PHONG TRÀO DUY TÂN MEIJI VÀ PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ - phần 5

NHẬT BẢN KIỂM SOÁT BIÊN GIỚI TÀI CHÍNH

Tập đoàn quyền lực "công thần của Meiji" gồm bốn phiên trấn lớn là Choshu, Satsuma, Saga, Tosa nắm giữ đại quyền trong chính phủ của Thiên Hoàng Meiji. Mặc dù đãi ngộ của Thiên Hoàng Meiji đã được cải thiện đáng kể so với thời của Mạc phủ Tokugawa, nhưng ông vẫn là một "Chu thiên tử" hữu danh vô thực. Tập đoàn quyền lực "công thân Meiji" coi Hoàng đế như một vị thần và hết mực sùng kính, nhưng quyền lực thực sự thì nằm trong tay họ. Mặc dù những tên đầu sỏ này đã lật đổ Mạc phủ Tokugawa, nhưng vẫn còn hơn 300 chư hầu nhỏ rải rác trên khắp Nhật Bản. Nếu không tiêu diệt hoàn toàn thì chẳng có gì đảm bảo rằng một gia tộc Tokugawa khác sẽ không xuất hiện. Đồng thời, nếu như muốn "ngồi cùng mâm" với các cường quốc phương Tây, tình trạng cát cứ phong kiến chắc chắn sẽ cản trở nghiêm trọng quá trình hiện đại hóa ở Nhật Bản.

Nhưng làm thế nào để trấn áp đây? Trong lịch sử đã có hằng hà sa số những cuộc phiến loạn khởi nguồn vì ký do này.

Tập đoàn quyền lực "công thần Meiji" cuối cùng đã thương lượng với nhau và đề xuất biện pháp "Phế phiên, lập huyện(27)". Chính phủ trung ương sẽ trả tiền cho tất cả quân phiệt chư hầu và các thuộc hạ của họ, cũng như tầng lớp samurai với số lượng khổng lồ. Sau khi tính toán thì các chư hầu đều thấy rất hợp lý. Trước đây, thu nhập trên danh nghĩa hàng năm của họ là 100.000 thạch gạo, tương đương khoảng 64.000 bảng. Sau khi "Phế phiên, lập huyện", chính phủ đã cho họ 50.000 thạch bổng lộc mỗi năm. Đãi ngộ như vậy đã khá là hậu hĩnh. Cần phải hiểu rằng thu nhập của các chư hầu thường không ổn định, thu hoạch lương thực thì phụ thuộc vào thiên nhiên, đó là chưa kể nếu xảy ra bạo loạn chiến tranh, họ sẽ lại phải móc hầu bao ra để xua quân trấn áp, chưa biết chừng còn phải bồi thường chiến phí. Đồng thời, họ không còn phải gánh vác sinh kế của tầng lớp samurai vốn đã bị mất đất. Nhà nước sẽ hỗ trợ những người này, còn họ thì nhẹ bớt muôn phần gánh nặng. Vì vậy, công việc diễn ra rất suôn sẻ. Một nhà báo người Anh khi đó đã cảm thán rằng phải mất hàng thế kỷ để châu Âu xóa bỏ hệ thống quân phiệt phong kiến, trong khi Nhật Bản chỉ mất ba tháng để hoàn thành.

Trong thực tế, tình hình không hề lạc quan đến thế. Chế độ phiên trấn đã bị bãi bỏ, và những nguy cơ tiềm ẩn của Mạc phủ Tokugawa đã được tiêu diệt hoàn toàn, nhưng cái giá phải trả là quốc gia phải gánh vác một khoản chi phí tài chính khổng lồ để nuôi dưỡng giai cấp quân phiệt phiên trấn tương tự như "Bát kỳ(28) tử đệ" lên tới 2 triệu người. Chi tiêu bổng lộc dành cho các chư hầu và samurai chiếm gần 1/3 ngân sách tài chính trung ương, và khoản nợ gộp khổng lồ lên tới 78 triệu lạng bạc của các phiên trấn đã làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng tài chính của chính phủ Meiji mới.

Chú thích:

(27) Phế phiên, lập huyện là một đạo luật vào năm 1871 của chính quyền Minh Trị thay thế hệ thống phong kiến truyền thống Nhật Bản bằng các đơn vị hành chính do chính quyền trung ương thống nhất quản lý, để tập trung quyền lực trung ương, đặt nền tảng cho sự hình thành quốc gia dân tộc hiện đại.

(28) Bát kỳ: Chế độ tổ chức quân sự đặc trưng của người Mãn Châu và nhà Thanh (sau này), đặc trưng của Bát Kỳ là mỗi đơn vị được phân biệt bằng một lá cờ khác nhau, tổng cộng có tám lá cờ cơ bản. Theo đó, mọi người dân Mãn Châu đều thuộc một trong tám "Kỳ", đứng đầu là một kỳ chủ và tư lệnh tối cao là Đại Hãn, đó vừa là các đơn vị dân sự vừa mang tính chất quân sự.

Khi các "công thần Meiji" mới lên nắm quyền, tất cả đều cần tiền để giải quyết các xáo trộn nội bộ và các rắc rối bên ngoài. Chính phủ mới thì không có tiền, việc thu thuế cũng chẳng thể ngày một ngày hai là phát huy hiệu quả, vì vậy chỉ có thể đáp ứng khẩn cấp bằng cách in tiền. Điều này giống hệt như việc in điên cuồng tiền giấy thuộc địa khi các thuộc địa của Mỹ nổi dậy chống lại Đế quốc Anh.

Bắt đầu từ năm 1868, trong hai năm đầu tiên của chính phủ mới, chính phủ Meiji đã phát hành tổng cộng 48 triệu yên tiền giấy, hơn một nửa trong số đó là để duy trì hoạt động của chính phủ. 12,7 triệu yên để cung cấp khoản vay cho các chư hầu đã ủng hộ chính phủ mới. 10 triệu yên còn lại được sử dụng cho phát triển công nghiệp và thương mại, bao gồm cả ngành ngân hàng. Kể từ năm thứ ba, ba loại tiền giấy đã được bổ sung thêm: một là 7,5 triệu yên tiền xu bổ trợ cho Bộ Nội vụ Nhật Bản phát hành để hỗ trợ trái phiếu chính phủ. Thứ hai là 6,8 triệu yên trái phiếu Đại Tàng Tỉnh do Đại Tàng Tỉnh của Nhật Bản phát hành để bù đắp thâm hụt tài khóa. Thứ ba là 2,5 triệu yên "trái phiếu Hạ Cảng An Trí" được sử dụng để sắp xếp bố trí cho giai cấp samurai bị thải hồi đến vùng Hokkaido lập nghiệp. Việc in tiền với quy mô điên rồ như vậy, cùng với sự lan tràn của nạn tiền giả đã đẩy xã hội Nhật Bản rơi vào tình trạng siêu lạm phát, tín dụng tiền giấy của chính phủ giảm mạnh và chính quyền gặp muôn vàn rủi ro.

Chính phủ mới thiếu ngân sách và việc in tiền chỉ là một giải pháp khẩn cấp. Muốn tính kế lâu dài thì bắt buộc phải tăng doanh thu. Vì vậy, chính phủ mới bắt đầu cải cách để kiếm tiền địa tô (cho thuê đất). Vào thời điểm đó, tất cả các loại thuế ở Nhật Bản đều phải trả bằng hiện vật, và nông dân còn phải gánh chịu sưu dịch. Đây chính là vấn đề mà 300 năm trước, Trương Cư Chính – Nội các Thủ phụ của triều Minh đã giải quyết ổn thỏa thông qua "Nhất điều biện pháp(29)". Thành công của cải cách địa tô đã giúp gia tăng đáng kể nguồn thu nhập ổn định của chính phủ.

