PHONG TRÀO DUY TÂN MEIJI VÀ PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ - phần 6

TẠI SAO PHONG TRÀO DUY TÂN MEIJI KHÔNG TIẾN HÀNH "CHIÊU THƯƠNG DẪN TƯ" TỪ NƯỚC NGOÀI?

Trong giai đoạn đầu của công cuộc Duy Tân Meiji, chính phủ Nhật Bản có thể nghĩ ra cách sử dụng kim lộc công trái làm nguồn vốn cốt lõi của ngân hàng. Điều đó cho thấy sự hiểu biết sâu sắc của Nhật Bản đối với bản chất của tài chính hiện đại đã vượt xa Đế chế Thanh trong thời kỳ đó. Xin lưu ý rằng, quá trình công nghiệp hóa của Nhật Bản trong thời đại Meiji không hề nhờ cậy đến nguồn vốn quy mô lớn từ nước ngoài hoặc nợ nước ngoài, đó là vì đất nước này đã khám phá triệt để các bí mật của tín dụng ngân hàng. Theo cơ chế tiền tệ tín dụng và ngân hàng hiện đại, tiền pháp định(31) sẽ không bao giờ khan hiếm và tiền có thể được tạo ra bởi chính hệ thống ngân hàng. Nếu vậy thì căn bản sẽ không cần tới nguồn vốn nước ngoài rót bào hệ thống ngân hàng của Nhật Bản. Mục đích duy nhất để Nhật Bản cần tới nguồn tiền tệ cứng(32) của quốc tế, đó là những công nghệ thiết bị và nguồn tài nguyên nước ngoài mà Nhật Bản không có!

Chú thích:

(31) Tiền pháp định là một loại tiền tệ không có giá trị nội tại được xác lập theo quy định của chính phủ, được gán giá trị nhờ quyền lực của chính phủ.

(32) Tiền tệ cứng, tiền tệ trú ẩn an toàn hoặc tiền tệ mạnh là bất kỳ loại tiền tệ nào được giao dịch trên toàn cầu, đóng vai trò là một kho lưu trữ giá trị đáng tín cậy và ổn định.

Do đó, công cuộc Phục hưng Meiji ở Nhật Bản chưa bao giờ tiến hành "chiêu thương dẫn tư(33)". Nhật Bản chỉ cần công nghệ, máy móc, thiết bị và nguyên liệu nước ngoài, còn khả năng quản lý thì tự họ đã thể hiện sự tài giỏi hơn hẳn so với các quốc gia khác. Tiền tệ cứng có thể được thu về thông qua xuất khẩu lụa, trà và đồ gốm sứ của Nhật Bản. Còn nguồn vốn nước ngoài ư? "Xin lỗi, tôi không cần!" Bởi vì Nhật Bản có thể tự tạo ra tiền! Các hiệu buôn nước ngoài có thể tham gia thương mại quốc tế để giúp các sản phẩm của Nhật Bản được đưa ra thị trường thế giới và mua những thứ mà Nhật Bản cần. Còn thương mại trong nước sẽ được chia sẻ bởi các công ty riêng của Nhật Bản.

Chú thích:

(33) Thu hút nguồn vốn đầu tư và các doanh nghiệp nước ngoài

Khả năng "tiêu hóa" đối với công nghệ phương Tây chính là "tuyệt chiêu" của Nhật Bản. Thực hiện mọi thứ đạt đến mức độ tinh tế và chuẩn xác tối đa chính là tuyệt kỹ của Nhật Bản. Khi hạm đội Nga ghé thăm Nhật Bản, những người Nhật tò mò đã lên tàu để tham quan, và người Nga đã cho họ xem mô hình đồ chơi của tàu hỏa chạy bằng hơi nước. Khi lần đầu tiên nhìn thấy một chuyến tàu nhỏ xíu nhả khói nghi ngút chạy trên đường ray, mọi người đều bị sốc. Kể từ giây phút đó họ đã quên ăn quên ngủ, tỉ mẩn nghiên cứu xem tại sao tàu hỏa lại có thể di chuyển. Chẳng mấy chốc, người Nhật cũng chế tạo được những mô hình tàu hỏa nhỏ xíu, và chẳng mấy chốc họ đã làm được những đoàn tàu còn tinh tế hơn cả người Nga.

Chế độ ngân hàng dự trữ một phần(34) của các ngân hàng hiện đại là một chế độ tài chính có đòn bẩy cao. Một yên tiền dự trữ đó có thể tạo ra hiệu ứng phóng đại thành 10 đồng. Tại Nhật Bản giai đoạn trước năm 1882, toàn bộ hệ thống ngân hàng thậm chí đã sử dụng đòn bẩy gần 20 lần để tạo ra tiền trên quy mô lớn. Việc tạo ra tiền với quy mô này đã kích thích cực đại bước nhảy vọt của ngành công nghiệp và thương mại Nhật Bản, nhưng điều đó cũng ẩn giấu những nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát.

Chú thích:

(34) Ngân hàng dự trữ một phần (fractional reserve banking) là khái niệm dùng để chỉ trường hợp các ngân hàng thương mại chỉ dự trữ một phần nhỏ tài sản có khả năng thanh toán cao so với tổng tài sản của nó. Mục tiêu của dự trữ là để đáp ứng những thay đổi bất thường trong tiền gửi do việc công chúng rút tiền mặt, hay yêu cầu chuyển khoản bằng séc sang ngân hàng khác. Khi lấy dự trữ chia cho tiền gửi, chúng ta được con số tỷ lệ gọi là tỷ lệ dự trữ.

Hành vi vay nợ nước ngoài quy mô lớn của Nhật Bản xảy ra trong Chiến tranh Giáp Ngọ và Chiến tranh Nga-Nhật. Vào thời điểm đó, lĩnh vực tài chính trong nước của Nhật Bản đã đạt được sự thống nhất lớn, và công nghiệp hóa hiện đại về cơ bản đã hình thành. Nợ nước ngoài sẽ không thể làm suy yếu sự độc lập chính trị và kinh tế của nước này. Nợ nước ngoài của chiến tranh tương đương với đầu tư mạo hiểm. Nhật Bản đã thu được lợi ích rất lớn trong hai cuộc Chiến tranh Giáp Ngọ và Chiến tranh Nga-Nhật. Nợ nước ngoài chẳng qua chỉ là sự chia sẻ lợi nhuận với các cường quốc mà thôi.

Khi sức mạnh tài chính trong nước của Nhật Bản mở rộng nhanh chóng, tầm ảnh hưởng của các ngân hàng nước ngoài trước đây vốn nắm vị thế chi phối đã suy yếu đáng kể. Từ năm 1863 đến 1868, sáu ngân hàng nước ngoài lớn nhất đặt chân đến Nhật Bản có tổng số vốn 220 triệu lạng bạc, vượt xa tổng sức mạnh của hệ thống ngân hàng Nhật Bản lúc bấy giờ. Cho đến năm 1897, tổng số vốn của hệ thống ngân hàng Nhật Bản chỉ là 133 triệu yên, điều đó cho thấy sức mạnh của các ngân hàng nước ngoài.

Sau khi Phong trào Duy Tân Meiji được tiến hành, bất chấp các ngân hàng nước ngoài có thực lực siêu hùng hậu, việc mở cửa thị trường Nhật Bản của họ luôn gặp muôn vàn khó khăn. Đến đầu thế kỷ XX, ngoại trừ Ngân hàng Hội Phong, tất cả sáu ngân hàng nước ngoài lớn tại Nhật Bản đều đã đóng cửa hoặc rời đi. Nguồn lợi nhuận khổng lồ của Ngân hàng Hội Phong từ việc buôn bán thuốc phiện ở Trung Quốc đã giúp họ duy trì được chỗ đứng ở Nhật Bản, nhưng họ cũng bị dồn ép vào các lĩnh vực nhỏ hẹp như ngoại thương và trao đổi quốc tế. Chẳng những không thể nắm được quyền phát hành tiền tệ của Nhật Bản, mà ngay cả việc tiến chiếm các nghiệp vụ thông thường tại thị trường Nhật Bản cũng muôn vàn khó khăn.

Ngoài sự cạnh tranh và ngăn chặn khốc liệt của các đối thủ như Mitsui, Mitsubishi và Sumitomo, việc Nhật Bản thiếu vắng nguồn thổ nhưỡng cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của giai cấp dương mại bản cũng là một lý do quan trọng. Nếu không có sự hợp tác mạnh mẽ của người bản địa, các nghiệp vụ của ngân hàng nước ngoài sẽ không thể phát triển tại thị trường Nhật Bản. Gia tộc Mitsubishi đã từng tuyên bố công khai với tất cả nhân viên rằng họ sẽ đẩy các công ty vận chuyển nước ngoài ra khỏi thị trường vận chuyển Nhật Bản. Với sự giúp đỡ của hai tập đoàn quyền lực khổng lồ là chính phủ và giới tài phiệt, Mitsubishi đã thực hiện được lời thề của mình.

Chính phủ Meiji được thành lập với cốt lõi là giới quý tộc và samurai của hai phiên trấn Choshu và Satsuma, đã đối xử với các cường quốc phương Tây hoàn toàn khác biệt với các chính khách và văn nhân của chính phủ nhà Thanh, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính. Đại Tàng Tỉnh của Nhật Bản là nơi nắm giữ quyền lực cốt lõi của Chính phủ Meiji. Rất nhiều quan chức tài chính đều xuất thân từ những danh gia vọng tộc của hai phiên trấn Choshu và Satsuma, những người này đều coi tài chính là một đài giác đấu để các samurai quyết chiến. Nếu các ngân hàng nước ngoài muốn kiểm soát tài chính của Nhật Bản, khó khăn đầu tiên họ phải vượt qua là nhóm chiến binh tài chính này.

Khi Nhật Bản kiểm soát hoàn toàn hệ thống tài chính của mình, họ cũng đã nắm chắc trong tay vận mệnh của quốc gia. Mặc dù trong quá trình công nghiệp hóa kịch liệt, sự hỗn loạn tài chính đã từng gây ra lạm phát và giảm phát nghiêm trọng, nhưng xét về tổng thể, Nhật Bản chỉ mất một thế hệ để từ một quốc gia lạc hậu đang đứng bên bờ vực thuộc địa để nhảy vọt trở thành một thế lực công nghiệp hiện đại, đã lập công đầu cho sự ổn định của biên giới tài chính!

Ngay sau đó, Nhật Bản bắt đầu triển khai một cuộc tấn công dữ dội vào hoạt động nghiệp vụ trao đổi tiền tệ và thương mại quốc tế mà Ngân hàng Hội Phong đang chiếm ưu thế.

Trích "Chương 2, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét