Sự sụp đổ của biên giới tài chính - phần 10 - hết

Dương Mại Bản: Hiện Tượng Đặc Thù Của Trung Quốc

Từ "mại bản" có nguồn gốc từ tiếng Bồ Đào Nha, ban đầu chỉ những nô bộc chịu trách nhiệm thu mua hàng hóa trên thị trường cho các thương nhân châu Âu ở khu vực miền nam Trung Quốc. Sau đó, nó được dùng để chỉ các thương nhân địa phương đã giúp các công ty nước ngoài mở rộng kinh doanh tại Trung Quốc. Trong thời kỳ đầu, dương mại bản không phải là nhân viên của các công ty nước ngoài, mà là các thương nhân độc lập và có mối quan hệ đại lý với các hiệu buôn nước ngoài. Để đủ điều kiện làm dương mại bản, họ thường phải nộp một khoản tiền đảm bảo nhất định. Nếu như quy mô của việc buôn bán không đạt được mục tiêu đã đặt ra hoặc bị thua lỗ thì các hiệu buôn nước ngoài sẽ phạt trừ vào khoản tiền đảm bảo đó. Ngược lại, nếu như họ làm ăn hiệu quả thì sẽ được các hiệu buôn nước ngoài chia lợi nhuận.

Xét từ góc độ thương mại thuần túy, mại bản chỉ một hành vi đại diện thương mại hết sức thông thường, không có gì phải tranh cãi. Tuy nhiên, nếu các hiệu buôn nước ngoài không đảm bảo công bằng thương mại mà tiến hành theo kiểu chén ép, các ngân hàng nước ngoài không triển khai các dịch vụ tài chính thông thường, mà lại có những hành vi mang tính thao túng để kiểm soát cung ứng tiền tệ, vậy thì bản chất của vấn đề sẽ thay đổi. Thế lực của các hiệu buôn nước ngoài và ngân hàng nước ngoài càng mạnh, quy mô kinh doanh càng lớn thì tác hại đối với nền kinh tế Trung Quốc sẽ càng lớn. Trong quá trình đó, dương mại bản – lực lượng trực tiếp "hà hơi tiếp sức" cho các thế lực tài chính nước ngoài mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Trung Quốc đã trở thành đồng phạm quan trọng làm tổn hại đến lợi ích của chính đất nước mình.

Qua việc Hồ Tuyết Nham bị "săn lùng", người ta có thể thấy rõ sức sát thương nghiêm trọng mà giai cấp dương mại bản đã gây ra đối với kinh tế, tài chính, thương mại và sinh kế của người dân Trung Quốc. Nếu không có sự dốc sức phục vụ của dương mại bản, các hiệu buôn nước ngoài và ngân hàng nước ngoài chắc chắn sẽ không thể giành được quyền kiểm soát lớn đến vậy ở Trung Quốc.

Là giao dịch thương mại bình đẳng, hay là sự kiểm soát và thao túng? Phán đoán một cách chính xác ý định và hành vi của dòng vốn tài chính nước ngoài sẽ là yếu tố cốt lõi để đánh giá tất thảy công-tội, đúng-sai.

Nếu quan sát các quốc gia trên khắp thế giới, chúng ta sẽ thấy rằng dương mại bản là một hiện tượng mang đậm nét Trung Quốc. Một giai cấp đặc biệt như vậy chưa bao giờ xuất hiện ở Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Hoa Kỳ. Đây là một hiện tượng độc đáo của nhà nước nửa thuộc địa của Trung Quốc. Trong quá trình mở rộng của phương Tây, Mỹ và châu Phi là hai khu vực đầu tiên bị thuộc địa hóa, sau đó tới lượt Ấn Độ và Đông Nam Á bị chinh phục. Ở các khu vực này, các thế lực thống trị phương Tây có thể trực tiếp thực hiện mô hình cai trị theo chiều dọc mà không cần phải dựa vào các trung gian địa phương, dó đó không xuất hiện giai cấp mại bản. Còn bối cảnh ở Trung Quốc tương đối đặc biệt. Các thế lực thực dân phương Tây đến Trung Quốc quá muộn, trong khi đó đất nước này lại tương đối hùng mạnh, thế nên họ không thể cai trị một cách triệt để theo chiều dọc chỉ trong một thời gian ngắn mà phải dựa vào một tầng lớp trung gian để kiểm soát thay, đó chính là giai cấp quan liêu và dương mại bản.

Nếu nhìn từ một góc độ sâu sắc hơn, khi cai trị một thuộc địa thì phải loại bỏ một cách triệt để văn tự của nơi đó, bởi lẽ văn tự luôn mang theo "gen" của nền văn minh, nó giúp duy trì bản sắc dân tộc phức tạp và sự quy thuộc về khía cạnh tinh thần, nếu chính phục một quốc gia nhưng không thể phá hủy được văn tự thì điều đó đồng nghĩa với việc kẻ thống trị hoặc sẽ bị đồng hóa, hoặc sẽ bị trục xuất. Kẻ bị cai trị đồng nhất với kẻ cai trị cả về phương diện tinh thần lẫn cảm xúc – đó mới là biện pháp duy nhất để cai trị thành công. Đây là một triết lý từ cổ chí kim, bất kỳ thuốc địa nào trên thế giới đều sẽ như vậy. Các đế quốc thực dân như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, Đức, Mỹ và Nhật Bản đầu tiên luôn cố công tiêu diệt văn tự của các khu vực thuộc địa, khiến cho các quốc gia đó rơi vào tình trạng "mất ký ức tập thể" một cách hoàn toàn và triệt để. Từ đó chấp nhận hấp thụ văn hóa và tinh thần từ các đế quốc thực dân, giúp cho những kẻ cai trị thực hiện được mục tiêu "trường trị cửu an". Trong thế giới ngày nay, tình trạng nghèo đói và lạc hậu phổ biến trong các khu vực thuộc địa trước kia đa phần là một di sản từ thời kỳ thuộc địa. Điều khủng khiếp không phải là sự cướp bóc của cải vật chất ở những khu vực này, mà là sự rối loạn cực độ của thế giới tâm linh và sự phân mảnh hoàn toàn của hệ thống niềm tin – hệ quả của việc văn tự của họ đã bị phá hủy. Quá trình xây dựng lại niềm tin vào nên văn minh của chính mình sẽ không thể phát huy hiệu quả chỉ sau thời gian ngắn giống như việc phát triển kinh tế và vật chất.

Vận may của Trung Quốc nằm ở sức sống ngoan cường của Hán tự và hệ thống văn minh khổng lồ được xây dựng trên đó. Cho dù là sự xảo trá của Anh, sự tham lam của Nga hay kiêu ngạo của Nhật Bản, cũng không thể chinh phục hoàn toàn nền văn minh Trung Quốc. Khi hoàn toàn bất lực trước hiện thực này, các đế quốc thực dân phương Tây bất đắc dĩ phải mượn sức và dựa vào giai cấp dương mại bản để đạt được mục tiêu cướp bóc và kiểm soát của cải của Trung Quốc.

Với sự sụp đổ hoàn toàn của biên giới tài chính, cho dù là Phong trào Dương Vụ, Phong trào Bách nhật duy tân năm 1898 và thậm chí là lật đổ nhà Thanh cũng chẳng thể thay đổi trạng thái bán thuộc địa của Trung Quốc.

Vào thời điểm đó, Nhật Bản cũng phải đối mặt với tham vọng của các cường quốc phương Tây, và cũng vị đập tan cánh cửa thương mại, nhưng số phận của họ lại hoàn toàn trái ngược với Trung Quốc. Sự khác biệt cơ bản giữa thành công của Phong trào Duy Tân Meiji và sự thất bại của Phong trào Dương Vụ là Nhật Bản đã giữ vững được biên giới tài chính và các lực lượng tài chính nước ngoài đã thất bại trong việc kiểm soát hệ thống tiền tệ của Nhật Bản. Điều đặc biệt quan trọng là ở Nhật Bản đã không hình thành một giai cấp dương mại bản nước ngoài với thế lực hùng hậu. Dó đó, các ngân hàng nước ngoài rất khó để tiến hành kinh doanh, chứ đừng nói đến việc kiểm soát mạng lưới tài chính của Nhật Bản.

Kể từ năm 1863, sáu ngân hàng lớn của nước ngoài lần lượt khai trương tại Nhật Bản với tổng số vốn lên tới 220 triệu lạng bạc. Họ mạnh hơn không biết bao nhiều lần so với ngân hàng Nhật Bản. Mặc dù đã gặt hái được thành công sau Phong trào Duy Tân Meiji, thế nhưng tổng nguồn vốn của các ngân hàng Nhật Bản vẫn chưa bằng một nửa con số này. Thế nhưng, ngoài Ngân hàng Hội Phong vẫn có thể xoay sở được, các ngân hàng nước ngoài khác đã lần lượt đóng cửa. Trong khi đó số lượng ngân hàng Nhật Bản đã tăng vọt từ 0 lên 1.867 vào năm 1901.

Trước khi tiến hành Phong trào Duy Tân Meiji, việc hiện đại hóa công nghiệp của Nhật Bản đã được hoàn tất với sự hỗ trợ tín dụng gần như hoàn toàn từ hệ thống ngân hàng nội địa. Điều này đã giúp Nhật Bản một bước nhảy vọt lên ngang hàng với các cường quốc phương Tây, và trở thành ví dụ thành công duy nhất của châu Á trong việc thoát khỏi chế độ thực dân.

Chính vì đã kiểm soát chặt chẽ biên giới tài chính, liên tục cung cấp một lượng tín dụng lớn cho ngành công nghiệp, quốc phòng và thương mại của mình, nên Nhật Bản đã nhanh chóng trở thành một cường quốc công nghiệp.

Trích "Chương 1, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét