PHONG TRÀO DUY TÂN MEIJI VÀ PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ - phần 10 - hết

SỰ PHÂN TÁCH CỦA ĐỊNH MỆNH

Trong Chiến tranh Giáp Ngọ 1894-1895, thất bại của Trung Quốc là một bất ngờ đối với thế giới, nhưng đó là một lẽ tất yếu đối với Trung Quốc. Vấn đề không nằm ở sự chênh lệch về sức mạnh quốc gia, mà nằm ở chiến lược tiêu cực của những kẻ thuộc phái Dương Vụ-mại bản.

Vào thời điểm đó, thực lực kinh tế và quân sự của Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế hơn so với Nhật Bản. Từ quan điểm kinh tế, mặc dù công cuộc Duy Tân Meiji ở Nhật Bản đã đạt được kết quả lớn, nhưng ngành công nghiệp nặng vẫn còn tương đối non yếu, ngành công nghiệp nhẹ thì chỉ có ngành dệt may tương đối phát triển, còn sản lượng thép, than, đồng, dầu hỏa và sản xuất máy móc thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Vào thời điểm đó, Nhật Bản có lượng vốn công nghiệp khoảng 70 triệu yên, nguồn vốn ngân hàng 90 triệu yên, kim ngạch xuất nhập khẩu 260 triệu yên và doanh thu tài chính là 80 triệu yên. Ngoại trừ khối lượng nhập khẩu tương đương với Trung Quốc, các chỉ số còn lại đều kém hơn Trung Quốc. Xét về mặt quân sự. Bắt đầu từ thời Meiji, bắt nguồn từ bản năng của một quốc đảo, Nhật Bản đã cố gắng huy động mọi nguồn lực để cải thiện sức mạnh quân sự của mình. Trước chiến tranh, họ sở hữu 55 tàu chiến, có một đội quân thường trực 220.000 người, tổng binh lực chưa bằng một nửa so với Trung Quốc, nhưng vũ khí và trang bị của hai bên không mấy khác biệt. Rõ ràng, nếu so sánh lực lượng quân sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc vẫn có một chút lợi thế.

Tục ngữ có câu: "Binh hùng hùng nhất cá, tướng hùng hùng nhất oa." Sẽ là một phép màu nếu "binh hùng tướng mạnh" dưới sự lãnh đạo của Lý Hồng Chương – Bắc Dương đại thần, người cầm đầu phe Dương Vụ, có thể giành chiến thắng trong trận chiến.

Hạm đội thủy quân Bắc Dương được Lý Hồng Chương huênh hoang là "Hạm đội thứ tám của thế giới", xếp trước Mỹ và Nhật Bản, vậy mà trong Chiến tranh Trung-Nhật lại chẳng thể bắn chìm nổi một tàu Nhật nào, còn bản thâm hạm đội này thì bị tiêu diệt hoàn toàn. Lục quân thì thậm chí tiến hành hàng chục chiến dịch nhưng lại toàn thất bại, có thể khái quát bằng bốn chữ "vọng phong nhu đào (nghe tiếng địch là chạy trốn tan tác)".

Trong chiến dịch Nha Sơn, quân của Diệp Chí Siêu không chỉ bỏ chạy tán loạn mà còn dám hoang báo chiến công. Sau đó trong chiến dịch ở Bình Nhưỡng, Triều Tiên, ông ta lại một lần nữa thi triển tuyệt kỹ "rút lui chiến thuật" của mình, chạy một mạch hơn 500 dặm về mạn sông Áp Lục. Trên tuyến phòng thủ sông Áp Lục, Lý Hồng Chương đã bố trí "hùng binh dũng tướng" gồm 40.000 người, quân số nhiều hơn hẳn quân Nhật, nhưng toàn bộ tuyến đã bị chọc thủng trong vòng chưa đầy 3 ngày. Khi người Nhật tấn công Nghĩa Châu, họ chỉ bắn một loạt đạn là cả đám "hùng binh dũng tướng" vội vã rút đi. Người Nhật tấn công Đại Liên, chủ soái Triệu Hoài Nghiệp vội kéo cờ trắng đầu hàng rồi chạy mất tăm mất tích. Không những vậy, Triệu Hoài Nghiệp hẳn là một người "chu đáo" khi trước đó đã cho người chuyển hết của nải vàng bạc trong nhà đi nơi khác, thế nhưng hơn 130 khẩu pháo, 2,4 triệu viên đạn pháo và đạn súng, đều đã rơi vào tay quân Nhật.

Tiếp sau đó quân Nhật lại đánh tới Lữ Thuận, đoàn "binh hùng tướng mạnh" với 70.000 quân theo kế "dĩ dật đới lao", đối phó với 20.000 quân Nhật hành quân viễn chinh, vậy mà chủ soái Cung Chiếu Mã còn chưa kịp thấy bóng dáng quân Nhật đâu, mà ngay trong đêm đã âm thầm ngồi thuyền trốn tới Uy Hải, khiến cho "binh hùng tướng mạnh" như rắn mất đầu, quân tâm rệu rã. Pháo đài Lữ Thuận mà Đế quốc Đại Thanh đã chi hàng chục triệu lạng bạc để xây dựng, đã bị quân Nhật công chiếm trong nháy mắt. Thảm cảnh này có thể được hình dung qua câu cảm thán của viên mạc liêu(37) của Lý Hồng Chương: "Có kẻ nói rằng Trung Quốc giờ như một con lợn chết nằm trên mặt đất, phó mặc cho người ta tùy ý xẻ thịt, câu nói đó thực đúng với cảnh tượng hiện tại."

Chú thích:

(37) Chức vụ thư ký.

Lý Hồng Chương không thể đánh trận, nhưng đàm phán là sở trường của ông ta. Kết quả là Triều Tiên sáp nhập vào phạm vi ảnh hưởng của Nhật Bản, cắt nhượng lại Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và bán đảo Liêu Đông, ngoài ra còn phải bồi thường 200 triệu lạng bạc theo "Hiệp ước Shimonoseki". Sau đó, qua sự hòa giải của các cường quốc đang nung nấu những ý đồ riêng, Nhật Bản đã đồng ý trả lại bán đảo Liêu Đông, nhưng số tiền bồi thường tăng thêm 30 triệu lạng bạc.

Đế chế Đại Thanh vừa mới đại bại thì kiếm đâu ra bạc để bồi thường? Thứ mà các ngân hàng quốc tế đang xoa tay chờ đợi chính là món nợ khổng lồ này. Đám kền kền tài chính từ khắp nơi trên thế giới lũ lượt bay tới, và Đế chế Đại Thanh bị rỉa xương róc thịt.

Chính phủ nhà Thanh đã vay tới 200 triệu lạng bạc, và chưa từng có khoản vay nợ nước ngoài nào lớn như vậy.

Trước Chiến tranh Giáp Ngọ, chính phủ nhà Thanh cũng đã vay các khoản nợ nước ngoài, nhưng số tiền không lớn. Không khó để trả tiền gốc và tiền lãi, và về cơ bản chúng đã được trả hết trước chiến tranh. Các khoản nợ nước ngoài mà Hiệp ước Shimonoseki yêu cầu đối với khoản bồi thường khổng lồ kia gần như đã thế chấp toàn bộ doanh thu tài chính của chính phủ nhà Thanh, và nguồn vốn độc quyền nước ngoài bắt đầu kiểm soát tài chính của nhà Thanh. Tình trạng mất cân đối thu-chi của chính phủ ngày càng nghiêm trọng. Để dùng làm tài sản thế chấp nợ, nhà Thanh buộc phải cho Đức thuê vịnh Giao Châu, Nga lấy cảng Lữ Thuận ở Đại Liên, Anh độc chiếm Uy Hải Vệ, còn Pháp mượn vịnh Quảng Châu. Các điều kiện cho vay là không được trả nợ trước thời hạn, cũng như không được đẩy nhanh tốc độ trả nợ. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là gần như tất cả thuế quan, thuế muối và thuế li. Nói một cách đơn giản, khoản nợ nước ngoài này được thế chấp bằng toàn bộ doanh thu thuế của Đế chế Đại Thanh. Thất bại của Chiến tranh Giáp Ngọ năm 1894 đã khiến nhà Thanh phá sản hoàn toàn.

Đột nhiên có được một nguồn của cải đánh kinh ngạc như vậy, dã tâm xâm lược của Nhật Bản tăng vọt và họ bắt đầu để mắt đến Nga.

Nhìn vào chiến thắng của Nhật Bản trong Chiến tranh Nga-Nhật theo quan điểm của Đế quốc Anh, thực ra sự kiện này phù hợp với bố cục chiến lược toàn cầu của người Anh. "Nhật Bản – quốc gia phương Đông xuất chúng, mạnh mẽ và nhỏ bé nằm dưới sự bảo hộ của chúng ta, đã quyết tâm đánh bại người Nga vì chúng ta." Và người Nhật đã đổ máu để rước về 1,5 tỷ yên nợ nước ngoài và mức tiêu thụ chiến tranh khổng lồ, gần gấp 4 lần thu nhập từ Chiến tranh Giáp Ngọ năm 1894! Vào thời điểm này, Nhật Bản đã trở nên điên cuồng, và họ sẽ không thể trả được một khoản nợ cao như vậy nếu không đi ra ngoài để cướp bóc. Bất kể Chiến tranh Trung-Nhật hay Chiến tranh Nga-Nhật, ngoài hai phía thắng-thua phải chịu đầu rơi máu chảy, chỉ có các chủ ngân hàng quốc tế đứng phía sau tranh giành miếng bánh bảo lãnh nợ nước ngoài là hưởng lợi.

Lý Hồng Chương cũng đã chuẩn bị một chiếc bánh lớn hơn cho các chủ ngân hàng quốc tế, đó là huy động vốn cho mạng lưới đường sắt của Trung Quốc. Đế chế Đại Thanh có thể không ngờ được rằng, chính làn sóng xây dựng đường sắt đã "tống táng" sự thống trị của họ.

Đường sắt chắc chắn là một thứ tốt đẹp, nhưng điều quan trọng là ai kiểm soát nó.

Theo cách nói của những thế lực trùm sò trong Chính quyền Meiji, họ đã tận mắt chứng kiến ở Ấn Độ rằng bất cứ nơi nào đường sắt của Đế quốc Anh được xây dựng, nơi đó sẽ trở thành một thuộc địa khốn khổ, bi thảm. Triều đại nhà Thanh đã đến hồi thoi thóp, căn bản chẳng còn xu bạc nào để xây dựng mạng lưới đường sắt quốc gia, trong khi các chủ ngân hàng quốc tế thì thiếu kiên nhẫn.

Khoản vay đường sắt đầu tiên được giao cho Ngân hàng Hội Phong và Jardine Matheson. Đây là tuyến đường sắt từ Thiên Tân đến Phụng Thiên và Ngưu Trang, tài sản bảo đảm là tất cả các tài sản đường sắt từ Bắc Kinh đến Sơn Hải Quan. Nói cách khác, nếu chính phủ nhà Thanh không thể trả nổi khoản vay này, Vương quốc Anh sẽ trưng thu Bắc Kinh. Tất cả các tuyến đường sắt, toa xe, đầu máy và các nghiệp vụ khác đều thuộc về Jardine Matheson.

Thương vụ đường sắt thứ hai là tuyến Lư-Ninh từ Thượng Hải đến Nam Kinh. Lưu vực sông Dương Tử vốn trực thuộc phạm vi ảnh hưởng của người Anh. Nhưng người Nga không hài lòng vì tuyến đường sắt Sơn Hải Quan có thể uy hiếp các bến cảng của họ, nên nhất quyết nhảy ra phá bĩnh. Kết quả là người Nga cụt hứng bỏ đi. Do đó, Ngân hàng Hội Phong và Jardine Matheson đã nắm độc quyền vận chuyển đường sắt trong tuyến Thượng Hải-Nam Kinh, khu vực giàu có nhất ở Trung Quốc. Họ có thể đặt thuế tùy ý mà không phải lo cạnh tranh, vì điều kiện cho vay quy định rằng cấm xây dựng đường sắt trên cùng một khu vực.

Sau chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản đã tiếp quản hệ thống đường sắt Nam Mãn Châu, nhưng họ không có tiền để bảo trì và sửa chữa, Nhật Bản quả thực đã nợ quá nhiều tiền. Ngân hàng Yokohama Specie đành phải nhờ đến Ngân hàng Hội Phong. Ngân hàng Yokohama Specie có thể xưng hùng xưng bá ở Nhật Bản, nhưng họ vẫn chỉ là "tiểu đệ" trên thị trường tài chính quốc tế.

Hầu hết các tuyến đường sắt đã bị thế chấp cho các ngân hàng nước ngoài, chúng như thể những sợi dây thừng ngày càng trói chặt nhà Thanh.

Cuối cùng, gã khổng lồ một thời huy hoàng giờ đây chỉ là một cái xác suy tàn, với hàng đàn kền kền tài chính phương Tây đang bu lấy. Chúng đôi khi cắn xé lẫn nhau, nhưng đa phần vẫn tìm cách lấy lợi cho mình, và vẫn nhìn ngó xung quanh để tìm kiếm những mối đe dọa tiềm tàng.

Trích "Chương 2, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét