PHONG TRÀO DUY TÂN MEIJI VÀ PHONG TRÀO DƯƠNG VỤ - phần 9

DÒNG SỮA ĐỘC TÀI CHÍNH KHIẾN CÔNG TY HÁN TRÌ BÌNH RƠI VÀO CỬA TỬ

Năm 1894, tại Hán Dương, Hồ Bắc, một xí nghiệp liên hợp gang thép khổng lồ tích hợp cả ba lĩnh vực luyện thép, luyện gang và khai thác than đã xuất hiện. Thể tích lò của nó đạt tới 470 mét khối, là công ty thép hùng mạnh và tiên tiến nhất trên toàn bộ Đông bán cầu. Sự xuất hiện của nó đã gây ra một hiệu ứng chấn động trong cộng đồng quốc tế. Dư luận quốc tế gọi nó là "Nhà máy anh hùng của Trung Quốc" và coi đó là dấu hiệu cho thấy con sư tử say ngủ - Trung Quốc đã thức dậy và cạnh tranh với châu Âu và Mỹ. Vào tháng 5 năm 1894, việc sản xuất thử nghiệm ở nhà máy sắt Hán Dương đã thành công, sớm hơn hai năm so với công ty thép Yahata của Nhật Bản (tiền thân của công ty thép lớn nhất Nhật Bản sau này – Nippon Steel). Trước khi xảy ra Cách mạng Tân Hợi, xí nghiệp này đã có hơn 7.000 nhân viên, với sản lượng hằng năm là gần 70.000 tấn thép, 500.000 tấn gang luyện và 600.000 tấn than, chiếm hơn 90% sản lượng thép hằng năm của nhà Thanh, trở thành một công trình tiêu biểu của Phong trào Dương Vụ.

Toàn nhà văn phòng tổng hợp của xí nghiệp gang thép Hán Trì Bình
Toàn nhà văn phòng tổng hợp của xí nghiệp gang thép Hán Trì Bình

Tên đầy đủ của Hán Trì Bình là "công ty khai thác gang-thép-than Hán Trì Bình", được cấu thành bởi ba bộ phận là nhà máy sắt Hán Dương, mỏ sắt Đại Trì và mỏ than Bình Hương Sơn Tây. Đây là một xí nghiệp liên hợp gang thép kiểu mới đầu tiên tại Trung Quốc, hoàn toàn có đủ tiềm lực để trở thành "chỗ dựa gang thép" của toàn thế giới. Nếu công ty Hán Trì Bình có thể thành công, thì chuỗi công nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn của nó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ bước nhảy vọt của cơ cấu kinh tế Trung Quốc. Trong một loạt các ngành công nghiệp nặng như đường sắt, tàu thủy, công nghiệp quân sự, sản xuất máy móc, luyện kim, khai thác… một cuộc cách mạng công nghiệp thực sự sẽ thay đổi hoàn toàn số phận bi thảm của Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX và thậm chí thay đổi tiến trình của lịch sử thế giới!

Ngành thép là xương sống của tất cả các ngành, và quốc gia nào thiếu ngành thép sẽ không thể đứng vững. Phái Dương Vụ của nhà Thanh cũng hiểu rõ sự thật này. Tổng đốc Hồ-Quảng, Trương Chi Động là một trong những nhân vật chính chịu trách nhiệm thành lập công ty Hán Trì Bình.

Trương Chi Động
Trương Chi Động

Đáng tiếc thay, trong tình cảnh thiếu vắng sự bảo vệ hiệu quả của biên giới tài chính, công ty Hán Trì Bình không thể thoát khỏi vận mệnh bi thảm của nó.

Ngay từ đầu, sự ra đời của Hán Trì Bình đã tồn tại những ẩn họa. Năm 1889, Tổng đốc Hồ-Quảng, Trương Chi Động đã dâng tấu lên triều đình để xin chuẩn bị thành lập một nhà máy sản xuất gang thép. Trên thực tế, ông đã cử người đến Anh để đặt mua thiết bị luyện gang từ trước đó sáu tháng. Người Anh đã hỏi ông về tính chất của quặng và than cốc để quyết định nên sử dụng lò luyện thép nào. Trương Chi Động từ chối trả lời, nói rằng: "Trung Quốc rộng lớn như vậy, bất cứ loại quặng và than cốc nào cũng đều sẵn có, há phải hỏi điều này?" Người Anh đành phải cung cấp lò luyện thép tương ứng theo tiêu chuẩn sản xuất thép axit của Anh. Kết quả là hàm lượng phốt pho của mỏ sắt Đại Trì quá cao, khiến cho loại thép được luyện ở lò Hán Trì Bình cũng chứa quá nhiều phốt pho, không đáp ứng được yêu cầu của thép đường sắt, dẫn đến sản phẩm bị tồn đọng cực lớn. Trương Chi Động, tác giả của lý thuyết "Trung thể Tây dụng" đã vừa không giữ được "thể", lại chẳng làm được "dụng".

Tây dụng là gì? Đó là học hỏi từ phương Tây những biện pháp cụ thể để thực hiện sự trỗi dậy trong lĩnh vực kinh tế. Kiểu học này bắt buộc phải có thái độ thực tế và nghiêm túc, và không được phép lơ là. Nhật Bản làm điều đó như thế nào? Năm 1895, trong kỳ hợp quốc hội Đế quốc lần thứ chín, chính phủ Nhật Bản đã quyết định thành lập Công trình thép Yahata và ủy quyền điều tra đặc biệt cho Bộ trưởng Bộ Thương mại để tiến hành điều tra đối với các vấn đề liên quan đến quặng sắt, gang, thép, than cốc, vật liệu chịu lửa và lựa chọn cho phí sản xuất và địa điểm. Sau 11 lần liên tục thử nghiệm và điều tra, cuối cùng họ mới xác định kế hoạch và dự toán.

Ẩn họa thứ hai là việc lựa chọn vị trí của nhà máy có vấn đề. Nhà máy sắt Hán Dương nên được đặt gần các mỏ than hoặc gần các mỏ sắt để giảm chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, Trương Chi Động lại "đi ngược số đông", nhất quyết yêu cầu địa điểm phải đặt ở chân núi Đại Biệt ở Hán Dương để dễ bề giám sát. Hán Dương cách mỏ sắt Đại Trì khoảng 120km và cách mỏ than Bằng Hương khoảng 500km. Vì lẽ đó, mỗi tấn gang sẽ phải gánh rất nhiều chi phí vận chuyển. Chưa kể Hán Dương lại là một vùng đất trũng thấp. Để ngăn chặn lũ lụt, hơn 90.000 mét vuông đất đã được san lấp trước khi nhà máy được xây dựng, tiêu tốn 300.000 lạng bạc, dẫn đến giá sản phẩm bị đội lên quá cao.

Ẩn họa thứ ba là nhiên liệu. Việc luyện thép đòi hỏi một lượng lớn than cốc. Khi chuẩn bị xây dựng nhà máy sắt, Trương Chi Động có một khái niệm mơ hồ về việc "Trung Quốc rộng lớn như vậy, sợ gì thiếu than?" Sau khi nhà máy được thành lập, Trương Chi Động đã mất tới vài năm để cử người đi tìm kiếm các mỏ than dọc theo trung-hạ du của sông Dương Tử, nhưng không tìm thấy gì. Do thiếu nhiên liệu nên nhà máy sắt Hán Dương không thể sản xuất bình thường. Đến tháng 6 năm 1894, nhà mát sắt Hán Dương bắt đầu sản xuất lô thép đầu tiên, nhưng do nguồn cung than cốc không đủ, lò đã phải dừng hoạt động vào tháng 10 cùng năm và việc sản xuất bị đình chỉ. Bất đắc dĩ họ phải đi thu mua than cốc với giá cao ở mỏ than Khai Bình, thậm chí là Nhật Bản và Đức. Vào thời điểm đó, giá gang trên thị trường là 20 lạng bạc/tấn, trong khi đó giá than Khai Bình đã là 18 lạng bạc/tấn, còn than ngoại thậm chí đắt hơn. Chi phí than cốc của nhà máy sắt Hán Dương cao gấp gần ba lần so với các nhà máy thép nước ngoài tại thời điểm đó. Gang thép mà nó sản xuất ra không thể cạnh tranh nổi trên thị trường. Sản xuất thì lỗ vốn, còn không sản xuất thì chi tiêu cố định hằng tháng đã là 80.000 lạng bạc, cũng bị lỗ vốn. Đúng là tiến thoái lưỡng nan, chẳng còn đường thoát.

Đến năm 1896, Hán Trì Bình đã tiêu tốn tổng cộng 5,68 triệu lạng bạc và Trương Chi Động không thể kham nổi nữa. Ông bất đắc dĩ phải nhờ Thịnh Tuyên Hoài dọn dẹp mớ hỗn độn.

Vào thời điểm đó, có lẽ người duy nhất có đủ thực lực để xử lý vụ việc Hán Trì Bình là Thịnh Tuyên Hoài – người đứng đầu 4 bộ phận doanh nghiệp đối ngoại gồm tàu hơi nước, điện tín, khai thác quặng và dệt may. Với tư cách là nhân vật đại diện của tầng lớp dương mại bản, năng lực của Thịnh Tuyên Hoài là không phải bàn cãi. Ông cũng rất có kinh nghiệm trong việc xử lý các sự vụ liên quan đến doanh nghiệp. Vốn đã để mắt đến nhà máy sắt Hán Dương từ lâu, nên khi nhận được lời thỉnh cầu của Trương Chi Động, Thịnh Tuyên Hoài đề xuất phản báo giá (counter-bid): Muốn ông ta tiếp nhận nhà máy sắt Hán Dương thì buộc phải để ông ta phụ trách luôn vấn đề đường sắt, vì kiểm soát được đường sắt thì cũng có nghĩa là kiểm soát được thị trường bán thép. Trương Chi Động buộc phải đồng ý. Nên nhớ rằng việc huy động tài chính cho đường sắt chắc chắn phải vay qua ngân hàng nước ngoài, và Thịnh Tuyên Hoài sẽ được hưởng lợi rất nhiều.

Ngày 25 tháng 5 năm 1896, Thịnh Tuyên Hoài nhậm chức.

Khó khăn cấp bách nhất đối với nhà máy sắt Hán Dương là than cốc, nếu không có nhiên liệu thì không thể sản xuất được. Vì lẽ đó, buộc phải áp dụng phương thức khai thác hoàn toàn mới đối với mỏ than Bình Hương, đồng thời, đường sắt cũng phải được trùng tu để vận chuyển than ra, việc này đòi hỏi 5 triệu lạng bạc. Việc chuyển đổi lò cao để phù hợp với quặng sắt Đại Trì, thiết lập xưởng cán thép, đường ray, xưởng thép tấm… sẽ ngốn tiếp 3 triệu lạng bạc nữa. Mãi đến năm 1909, Hán Trì Bình mới thực sự tìm ra loại thép đủ tiêu chuẩn, đó là "lò thép đầu tiên" mà người Trung Quốc thực sự sản xuất. Thời điểm này cũng chính là thời cơ vàng để xây dựng đường sắt quy mô lớn của Trung Quốc, vô số đơn đặt hàng cho đường ray và thiết bị đường sắt lũ lượt đổ tới. Các đường ray đường sắt ở vùng Á-Hán, Kinh-Hán… đều dùng loại thép "sản xuất tại Hán Dương". Năm đó Hán Trì Bình đã thu được lợi nhuận. Đến năm 1912, tài sản của Hán Trì Bình là 9,4 triệu lạng bạc, nhưng nợ phải trả của nó lên tới 24 triệu lạng bạc.

Hiển nhiên, Hán Trì Bình cần phải tiếp tục huy động vốn. Và đúng lúc này, một vấn đề nghiêm trọng đã nảy sinh.

Năm 1913, do thế cục trong nước đã trở nên ổn định, Thịnh Tuyên Hoài dưới sự trung gian của hiệu buôn Mitsui đã quyết định vay 15 triệu yên từ Ngân hàng Yokohama Specie của Nhật Bản. Cũng giống như các khoản vay bằng đồng yên trước đây, các điều kiện cho vay hết sức khắc khe và ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Đối phương đã đề xuất các điều kiện rất vô lý như kéo dài thời gian cho vay, chỉ trả nợ bằng nguyên liệu thô, sử dụng mỏ làm tài sản thế chấp, cung cấp quặng và gang cho Nhật Bản với giá cực thấp và mang tính ràng buộc trong một thời gian dài, ngoài ra Nhật Bản sẽ độc quyền cung cấp các khoản vay trong tương lại, v.v.

Nhật Bản là một quốc gia có tài nguyên quặng sắt cực kỳ nghèo nàn. Với sự phát triển của ngành công nghiệp sắt thép, nhu cầu về quặng và gang ngày càng tăng. Hầu như tất cả nguồn cung cấp quặng và gang của nhà máy thép Yahata trong những ngay đầu đều được lấy từ nhà máy sắt Hán Dương và mỏ sắt Đại Trì. Mục tiêu chiến lược của Nhật Bản là cực kỳ rõ ràng. Hán Trì Bình sẽ được sử dụng làm cơ sở cung cấp nguyên liệu cho ngành thép Nhật Bản, để đảm bảo rằng nhà máy thép Yahata sẽ sản xuất được các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao. Do đó, đến những năm 30 của thế kỷ XX, 56,4% sản lượng quặng và 54,87% sản lượng gang của Hán Trì Bình đã được xuất khẩu sang Nhật Bản. Nguồn cung gang và quặng của Hán Trì Bình đóng một vai trò hết sức to lớn đối với ngành công nghiệp gang thép quân sự của Nhật Bản. Trong Chiến tranh Nga-Nhật, hầu hết các nguyên vật liệu chế tạo thép cần thiết cho tàu chiến và vũ khí của Nhật Bản đều đến từ Hán Trì Bình. Tương tự như vậy, trong cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc do Nhật Bản phát động, có bao nhiều khẩu súng và đạn dược đã tàn sát người dân Trung Quốc đến từ chính quặng sắt và gang của Trung Quốc?

Năm 1914, Thế chiến I bùng nổ khiến giá thép quốc tế tăng vọt. Tuy nhiên do giá gang và quặng đã bị ràng buộc vì những điều kiện từ khoản vay của Nhật Bản, nên Hán Trì Bình không thể điều chỉnh theo giá thị trường. Trong chiến tranh, số lượng gang và quặng được bán cho Nhật bản tương đương với việc Trung Quốc đã "cống hiến" miễn phí 115 triệu đồng bạc cho nước này! Đủ để trả biết bao lần món nợ vay từ Nhật Bản! Cho dù như vậy, trong giai đoạn chiến tranh, Hán Trì Bình vẫn kiếm được 24 triệu lạng bạc. Tuy nhiên, sau Thế chiến I, giá thép giảm mạnh và Hán Trì Bình lại rơi vào tình trạng thua lỗ.

Năm 1915, Nhật Bản đã đặc biệt nêu ra vấn đề Hán Trì Bình trong "21 yêu sách(35)": "Để nắm bắt những cơ hội công bằng trong tương lai, phải đưa Hán Trì Bình làm liên doanh giữa hai nước. Nếu không có sự đồng ý của chính phủ Nhật Bản, chính phủ Trung Quốc sẽ không được phép tùy tiện xử trí hoặc đưa ra phán quyết nào liên quan đến tất cả các quyền của công ty này. Tất cả các mỏ lân cận thuộc về công ty Hán Trì Bình, người nước ngoài đều không được phép khai thác nếu không có sự đồng ý của công ty."

Chú thích:

(35) "21 yêu sách" là một nhóm các yêu sách được đưa ra trong suốt Thế chiến I bởi Đế chế Nhật Bản dưới quyền Thủ tướng Okuma Shigenobu gửi tới chính phủ Cộng hòa Trung Quốc vào ngày 8 tháng 1 năm 1915.

Múc đích các khoản vay của Nhật Bản nham hiểm đến vậy, một nhân vật tinh quái như Thịnh Tuyên Hoài há lại không nhận ra?

Đương nhiên là ông ta hiểu rõ, những vẫn tích cực nghĩ cách và đề xuất ý kiến cho Nhật Bản. Xuất phát điểm của ông ta là làm sao để bảo vệ cơ nghiệp khổng lồ của mình khỏi bị phe cách mạng tra xét. Thế nên ông ta đã chấp nhận "rước voi về giày mả tổ", bán rẻ lòng tự trọng và lợi ích dân tộc cho thế lực ngoại bàng.

Năm 1913, Viên Thế Khải từng nghĩ đến việc quốc hữu hóa Hán Trì Bình, Thịnh Tuyên Hoài kiên quyết phản đối và vội vàng mật báo cho phía Nhật Bản, muốn giao Hán Trì Bình vào tay Nhật Bản càng sớm càng tốt, "Mong các vị xử trí nhanh chóng, để tránh đêm dài lắm mộng", "Thiển kiến của tôi là phải bí mật giải quyết càng sớm càng tốt." Nhật Bản rất "quan tâm" đến tình trạng sức khỏe của Thịnh Tuyên Hoài, và đánh giá rằng ông ta "bị ho ra máu do bệnh phổi và sẽ chỉ sống được 5 năm nữa". Chỉ e là sau 5 năm nữa thì "vật đổi sao dời, mối quan hệ giữa hai nước sẽ thay đổi thì việc mua quặng sắt sẽ rơi vào thinh không". Do đó, nhân lúc Thịnh Tuyên Hoài vẫn còn sống thì cố gắng hoàn thành từng khoản vay một. Vì lợi ích cá nhân, Thịnh Tuyên Hoài từng bước vào cạm bẫy của Nhật Bản, khiến Hán Trì Bình bị mắc kẹt trong nợ nần của Nhật Bản và không thể tự thoát ra được. Cuối cùng đã bị người Nhật khống chế hoàn toàn, mãi cho tới khi cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc mới được chính phủ quốc dân thu hồi.

Sự thật cho thấy rằng, sẽ rất khó tưởng tượng được rằng Phong trào Dương Vụ do tầng lớp quan liêu-mại bản nắm quyền chủ đạo sẽ có thể thành công. Như Mao Trạch Đông đã nói: "Với Trung Quốc, một đất nước nửa thuộc địa lạc hậu về kinh tế, giai cấp địa chủ và giai cấp mại bản đã hoàn toàn phụ thuộc vào giai cấp tư sản quốc tế, sự tồn tại và phát triển của chúng đều gắn liền với chủ nghĩa đế quốc."

Các doanh nghiệp sắt thép luôn cần một nguồn tài chính quy mô lớn. Trong tình cảm đánh mất chủ quyền tài chính, họ buộc phải vay một lượng lớn nợ nước ngoài và cuối cùng rơi vào tay kẻ khác. Nếu như Hán Trì Bình ở Nhật Bản, trái phiếu và cổ phiếu của nó có thể được huy động trực tiếp thông qua kênh chiết khấu đặc biệt của ngân hàng trung ương, và các khoản vay có thể được cung cấp bởi ngân hàng của giới tài phiệt. Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ sử dụng các biện pháp thuế quan để ngăn chặn sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thép nước ngoài, với một doanh nghiệp cốt lõi quan trọng đến nhường đó, bất luận thế nào chính phủ cũng sẽ dốc toàn lực để hỗ trợ. Còn ở Trung Quốc thì sao? Ngân hàng trung ương của Đế quốc Đại Thanh – Ngân hàng Đại Thanh được thành lập năm 1905, không có ý định và cũng chẳng thể cứu giúp Hán Trì Bình. Vào thời điểm đó, tiền tệ của Trung Quốc chưa được thống nhất và tiến giấy do Ngân hàng Đại Thanh phát hành không có đủ độ tín nhiệm tài chính(36). Hệ thống ngân hàng thương mại đang ở giai đoạn sơ khai và tích lũy vốn còn lâu mới đạt đến mức hùng hậu. Thị trường chứng khoán Thượng Hải thậm chí là nơi để những kẻ đầu cơ thỏa sức vùng vẫy, và chẳng có ai hứng thú với các cổ phiếu với quy mô siêu cấp này. Quy mô của hệ thống tiền trang quá nhỏ và khó làm nên chuyện, hệ thống phiếu hiệu thì mang tính bảo thủ và trì trệ. Trong môi trường sinh thái tài chính khắc nghiệt như vậy, Hán Trì Bình rất khó tồn tại.

Chú thích:

(36) Sự tín nhiệm tài chính bao gồm các thành phần khách quan và chủ quan về độ tin cậy của nguồn tài chính hoặc thông điệp tài chính.

Công nghiệp là ngành cốt lõi quan trọng nhất để tạo ra của cải xã hội. Việc mở rộng tín dụng ngân hàng quy mô lớn, nếu không kết hợp với ngành công nghiệp có thể tạo ra lợi ích lớn nhất, thì sớm muộn sẽ dẫn đến lạm phát.

Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học của Trung Quốc một lần nữa cho thấy rằng tài chính là huyết mạch cốt lõi của một quốc gia. Nếu đánh mất chủ quyền tài chính thì không thể duy trì sự kiểm soát chủ quyền quốc gia và huyết mạch kinh tế!

Sự thành công của Phong trào Phục hưng Meiji đã giúp cho sức mạnh quốc gia của Nhật Bản tăng vọt, và quan trọng hơn, nó đã kích thích cực đại khao khát mở rộng của Nhật Bản. Còn Phong trào Dương Vụ của Trung Quốc trông thì có vẻ rất đao to búa lớn, những nó hoàn toàn không thể chịu được thử thách của chiến tranh. Khi Trung Quốc và Nhật Bản đối đầu trực diện với nhau, "tấm gương phương Tây" của Phong trào Dương Vụ ngay lập tức vỡ vụn thành trầm tích của lịch sử.

Chiến tranh Giáp Ngọ 1894-1895 đã để lại dấu ấn lịch sử không thể xóa nhòa đối với cả Trung Quốc và Nhật Bản. Trung Quốc đã không còn là một "thiên triều thượng quốc" với tâm thế cao ngạo như trong quá khứ, mà đã nhanh chóng trở thành một con cừu để các cường quốc tùy ý giết mổ. Nhật Bản không còn là một "phiên trấn tiểu quốc", một hòn đảo nằm cô lập trên biển Thái Bình Dương. Sự cuồng hoan của thắng lợi và tham vọng chinh phục đã khiến Nhật Bản nảy sinh dã tâm tranh đoạt bá quyền thế giới.

Trích "Chương 2, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét