mục đích để chi trả cho các dự án công trình kỹ thuật đặc biệt. Loại hối phiếu (có thể gia hạn nhiều lần) này đã được chính phủ trả cho các chủ sử dụng lao động. Chủ lao động sẽ thực hiện các dự án quy mô lớn và sử dụng một số lượng lớn công nhân, như vậy từ chủ doanh nghiệp cho đến gia đình bình thường đều có thể hưởng lợi từ “hối phiếu công ăn việc làm”. Khi lượng hối phiếu này chảy vào hệ thống ngân hàng, chúng sẽ tiếp tục tạo ra hiệu ứng phóng đại và lượng hối phiếu đó có thể được tái chiết khấu tại Ngân hàng Trung ương Đức, điều đó có nghĩa là “hối phiếu công ăn việc làm” cùng với vàng, ngoại hối và nợ quốc gia dài hạn tạo thành nền tảng cung ứng tiền tệ cho nước Đức.
Hầu hết “hối
phiếu công ăn việc làm” trong giai đoạn đầu đã không bao giờ được tiến hành tái
chiết khâu tại Ngân hàng Trung ương Đức. Một trong những lý do chính là lãi suất
4,5% của nó khá hấp dẫn, và một số lượng lớn các ngân hàng và các tổ chức khác
đã quyết định giữ lại lượng hối phiếu này thay vì tái chiết khấu. Theo số liệu
thống kê, từ năm 1933 đến 1938, lượng phát hành “hối phiếu công ăn việc làm”
tăng đều qua từng năm. Đến năm 1938, lượng dư đạt mức 12 tỷ mark, chiếm 85% tổng
chi phí thâm hụt của chính phủ. Khoảng một nửa trong số đó được sử dụng để huy
động vốn cho các công ty trực tiếp tạo ra cơ hội việc làm, và nửa còn lại được
sử dụng để mở rộng các dự án quân sự bí mật của Đức.
Một lợi thế
lớn của “hối phiếu công ăn việc làm” là nó đặt sức mua thực sự vào tay những
người lao động mới được tuyển dụng ở Đức. Cùng với đà lưu thông gia tăng của loại
hối phiếu này, việc tận dụng các nguồn tài nguyên nhàn rỗi cũng tăng mạnh và tỷ
lệ thất nghiệp giảm nhanh chóng.
Trong lĩnh vực công trình công cộng, đặc biệt là xây dựng khu nhà ở cho tầng lớp trung lưu mới nổi, “hối phiếu công ăn việc làm” đóng một vai trò hết sức quan trọng. Năm 1932, có khoảng 141.000 ngôi nhà ở Đức và đến năm 1934, có khoảng 284.000 ngôi nhà được xây dựng. Rõ ràng, chỉ trong vòng hai năm, “hối phiếu công ăn việc làm” đã làm tăng gấp đôi diện tích nhà ở dân cư đang xây dựng ở Đức. Đồng thời, lượng tiền này cũng được sử dụng để xây dựng hệ thống đường quốc lộ của Đức. Những con đường được xây dựng từ nguồn “hối phiếu công ăn việc làm” đã lên tới hàng ngàn kilomet, tạo thành một mạng lưới đường cao tốc bao phủ mọi hướng.
Chính sách
kinh tế của Hitler tạo ra sự bảo đảm mạnh mẽ cho tầng lớp trung lưu và người
nghèo Đức, cũng có sự bất mãn mãnh mẽ và sự quan tâm đặc biệt từ các chủ ngân
hàng nước ngoài. Hối phiếu công ăn việc làm có giá trị tương tự như tiền tệ do
Chính phủ Đức trực tiếp phát hành đã giúp nền kinh tế thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa
của các chủ ngân hàng quốc tế. Một số nhà kinh tế tin rằng một trong những
nguyên nhân sâu xa của Thế chiến II là Chính phủ Đức dựa vào tiền tệ của mình để
hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của Anh và Mỹ. Do thiếu hụt ngoại hối và
vàng, Đức buộc phải vay từ các chủ ngân hàng quốc tế của Anh và Mỹ. Món nợ này
khiến chính trị, kinh tế, chính sách và các lợi ích quan trọng của Đức bị ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp bởi các chủ ngân hàng quốc tế. Nếu như dẹp bỏ được
sự liên kết này, Hitler sẽ có quyền quyết định sự phát triển của nền kinh tế Đức.
Trong giai
đoạn đầu Hitler nắm quyền, ông ta đã có được sự công nhận từ xã hội và sự ủng hộ
lớn từ người dân. Ông xây dựng lại nền kinh tế Đức bằng các giải phóng sự phát
triển kinh tế khỏi lý thuyết kinh tế chính thống của Anh và Hoa Kỳ. Có thể nói
các chủ ngân hàng quốc tế rõ ràng đã phạm sai lầm khi đặt cược vào Hitler.
Hitler không bao giờ cam tâm trở thành con rối của người khác.
Quan điểm của
Schacht đối với “hối phiếu công ăn việc làm” khá mâu thuẫn. Lần đầu tranh cãi với
Feder, ông từng cho rằng đầy là một ý tưởng hết sức ngu ngốc, nhưng rồi ông
cũng phải nuốt lại nhận định của mình. Vài thập kỷ sau, nhiều người liên tục hỏi
ông rằng loại “hối phiếu công ăn việc làm” này có phải là một thiết kế thành
công hay không? Bất cứ khi nào xảy ra thiếu hụt vốn đều có thể dùng tín dụng của
Ngân hàng Trung ương để thay thế nguồn vốn tích lũy này không? Về lý thuyết,
Schacht thừa nhận hiệu quả của “hối phiếu công ăn việc làm”, nhưng ông vẫn đưa
ra một loạt các hạn chế, nghĩa là biện pháp này chỉ có thể phát huy hiệu quả
trong một số trường hợp nhất định. Thời điểm đó, ở Đức không có bất cứ kho chứa
nguyên liệu thô nào, công xưởng nhà máy hoàn toàn trống rỗng, máy móc thiết bị
nhàn rỗi và hơn 6 triệu người ở trong tình trạng thất nghiệp – chỉ trong trường
hợp này, khi nguồn vốn tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để sử dụng lại nhà máy
công xưởng, nguyên liệu thô và máy móc để sản xuất, một liều thuốc như vậy mới
có thể cứu vãn sự sống của nguồn vốn.
Tuy nhiên,
từ sâu trong tâm trí Schacht vẫn tỏ ra bất mãn với cách làm này, kỳ thực việc
ông bị ép rời khỏi chính trường cũng có mối liên quan trực tiếp với việc từ chối
tiến hành “tái chiết khấu” đối với “hối phiếu công ăn việc làm”. Theo tiết lộ của
riêng ông, tháng 1 năm 1939, Ngân hàng Trung ương Đức đã gửi một bản ghi nhớ
cho Hitler, từ chối cấp thêm tín dụng cho chính phủ Đức, và hậu quả của bản ghi
nhớ hết sức nghiêm trọng. Ngày 19 tháng 1, Schacht đã bị chính phủ sa thải.
Ngày hôm sau, Hitler ra lệnh cho Ngân hàng Trung ương Đức phải cấp cho chính phủ
tất cả nguồn tín dụng, miễn là chính phủ cần thì Ngân hàng Trung ương Đức bắt
buộc phải cấp.
Sau khi
Schacht bị sa thải, chính phủ Đức đã giữ bí mật với công chúng suốt hơn 5 tháng
cho đến trước Chiến tranh thế giới Thứ hai nổ ra vào tháng 7 năm 1939. Việc ông
từ chối cung cấp thêm tín dụng cho chính phủ Đức có thể là một lý do quan trọng
cho việc ông thoát khỏi cửa tử trong phiên tòa ở Nichberg sau này.
Năm 1948,
sau khi chiến tranh kết thúc, một nhóm các giáo sư người Mỹ đã thiết kế lại
chương trình cải cách tiền tệ cho nước Đức: Ban đầu mỗi người sẽ nhận một khoản
tiền trị giá 40 mark, các nhân viên xí nghiệp nhận 60 mark. Các ban ngành của
chính phủ nhận được một lượng tiền mark tương ứng với mức lương trong một
tháng. Nhưng tất cả các loại tiền mark của đế quốc, cho dù đó là tài khoản tiết
kiệm hay tiền nợ, đều giảm xuống còn 10% so với mệnh giá. Mặt khác, cổ phiếu,
tài sản và các tài sản hữu hình khác vẫn duy trì trạng thái không bị mất giá.
Đây là một hành vi “vặt lông cừu” chưa từng thấy, bởi vì của cải của người
nghèo tồn tại trong tài khoản tiết kiệm, trong khi sự giàu có của người giàu chủ
yếu là ở tài sản. Sự mất giá tiền tệ theo kiểu “nổ mìn định hướng” này trên thực
tế đã hình thành nên một quá trình chuyển dịch tài sản khổng lồ, dẫn đến một sự
thay đổi nghiêm trọng và thậm chí tàn khốc trong cấu trúc xã hội. Theo một
nghĩa nào đó, mức độ nghiêm trọng và tác động rộng lớn của nó không kém gì siêu
lạm phát năm 1923.
Trích "Chương 6, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"
Đọc tiếp:
- Chính sách kinh tế mới của Hitler - phần 15


Nhận xét
Đăng nhận xét