SỰ PHÂN TÁCH CỦA ĐỊNH MỆNH
Trong Chiến
tranh Giáp Ngọ 1894-1895, thất bại của Trung Quốc là một bất ngờ đối với thế giới,
nhưng đó là một lẽ tất yếu đối với Trung Quốc. Vấn đề không nằm ở sự chênh lệch
về sức mạnh quốc gia, mà nằm ở chiến lược tiêu cực của những kẻ thuộc phái
Dương Vụ-mại bản.
Vào thời điểm
đó, thực lực kinh tế và quân sự của Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế hơn so với Nhật
Bản. Từ quan điểm kinh tế, mặc dù công cuộc Duy Tân Meiji ở Nhật Bản đã đạt được
kết quả lớn, nhưng ngành công nghiệp nặng vẫn còn tương đối non yếu, ngành công
nghiệp nhẹ thì chỉ có ngành dệt may tương đối phát triển, còn sản lượng thép,
than, đồng, dầu hỏa và sản xuất máy móc thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Vào
thời điểm đó, Nhật Bản có lượng vốn công nghiệp khoảng 70 triệu yên, nguồn vốn
ngân hàng 90 triệu yên, kim ngạch xuất nhập khẩu 260 triệu yên và doanh thu tài
chính là 80 triệu yên. Ngoại trừ khối lượng nhập khẩu tương đương với Trung Quốc,
các chỉ số còn lại đều kém hơn Trung Quốc. Xét về mặt quân sự. Bắt đầu từ thời Meiji,
bắt nguồn từ bản năng của một quốc đảo, Nhật Bản đã cố gắng huy động mọi nguồn
lực để cải thiện sức mạnh quân sự của mình. Trước chiến tranh, họ sở hữu 55 tàu
chiến, có một đội quân thường trực 220.000 người, tổng binh lực chưa bằng một nửa
so với Trung Quốc, nhưng vũ khí và trang bị của hai bên không mấy khác biệt. Rõ
ràng, nếu so sánh lực lượng quân sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc vẫn
có một chút lợi thế.
Tục ngữ có
câu: "Binh hùng hùng nhất cá, tướng hùng hùng nhất oa." Sẽ là một
phép màu nếu "binh hùng tướng mạnh" dưới sự lãnh đạo của Lý Hồng
Chương – Bắc Dương đại thần, người cầm đầu phe Dương Vụ, có thể giành chiến thắng
trong trận chiến.
Hạm đội thủy
quân Bắc Dương được Lý Hồng Chương huênh hoang là "Hạm đội thứ tám của thế
giới", xếp trước Mỹ và Nhật Bản, vậy mà trong Chiến tranh Trung-Nhật lại
chẳng thể bắn chìm nổi một tàu Nhật nào, còn bản thâm hạm đội này thì bị tiêu
diệt hoàn toàn. Lục quân thì thậm chí tiến hành hàng chục chiến dịch nhưng lại
toàn thất bại, có thể khái quát bằng bốn chữ "vọng phong nhu đào (nghe tiếng
địch là chạy trốn tan tác)".
Trong chiến
dịch Nha Sơn, quân của Diệp Chí Siêu không chỉ bỏ chạy tán loạn mà còn dám
hoang báo chiến công. Sau đó trong chiến dịch ở Bình Nhưỡng, Triều Tiên, ông ta
lại một lần nữa thi triển tuyệt kỹ "rút lui chiến thuật" của mình, chạy
một mạch hơn 500 dặm về mạn sông Áp Lục. Trên tuyến phòng thủ sông Áp Lục, Lý Hồng
Chương đã bố trí "hùng binh dũng tướng" gồm 40.000 người, quân số nhiều
hơn hẳn quân Nhật, nhưng toàn bộ tuyến đã bị chọc thủng trong vòng chưa đầy 3
ngày. Khi người Nhật tấn công Nghĩa Châu, họ chỉ bắn một loạt đạn là cả đám
"hùng binh dũng tướng" vội vã rút đi. Người Nhật tấn công Đại Liên,
chủ soái Triệu Hoài Nghiệp vội kéo cờ trắng đầu hàng rồi chạy mất tăm mất tích.
Không những vậy, Triệu Hoài Nghiệp hẳn là một người "chu đáo" khi trước
đó đã cho người chuyển hết của nải vàng bạc trong nhà đi nơi khác, thế nhưng
hơn 130 khẩu pháo, 2,4 triệu viên đạn pháo và đạn súng, đều đã rơi vào tay quân
Nhật.
Tiếp sau đó
quân Nhật lại đánh tới Lữ Thuận, đoàn "binh hùng tướng mạnh" với
70.000 quân theo kế "dĩ dật đới lao", đối phó với 20.000 quân Nhật
hành quân viễn chinh, vậy mà chủ soái Cung Chiếu Mã còn chưa kịp thấy bóng dáng
quân Nhật đâu, mà ngay trong đêm đã âm thầm ngồi thuyền trốn tới Uy Hải, khiến
cho "binh hùng tướng mạnh" như rắn mất đầu, quân tâm rệu rã. Pháo đài
Lữ Thuận mà Đế quốc Đại Thanh đã chi hàng chục triệu lạng bạc để xây dựng, đã bị
quân Nhật công chiếm trong nháy mắt. Thảm cảnh này có thể được hình dung qua
câu cảm thán của viên mạc liêu(37) của Lý Hồng Chương: "Có kẻ nói rằng
Trung Quốc giờ như một con lợn chết nằm trên mặt đất, phó mặc cho người ta tùy
ý xẻ thịt, câu nói đó thực đúng với cảnh tượng hiện tại."
Chú
thích:
(37) Chức
vụ thư ký.
Lý Hồng
Chương không thể đánh trận, nhưng đàm phán là sở trường của ông ta. Kết quả là
Triều Tiên sáp nhập vào phạm vi ảnh hưởng của Nhật Bản, cắt nhượng lại Đài
Loan, quần đảo Bành Hồ và bán đảo Liêu Đông, ngoài ra còn phải bồi thường 200
triệu lạng bạc theo "Hiệp ước Shimonoseki". Sau đó, qua sự hòa giải của
các cường quốc đang nung nấu những ý đồ riêng, Nhật Bản đã đồng ý trả lại bán đảo
Liêu Đông, nhưng số tiền bồi thường tăng thêm 30 triệu lạng bạc.
Đế chế Đại
Thanh vừa mới đại bại thì kiếm đâu ra bạc để bồi thường? Thứ mà các ngân hàng
quốc tế đang xoa tay chờ đợi chính là món nợ khổng lồ này. Đám kền kền tài
chính từ khắp nơi trên thế giới lũ lượt bay tới, và Đế chế Đại Thanh bị rỉa
xương róc thịt.
Chính phủ
nhà Thanh đã vay tới 200 triệu lạng bạc, và chưa từng có khoản vay nợ nước
ngoài nào lớn như vậy.
Trước Chiến
tranh Giáp Ngọ, chính phủ nhà Thanh cũng đã vay các khoản nợ nước ngoài, nhưng
số tiền không lớn. Không khó để trả tiền gốc và tiền lãi, và về cơ bản chúng đã
được trả hết trước chiến tranh. Các khoản nợ nước ngoài mà Hiệp ước Shimonoseki
yêu cầu đối với khoản bồi thường khổng lồ kia gần như đã thế chấp toàn bộ doanh
thu tài chính của chính phủ nhà Thanh, và nguồn vốn độc quyền nước ngoài bắt đầu
kiểm soát tài chính của nhà Thanh. Tình trạng mất cân đối thu-chi của chính phủ
ngày càng nghiêm trọng. Để dùng làm tài sản thế chấp nợ, nhà Thanh buộc phải
cho Đức thuê vịnh Giao Châu, Nga lấy cảng Lữ Thuận ở Đại Liên, Anh độc chiếm Uy
Hải Vệ, còn Pháp mượn vịnh Quảng Châu. Các điều kiện cho vay là không được trả
nợ trước thời hạn, cũng như không được đẩy nhanh tốc độ trả nợ. Tài sản bảo đảm
cho khoản vay là gần như tất cả thuế quan, thuế muối và thuế li. Nói một cách
đơn giản, khoản nợ nước ngoài này được thế chấp bằng toàn bộ doanh thu thuế của
Đế chế Đại Thanh. Thất bại của Chiến tranh Giáp Ngọ năm 1894 đã khiến nhà Thanh
phá sản hoàn toàn.
Đột nhiên
có được một nguồn của cải đánh kinh ngạc như vậy, dã tâm xâm lược của Nhật Bản
tăng vọt và họ bắt đầu để mắt đến Nga.
Nhìn vào
chiến thắng của Nhật Bản trong Chiến tranh Nga-Nhật theo quan điểm của Đế quốc
Anh, thực ra sự kiện này phù hợp với bố cục chiến lược toàn cầu của người Anh.
"Nhật Bản – quốc gia phương Đông xuất chúng, mạnh mẽ và nhỏ bé nằm dưới sự
bảo hộ của chúng ta, đã quyết tâm đánh bại người Nga vì chúng ta." Và người
Nhật đã đổ máu để rước về 1,5 tỷ yên nợ nước ngoài và mức tiêu thụ chiến tranh
khổng lồ, gần gấp 4 lần thu nhập từ Chiến tranh Giáp Ngọ năm 1894! Vào thời điểm
này, Nhật Bản đã trở nên điên cuồng, và họ sẽ không thể trả được một khoản nợ
cao như vậy nếu không đi ra ngoài để cướp bóc. Bất kể Chiến tranh Trung-Nhật
hay Chiến tranh Nga-Nhật, ngoài hai phía thắng-thua phải chịu đầu rơi máu chảy,
chỉ có các chủ ngân hàng quốc tế đứng phía sau tranh giành miếng bánh bảo lãnh
nợ nước ngoài là hưởng lợi.
Lý Hồng
Chương cũng đã chuẩn bị một chiếc bánh lớn hơn cho các chủ ngân hàng quốc tế,
đó là huy động vốn cho mạng lưới đường sắt của Trung Quốc. Đế chế Đại Thanh có
thể không ngờ được rằng, chính làn sóng xây dựng đường sắt đã "tống
táng" sự thống trị của họ.
Đường sắt
chắc chắn là một thứ tốt đẹp, nhưng điều quan trọng là ai kiểm soát nó.
Theo cách
nói của những thế lực trùm sò trong Chính quyền Meiji, họ đã tận mắt chứng kiến
ở Ấn Độ rằng bất cứ nơi nào đường sắt của Đế quốc Anh được xây dựng, nơi đó sẽ
trở thành một thuộc địa khốn khổ, bi thảm. Triều đại nhà Thanh đã đến hồi thoi
thóp, căn bản chẳng còn xu bạc nào để xây dựng mạng lưới đường sắt quốc gia,
trong khi các chủ ngân hàng quốc tế thì thiếu kiên nhẫn.
Khoản vay
đường sắt đầu tiên được giao cho Ngân hàng Hội Phong và Jardine Matheson. Đây
là tuyến đường sắt từ Thiên Tân đến Phụng Thiên và Ngưu Trang, tài sản bảo đảm
là tất cả các tài sản đường sắt từ Bắc Kinh đến Sơn Hải Quan. Nói cách khác, nếu
chính phủ nhà Thanh không thể trả nổi khoản vay này, Vương quốc Anh sẽ trưng
thu Bắc Kinh. Tất cả các tuyến đường sắt, toa xe, đầu máy và các nghiệp vụ khác
đều thuộc về Jardine Matheson.
Thương vụ
đường sắt thứ hai là tuyến Lư-Ninh từ Thượng Hải đến Nam Kinh. Lưu vực sông
Dương Tử vốn trực thuộc phạm vi ảnh hưởng của người Anh. Nhưng người Nga không
hài lòng vì tuyến đường sắt Sơn Hải Quan có thể uy hiếp các bến cảng của họ,
nên nhất quyết nhảy ra phá bĩnh. Kết quả là người Nga cụt hứng bỏ đi. Do đó, Ngân
hàng Hội Phong và Jardine Matheson đã nắm độc quyền vận chuyển đường sắt trong
tuyến Thượng Hải-Nam Kinh, khu vực giàu có nhất ở Trung Quốc. Họ có thể đặt thuế
tùy ý mà không phải lo cạnh tranh, vì điều kiện cho vay quy định rằng cấm xây dựng
đường sắt trên cùng một khu vực.
Sau chiến
tranh Nga-Nhật, Nhật Bản đã tiếp quản hệ thống đường sắt Nam Mãn Châu, nhưng họ
không có tiền để bảo trì và sửa chữa, Nhật Bản quả thực đã nợ quá nhiều tiền.
Ngân hàng Yokohama Specie đành phải nhờ đến Ngân hàng Hội Phong. Ngân hàng
Yokohama Specie có thể xưng hùng xưng bá ở Nhật Bản, nhưng họ vẫn chỉ là
"tiểu đệ" trên thị trường tài chính quốc tế.
Hầu hết các
tuyến đường sắt đã bị thế chấp cho các ngân hàng nước ngoài, chúng như thể những
sợi dây thừng ngày càng trói chặt nhà Thanh.
Cuối cùng,
gã khổng lồ một thời huy hoàng giờ đây chỉ là một cái xác suy tàn, với hàng đàn
kền kền tài chính phương Tây đang bu lấy. Chúng đôi khi cắn xé lẫn nhau, nhưng
đa phần vẫn tìm cách lấy lợi cho mình, và vẫn nhìn ngó xung quanh để tìm kiếm
những mối đe dọa tiềm tàng.
Nhận xét
Đăng nhận xét