Chú thích:

(29) "Luật roi đơn" hay "Cải cách đòn roi đơn" là luật tài khóa được ban hành đầu tiên vào thời nhà Minh vào đầu thế kỷ XVI, và sau đó được ban hành trên toàn đế chế vào năm 1580 bởi Trương Cư Chính.

Sau khi nền kinh tế dần ổn định, bổng lộc của các chư hầu và samurai trở thành một vấn đề khiến cho tập đoàn quyền lực "công thần của Meiji" hết sức đau đầu. Sau nhiều phen hiệp thương, những gã đầu sỏ này đã nghĩ ra một chiêu gọi là "kim lộc công trái". Thay vì mỗi năm trả một khoản tiền mặt khổng lồ cho các chư hầu và samurai, chẳng thà chính phủ mua đứt một lần tất cả bổng lộc của họ trong tương lai, tương tự như chính sách "Mại đoạn công lăng(30)", nhưng sẽ không trả bằng tiền mặt mà trả bằng kim lộc công trái. Những ai có bổng lộc cao thì được trả một lần khoản tiền tổng thu nhập 6-7 năm với lãi suất 5%. Ai có bổng lộc thấp thì được trả một lần khoản tiền tổng thu nhập 10-12 năm một lần, với lãi suất cao hơn một chút. Trong tương lai, chính phủ sẽ chỉ trả lãi hàng năm và gánh nặng tài chính sẽ giảm đi rất nhiều. Tiền gốc của khoản công trái sẽ được chi trả vào năm thứ 6 sau khi bán ra, và sẽ được trả hết trong vòng 30 năm. Chính sách này rõ ràng cao minh hơn hẳn so với chính sách cưỡng ép "Bát kỳ tử đệ" đến vùng đất canh tác ở ngoại ô Bắc Kinh khi Hoàng đế Ung Chính của nhà Thanh tiến hành cải cách tài chính. Trình độ quản lý tài chính trong thời Meiji ở Nhật Bản thực sự rất đáng kinh ngạc.

Chú thích:

(30) Một phương pháp được một số doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc sử dụng trong giai đoạn đầu cải cách và mở cửa để tái bố trí nhân sự dư thừa. Họ xét các điều kiện cuộc sống, tiền lương và công việc của nhân viên, kết hợp tình hình thực tế của doanh nghiệp. Sau khi tham khảo ý kiến giữa doanh nghiệp và nhân viên, họ sẽ báo cáo cho các bộ phận liên quan phê duyệt, doanh nghiệp trả cho nhân viên một số tiền nhất định để giải quyết mối quan hệ lao động và đẩy nhân viên dư thừa ra ngoài xã hội.

Như vậy, một lượng lớn vốn có thể được giải phóng để phát triển các ngành nghề, sau đó chính phủ sẽ sử dụng lợi tức đầu tư vào các ngành nghề đó để trả cả gốc lẫn lãi cho "kim lộc công trái".

Vào tháng 8 năm 1876, chính phủ Meiji bắt đầu phát hành "kim lộc công trái", với số tiền lên tới 174 triệu yên. Cần phải hiểu rằng tổng lưu thông tiền tệ của Nhật Bản khi đó chỉ là 112 triệu yên! Đồng thời, chính phủ Meiji đã sửa đổi Luật Ngân hàng Quốc gia để cho phép "kim lộc công trái" được sử dụng làm nguồn vốn ngân hàng. Các quân phiệt chư hầu trở nên giàu có chỉ sau một đêm, ngay lập tức lấy hàng triệu trái phiếu mà họ đã nhận được để đầu tư vào các ngân hàng. Có thể thấy rằng "IQ tài chính" của tầng lớp quân phiệt chư hầu của Nhật Bản thời kỳ đó cũng tương đối lợi hại. Họ đã biết được đầu tư vào một ngân hàng thương mại thì sẽ gặt hái được những lợi ích nào. Các cổ đông của Ngân hàng Quốc gia Đệ thập ngũ Nhật Bản – một ngân hàng rất có tiếng tăm, hầu hết đều là những gã nhà giàu mới nổi. Họ đã chuyển đổi thành công thu nhập bổng lộc thành nguồn vốn tài chính, và đầu tư nguồn vốn đó vào các dự án công nghiệp thịnh vượng nhất. Ba năm sau khi kim lộc công trái được phát hành, số lượng các ngân hàng quốc gia của Nhật Bản tăng vọt lên tới 153. Trong khi đó, các chiến binh samurai cấp trung và cấp thấp chẳng có bất cứ ngòn nghề nào khác ngoài đánh đấm. Trên thương trường, họ căn bản chẳng thể đối chọi với giới thương nhân, kết quả là một lượng lớn kim lộc công trái của họ đã bị đoạt mất. Trong số các samurai đã "giải nghệ", chỉ có một số người gặt hái được thành công, còn tuyệt đại đa số thì rơi xuống tầng lớp bần cùng của xã hội.

Cùng với sự ra đời của những chính sách hệ trọng này, khối lượng nghiệp vụ tài chính ngày càng lớn hơn, và gia tộc Mitsui đã đẩy nhanh tiến độ xin giấy phép ngân hàng. Mặc dù trước đó đã bị chính phủ từ chối, nhưng Mitsui vẫn không từ bỏ. Khi Inoue một lần nữa trở lại Đại Tàng Tỉnh của Nhật Bản vào năm 1876, đơn xin cấp giấy phép ngân hàng của Mitsui ngay lập tức được chấp thuận, nhưng với một điều kiện là gia tộc này sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn. Vào ngày 1 tháng 7 năm 1876, Ngân hàng Mitsui chính thức được thành lập, đây là ngân hàng tư nhân đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản. Giấc mơ phát hành tiền giấy của Mitsui cuối cùng đã thành hiện thực.

Ngân hàng Mitsui ra đời từ mô hình kinh doanh phiếu hiệu và tiền trang truyền thống. 31 chi nhánh của nó vốn thuộc chuỗi cửa hiệu phục trang của Mitsui, giờ đây chúng chính thức tách khỏi hoạt động kinh doanh ban đầu và chuyên về nghiệp vụ tài chính. Ngân hàng Mitsui ngay lập tức có được một mạng lưới tài chính lớn nhất Nhật Bản. Những khách hàng thân thuộc của họ đã lần lượt trở thành khách hàng của Ngân hàng Mitsui. Trong năm khai trương, tổng số tiền gửi bằng đồng yên đã lên tới 11,37 triệu yên, ngoài ra còn có 2,28 triệu ngoại tệ là đô-la. Chiến lược "Phế phiên, lập huyện", tiền tệ hóa địa tô và kim lộc công trái đã giúp gia tăng đáng kể doanh thu tài chính của chính phủ Meiji, và một nửa doanh thu tài chính trung ương của Nhật Bản vào thời điểm đó cũng được gửi vào Ngân hàng Mitsui. Điều này tương đương với việc Ngân hàng Mitsui đã nhận được một nguồn vốn khổng lồ không mất lãi suất, không cần thế chấp từ chính phủ Meiji. Với nguồn tài lực hùng hậu như vậy, Mitsui bắt đầu đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp như đường sắt, dệt may, sản xuất giấy, vận chuyển, khai thác than và các ngành công nghiệp khác. Từ đó, một thế lực tài phiệt siêu cấp với tài chính đóng vai trò cốt lõi và các ngành công nghiệp là xương sống đã được hình thành, chúng tồn tại đan xen, phụ thuộc và bổ trợ lẫn nhau.

Năm 1882, theo kế hoạch của Matsukata Masayoshi, Inoue Kaoru và những người khác, ngân hàng trung ương đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản – Ngân hàng Nhật Bản đã chính thức được thành lập. Đây là một công ty theo chế độ cổ phần. Chính phủ và các nhà tài chính tư nhân đều nắm giữ vốn chủ sở hữu tương ứng. Gia tộc Mitsui sẽ cử đại diện đến hội đồng quản trị của ngân hàng trung ương để tham gia vào quá trình ra quyết định. Mặc dù những thế lực tài phiệt đại diện cho lợi ích của các bên đã "pha loãng" một chút quyền lực của Mitsui, nhưng thực tế thì không ai trong ngành tài chính của Nhật Bản có thể đứng ngang hàng với Mitsui.

Sau đó, với tư cách là ngân hàng phát hành tiền giấy hợp pháp duy nhất tại Nhật Bản, Ngân hàng Nhật Bản dần dần thu hồi quyền phát hành tiền giấy từ 153 ngân hàng quốc lập khác, kiểm soát hoàn toàn điểm cao chiến lược của nền tài chính Nhật Bản.

Một chức năng quan trọng khác của Ngân hàng Nhật Bản là trực tiếp tài trợ cho một số lượng lớn các ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển trong nước. Ngân hàng Nhật Bản đã mở một kênh chiết khấu đặc biệt để cho vay thế chấp cổ phiếu và trái phiếu của các doanh nghiệp trọng điểm. Đây là điều không thể tưởng tượng được ở các quốc gia khác, bởi điều đó tương đương với việc trực tiếp "tiền tệ hóa" các khoản nợ và cổ phiếu của các doanh nghiệp, và xã hội sẽ cùng chung tay chia sẻ chi phí phát triển của các doanh nghiệp trọng điểm. Điều này cũng tạo ra những điều kiện cực kỳ quan trọng dẫn tới sự phát triển vũ bảo của ngành công nghiệp Nhật Bản.

Dưới sự huy động của Ngân hàng Nhật Bản, các nguồn tài chính trên khắp nước này đã được tích hợp một cách hiệu quả. Toàn bộ hệ thống ngân hàng đã được mở rộng tín dụng một cách triệt để, và nguồn vốn quy mô lớn liên tục được bơm vào hệ thống công nghiệp. Điều quan trọng cần lưu ý là từ khi bắt đầu công cuộc Duy Tân Meiji cho đến Chiến tranh Giáp Ngọ, lý do Nhật Bản không tiến hành vay nợ nước ngoài với quy mô lớn là bởi chính phủ nước này đã tận mắt chứng kiến xu thế thực dân hóa hết sức nguy hiểm mà Trung Quốc và các quốc gia khác đang phải đối mặt vì áp lực của nợ nước ngoài. Nguồn vốn chủ yếu cho công cuộc Phục hưng Meiji tại Nhật Bản đến từ việc tích hợp và huy động các nguồn tài chính trong nước, và điều quan trọng hơn cả là việc sáng tạo tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng Nhật Bản
Ngân hàng Nhật Bản

Dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhật Bản, hệ thống tài chính của Nhật Bản đã đạt được sự phát triển chưa từng có. Đến năm 1901, số lượng các loại hình tổ chức tài chính khác nhau ở nước này đã lên tới hàng ngàn. Chỉ riêng ngân hàng thương mại đã lên tới con số 1.867, và mạng lưới tài chính đã bao phủ khắp các thành phố và vùng nông thôn của Nhật Bản. Trong 10 năm sau đó, tín dụng của hệ thống ngân hàng cho ngành công nghiệp và thương mại đã tăng gấp ba lần. Tổng quy mô tiền gửi tăng gấp bốn lần. Các ngành công nghiệp của Nhật Bản như đường sắt, vận chuyển, khai thác, dệt may, quân sự, sản xuất máy móc, nông nghiệp, thương mại và các ngành công nghiệp khác đã phát triển vũ bão nhờ sự kích thích của nguồn vốn khổng lồ.

Trích "Chương 2, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét