CUỘC CHIẾN TỰ VỆ TÍN DỤNG CỦA ĐỒNG YÊN
![]() |
| Okuma Shigenobu |
Đại tàng
khanh của Nhật Bản - Okuma Shigenobu quyết định thành lập Ngân hàng Yokohama là
để cứu rỗi tín dụng tiền giấy mất giá nhanh chóng. Dưới chính sách "nới lỏng
lượng hóa tiền tệ" của ông, tín dụng đã mở rộng nhanh chóng và kinh tế
phát triển quá nóng, kết quả dẫn đến sự mất giá mạnh của tiền giấy so với tiền
bạc. Tín dụng tiền tệ bị tổn hại nghiêm trọng, lạm phát khó kiểm soát và nền
kinh tế rơi vào hỗn loạn. Trong cơn tuyệt vọng, Okuma Shigenobu đã đề xuất vay
50 triệu yên từ nước ngoài và sử dụng tiền bạc nước ngoài để thu hồi tiền giấy
đã phát hành quá mức. Kết quả là đề án của ông bị nhấn chìm bởi những lời trách
mắng té tát từ dư luận.
Rất nhiều
thành viên cốt cán trong chính phủ của Meiji đã từng đi ra nước ngoài, bao gồm
Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc địa khác, họ đã tận mắt chứng kiến nợ nước
ngoài đã dần dần kiểm soát các quốc gia này và cuối cùng biến họ thành thuộc địa
hoặc bán thuộc địa ra sao. Những "đầu sỏ" này chỉ ra rằng Phong trào
Phục hưng Meiji chẳng phải để tránh trở thành thuộc địa của các cường quốc
phương Tây hay sao? Khi nền tảng công nghiệp hóa vẫn chưa hoàn thành và không đủ
khả năng trả nợ, muốn vay tiền từ nước ngoài chỉ có thể thế chấp thuế quan và
các khoản thu khác của chính phủ, từ đó sẽ làm mất chủ quyền thu thuế tài
chính. Như vậy chẳng phải là dẫm vào vết xe đổ của Trung Quốc hay sao?
Trong cơn
tuyệt vọng, Okuma Shigenobu đã đề xuất thành lập một "ngân hàng vàng-bạc-kim
loại" thuần túy, đặt tại thành phố Yokohama – trung tâm thương mại của Nhật
Bản. Do phụ trách nghiệp vụ vàng và bạc nguyên chất, nên nó được gọi là Ngân
hàng Yokohama Specie. Nó không thể phát hành tiền giấy, và mục đích chính của
nó là kích hoạt "tiền tốt" (vàng và bạc) – vốn đã bị trục xuất bởi
"tiền xấu" (tiền giấy) – ra khỏi tình trạng lưu trữ và lưu thông trở
lại trong xã hội. Tuy nhiên, tình trạng mất giá của tiền giấy vẫn tiếp tục
tăng. Đến năm 1880, tiền giấy bị mất giá tới 45% so với tiền bạc, và loại tiền
vàng và bạc của Nhật Bản dường như đã biến mất khỏi mọi ngóc ngách chỉ sau một
đêm. Ngân hàng Yokohama Specie nhanh chóng bị tê liệt vì không thể tìm ra một
xu tiền vàng và bạc "thực chất" nào cả. Sự mất giá của tiền giấy đã
xóa nhòa danh tiếng của Okuma Shigenobu trong lĩnh vực tài chính.
Người tiếp
nhận mớ bòng bong này là Matsukata Masayoshi – người luôn đề xuất phương án giảm
phát, từ lâu ông đã vô cùng không hài lòng với chính sách "nới lỏng lượng
hóa tiền tệ" của Okuma Shigenobu. Ưu tiên hàng đầu của Matsukata sau khi
nhận nhiệm vụ là xây dựng lại tín dụng của đồng yên. Điều này có nghĩa là chính
phủ phải sử dụng vàng và bạc thật để đổi lại số lượng tiền giấy đang nằm trong
tay người dân do phát hành vượt mức, có bao nhiêu thì đổi bấy nhiêu, cho đến
khi người dân hoàn toàn tin rằng chính phủ có đủ vàng và bạc trong ngân khố, và
không còn yêu cầu trao đổi nữa. Vào thời điểm đó, tổng lưu thông tiền tệ ở Nhật
Bản là 153 triệu yên, trong khi dự trữ vàng và bạc chỉ là 8,7 triệu yên, chỉ
chiếm 5,7% tổng lượng lưu động tiền tệ. Đây thực sự là một cuộc huyết chiến về
niềm tin, nhưng niềm tin thôi là chưa đủ. Trước tiên vẫn phải có vàng thật, bạc
thật.
Matsukata
Masayoshi sớm đã có kế sách của riêng mình. Ông và Ngân hàng Yokohama Specie
liên tục thảo luận về một phương án không chỉ giải quyết được tình trạng khó
khăn của ngân hàng, đảo ngược tình trạng mất giá của tiền giấy, mà còn có thể
đoạt lại quyền định giá trong lĩnh vực ngoại thương của Nhật Bản từ tay các
ngân hàng nước ngoài.
![]() |
| Matsukata Masayoshi |
Matsukata đã ra lệnh cho Đại Tàng Tỉnh của Nhật Bản chuẩn bị ngay 3 triệu yên cho Ngân hàng Yokohama Specie để dùng cho các giao dịch ngoại hối. Số tiền này sẽ được sử dụng để hỗ trợ thương mại xuất khẩu của Nhật Bản, sử dụng xuất khẩu để kiếm ngoại hối nhằm giải quyết tình trạng thiếu vàng và bạc trong nước của Nhật Bản. Tư duy của Matsukata Masayoshi hoàn toàn trái ngược với Okuma Shigenobu: Nếu Nhật Bản không đủ vàng và bạc, trong khi tiền giấy bị thừa cung nghiêm trọng, việc chỉ tìm kiếm nguồn vàng và bạc từ trong nước sẽ không thể giải quyết vấn đề, mà phải tìm vàng và bạc trên toàn thế giới, dùng nguồn vàng và bạc từ bên ngoài rót vào trong nước nhằm ổn định tiền giấy.
Vào thời điểm
này, kết cấu trong thương mại đối ngoại của Nhật Bản tương tự như Trung Quốc.
Các mặt hàng xuất khẩu chính là lụa thô và trà. Trong số đó, ngành lụa thô luôn
là ngành công nghiệp truyền thống và xuất khẩu quan trọng nhất của Nhật Bản, và
tỷ trọng của nó trong xuất khẩu của Nhật Bản luôn đạt khoảng 30%. Với sự hỗ trợ
của hệ thống ngân hàng nước ngoài, các hiệu buôn nước ngoài đã hoàn toàn độc
quyền về giá cả hàng hóa. Lụa thô và trà của Nhật Bản thường bị ép phải bán cho
các hiệu buôn nước ngoài với giá chẳng khác "bán tống bán tháo". Đại
Tàng Tỉnh của Nhật Bản từ lâu đã cực kỳ bức xúc về điều này, nhưng mãi vẫn chưa
tìm ra giải pháp hiệu quả.
Khi Ngân
hàng Yokohama Specie bắt đầu lặng lẽ hành động dưới sự chỉ dẫn của Matsukata
Masayoshi, đó cũng chính là thời điểm mà Hồ Tuyết Nham bắt đầu tích trữ lụa thô
ở Thượng Hải và sẵn sàng quyết chiến một phen với các công ty nước ngoài. Nhưng
sau cuối, vận mệnh của hai bên lại hoàn toàn trái ngược.
Các thương
nhân trà và lụa thô Nhật Bản cũng thiếu tiền. Các hiệu buôn nước ngoài thanh
toán bằng hối phiếu thương mại, phải chờ 6 tháng mới hết hạn, sau đó mới có thể
tới ngân hàng nước ngoài để rút tiền. Nếu cần gấp nguồn tiền để xoay vòng vốn
thì họ buộc phải bán chiết khấu cho ngân hàng nước ngoài, nhưng tỷ lệ chiết khấu
có thể lên tới 20%, tương đương với việc mất 20% lợi nhuận thương mại! Còn nếu
không muốn chịu tổn thất thì đành phải chờ đợi. Tuy nhiên, lụa và trà đều là những
sản phẩm không thể chờ đợi, bởi chất lượng của chúng sẽ tệ dần theo thời gian.
Do đó, việc thiếu vốn sẽ dẫn đến việc thu mua lụa và trà bị chậm lại, trong khi
các hộ buôn tơ lụa và trà thì chẳng thể đợi được, đành phải bán với mức giá rẻ
mạt, còn các hiệu buôn nước ngoài thì thu được lợi nhuận khổng lồ.
Sự xuất hiện
của Ngân hàng Yokohama Specie ngay lập tức đã đập vụn quyền định giá đối với
thương mại của các hiệu buôn nước ngoài. Khi các hiệu buôn nước ngoài đàm phán
với các thương gia và phát hành hối phiếu thương mại, Ngân hàng Yokohama Specie
sẽ ngay lập tức can thiệp và trả tiền cho thương gia bằng tiền yên để thu mua hối
phiếu với mức chiết khấu cực kỳ ưu đãi. Và lượng tiền mặt bằng đồng yên này là
khoản ngân quỹ chuyên dụng mà Matsukata Masayoshi ủy quyền cho Đại Tàng Tỉnh của
Nhật Bản cho Ngân hàng Yokohama Specie vay với lãi suất rất thấp. Như vậy, các
thương gia sẽ không còn phải dài cổ đợi chờ hối phiếu thương mại hết hạn, họ
cũng chẳng cần phải mang hối phiếu đến các ngân hàng nước ngoài để bán lại với
mức chiết khấu cắt cổ nữa. Bây giờ hối phiếu sẽ do Ngân hàng Yokohama Specie nắm
giữ và họ sẽ chịu mọi rủi ro khi đáo hạn. Sau khi hối phiếu hết hạn, khoản
thanh toán của các thương nhân nước ngoài sẽ được trực tiếp chuyển vào tài khoản
của Đại Tàng Tỉnh tại Ngân hàng Yokohama Specie dưới dạng tiền vàng hoặc bạc.
Và thế là một
vòng tuần hoàn tích cực đã được hình thành. Ngân hàng Yokohama Specie nhận được
nguồn tiền yên (hình thức là tiền giấy) "giá rẻ" từ Đại Tàng Tỉnh,
sau đó sử dụng tiền giấy đó để mua hối phiếu nước ngoài từ tay các thương nhân
xuất khẩu Nhật Bản. Sau khi hối phiếu đáo hạn, tiền vàng hoặc bạc của nước
ngoài sẽ được trả cho Ngân hàng Yokohama Specie, sau đó lại chảy vào tài khoản
của Đại Tàng Tỉnh. Ngân hàng Yokohama Specie kiếm được khoản lợi nhuận kếch xù
từ mức chênh lệch lãi suất giữa việc vay tiền chính phủ và chiết khấu hối phiếu
nước ngoài. Lúc đó, Đại Tàng Tỉnh của Nhật Bản đã thu được một số lượng lớn tiền
vàng và bạc để thu hồi tiền yên (tiền giấy) và kiến thiết lại tín dụng của tiền
yên. Các thương nhân xuất khẩu Nhật Bản sẽ ngay lập tức sử dụng nguồn vốn thu
được để mua trà lụa, giúp đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, khối lượng mua đã
tăng lên rất nhiều, và các hộ sản xuất lụa và nông dân trồng chè cũng được hưởng
lợi. Giới thương nhân giờ đây đã giành được nhiều quyền thương thảo giá cả hơn
trong quá trình đàm phán với các hiệu buôn nước ngoài. Đồng thời, hoạt động
nghiệp vụ của Ngân hàng Yokohama Specie cũng được mở rộng chưa từng có và họ bắt
đầu mở chi nhánh tại các trung tâm tài chính lớn ở nước ngoài.
Sáng kiến đổi
mới tài chính của Ngân hàng Yokohama Specie đã đạt được thành công chưa từng
có. Chính sự ra đời và thành công to lớn của ngân hàng này đã đảo ngược sự sụp
đổ sắp xảy ra của hệ thống tiền tệ Nhật Bản, củng cố những thành tựu kinh tế chủ
yếu của Phong trào Phục hưng Meiji trong giai đoạn đầu, và giúp Nhật Bản khắc
chế được bong bóng tài chính – một hệ lụy đến từ việc mở rộng tiền tệ.
![]() |
| Ngân hàng Yokohama Specie cuar Nhật Bản |
Khi Ngân
hàng Nhật Bản được thành lập, Ngân hàng Yokohama Specie và Ngân hàng Nhật Bản
đã triển khai hợp tác chặt chẽ. Ngân hàng Nhật Bản đã cung cấp khoản vay với
lãi suất cực thấp 2% cho Ngân hàng Yokohama Specie, hỗ trợ mạnh mẽ cho quá
trình vươn ra thị trường thế giới của Yokohama Specie. Đổi lại, Yokohama Specie
liên tục cung cấp lượng dự trữ vàng và bạc ổn định cho Ngân hàng Nhật Bản, giúp
Ngân hàng Nhật Bản thiết lập một hệ thống tín dụng tiền tệ cực kỳ vững chắc. Từ
năm 1881 đến 1885, lượng dự trữ vàng và bạc phía sau tiền yên (tiền giấy) từ
con số nghèo nàn 8,7 triệu yên đã tăng vọt lên thành 42,3 triệu yên, chiếm 37%
tổng số tiền đang lưu hành. Đến khoảng năm 1890, tiền giấy của Nhật Bản cuối
cùng đã phục hồi ngang bằng mức giá với tiền bạc, cuộc chiến tự vệ tín dụng của
đồng yên đã kết thúc thắng lợi.
Các cương
quốc phương Tây hết sức kinh ngạc, mức lạm phát khủng khiếp như vậy mà vẫn bị
chính phủ Nhật Bản chế ngự một cách triệt để, tiền giấy bị phát hành quá mức đến
thế mà cuối cùng vẫn có thể khôi phục tín dụng mà không mất giá. Điều này cho
thấy khả năng kiểm soát tài chính của Nhật Bản đã được cải thiện vượt bậc, chỉ
sau 20 năm, từ một đất nước hoàn toàn không biết gì về lĩnh vực ngân hàng hiện
đại, họ đã trở thành một người chơi đẳng cấp thế giới và sẵn sàng tiến hành bố
trí mạng lưới tài chính toàn cầu.
Từ sự thất
bại của Hồ Tuyết Nham khi thách thức quyền định giá lụa thô của hệ thống hiệu
buôn nước ngoài và quá trình nâng cao năng lực định giá của các thương nhân trà
lụa Nhật Bản, chúng ta có thể thấy rằng: Các quan chức Nhật Bản như Matsukata
Masayoshi đã nghĩ trăm phương ngàn kế để giúp các thương nhân xuất khẩu giành lại
quyền định giá, trong khi đó các quan chức nhà Thanh như Lý Hồng Chương thì chỉ
mải miết giành quyền lực, dụng tâm vụ lợi nhằm đối phó với Hồ Tuyết Nham. Nhật
Bản có những gã khổng lồ tài chính như Mitsui và Mitsubishi với ý thức quốc gia
dân tộc mạnh mẽ, còn Đại Thanh thì rặt những kẻ dương mại bản tài chính như gia
tộc Động Đình Tịch, lúc nào cũng "dựa hơi" thế lực nước ngoài để kiếm
chác và vơ vét trên da thịt đồng bào mình. Ngân hàng Yokohama Specie tựa như một
"mũi dao tài chính" giúp Nhật Bản tiến quân ra toàn thế giới, còn thị
trường tài chính Thượng Hải lại là một thứ vũ khí thực dân sắc bén giúp Ngân
hàng Hội Phong dễ bề kiểm soát Trung Quốc.
Với Trung
Quốc – một quốc gia đã đánh mất đi biên giới tài chính, cho dù là Phong trào
Dương Vụ, Mậu Tuất biến pháp, hay thậm chí lật đổ nhà Thanh, cũng chẳng thể
giúp họ thực hiện được giấc mộng công nghiệp hóa và "phú quốc cường
binh".



Nhận xét
Đăng nhận xét