Tiền trang-phiếu hiệu: tại sao chúng không thể phát triển thành một đế chế tài chính quốc tế?
Trong số
các tổ chức tài chính đã sinh ra và phát triển tại bản địa Trung Quốc, đặc sắc
nhất chính là tiền trang của phe Ninh Thiệu và phiếu hiệu của phe Sơn Tây. Nói một
cách đơn giản thì phiếu hiệu chuyên dành cho ngân phiếu, còn tiền trang thì
chuyên dụng cho tiền xu.
Bất kể ở Ý,
hay sau đó là ở Hà Lan, Anh quốc, tài chính và thương mại gần như là anh em
sinh đôi. Chúng tồn tại song hành, thúc đẩy và tận dụng lẫn nhau. Hầu như tất cả
các tổ chức tài chính ra đời sớm nhất của châu Âu có nguồn gốc từ các hiệu
buôn. Trong các hoạt động kinh doanh, nhu cầu ngày càng gia tăng đối với dịch vụ
tài chính cuối cùng đã dẫn đến sự tách biệt các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp
khỏi các hoạt động thương mại. Hệ thống phiếu hiệu của Trung Quốc cũng không
ngoại lệ.
Phiếu hiệu
có nguồn gốc từ vùng Sơn Tây của Trung Quốc, chứ không phải các khu vực ven biển
có nền kinh tế phát triển và điều kiện hàng hải thuận tiện. Nghe thì có vẻ rất
kỳ lạ, nhưng nếu nghĩ kỹ thì lại thấy hợp tình hợp lý. Tấn thương(21) được biết
đến là một trong mười thế lực thương mại hàng đầu ở Trung Quốc. Bản tính chịu
thương chịu khó, không ngại vất vả và dám tung hoành nam bắc đã giúp họ nổi bật
trên bản đồ thương mại Trung Quốc. Các thương nhân Sơn Tây đã in dấu giày trên
khắp thiên hạ, ngay từ đầu triều đại nhà Thanh, hai hệ thống thương mại lớn là
phe lương thuyền (thuyền chở ngủ cốc) và phe lạc đà (chở hàng hóa bằng lạc đà)
đã được hình thành. Phe lương thuyền thì bôn ba khắp các bến sông cửa biển ở mọi
tỉnh thành, còn phe lạc đà thì vượt ngàn dặm xa xôi đến Mông Cổ, Moscow, trở
thành nhà buôn trà, lụa, vải, thực phẩm, sắt… lớn nhất Trung Quốc, thiết lập
nên mạng lưới giao dịch đầu tiên và rộng lớn nhất của Trung Quốc.
Chú
thích:
(21) Tấn
thương là viết tắt của cụm từ "Thương nhân Sơn Tây", đề cập đến thương
nhân xuất thân từ tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
Khác với chặng
đường phát triển của các gia tộc tài chính Do Thái, mạng lưới trao đổi tiền tệ
của các thương nhân Sơn Tây được sinh ra từ một mạng lưới giao dịch trong nước
và quốc tế khổng lồ với chiều dài hàng chục nghìn kilomet và hàng trăm nghìn
nhân viên. Mạng lưới tài chính Do Thái bắt nguồn từ các nghiệp vụ thuần tiền tệ
như trao đổi tiền tệ, gửi tiền-cho vay, giao dịch hóa đơn… Điểm chung của cả
hai là hiệu ứng quy mô và lợi thế nhanh chóng-thuận tiện được hình thành từ
năng lực lan tỏa mạnh mẽ. Một khi họ đã thiết lập được lợi thế mạng lưới này, sẽ
rất khó để các đối thủ sau này chen chân vào. Đây cũng là lý do cơ bản khiến
các tiền trang ở khu vực phía nam không thể vượt qua hệ thống phiếu hiệu Sơn
Tây trong lĩnh vực thương mại trao đổi với lộ trình xa.
Việc thiếu
đi một mạng lưới đủ lớn đã khiến cho quy mô của hệ thống tiền trang nhìn chung
khá nhỏ, rất khỏ để hình thành nên một đế chế tài chính quốc tế khổng lồ tương
tự như ngành tài chính của Do Thái.
Sau bản
vị tiền tệ và ngân hàng trung ương, mạng lưới tài chính đã tạo thành trụ cột thứ
ba của biên giới tài chính.
Do mạng lưới
giao dịch của Tấn thương có phạm vi bao phủ khổng lồ, nên trong thời đại giao
thông cực kỳ kém phát triển, nguồn tiền thường chỉ có thể được lưu chuyển mỗi
năm một lần, điều này hạn chế nghiêm trọng việc mở rộng kinh doanh. Đồng thời,
việc chuyển giao tiền mặt qua một cung đường quá dài sẽ mất rất nhiều thời gian
và cũng không an toàn. Do đó xét về mặt khách quan, cần phải có một phương thức
chuyển tiền từ xa tiện lợi và nhanh chóng. Đây chính là nghiệp vụ cốt lõi đã
giúp phiếu hiệu mở mang và phát triển – trao đổi tiền từ xa.
Các nghiệp
vụ trao đổi ban đầu là chỉ là để cho thuận tiện. Ví dụ, "Tây Ngọc Thành Nhan
Liệu trang" của khu vực Bình Dao, Sơn Tây đã thành lập các phân trang (chi
nhánh) ở Tứ Xuyên, Bắc Kinh, Sơn Tây, v.v… Người thân hoặc bạn bè ở Bắc Kinh muốn
gửi tiền một khoản bạc gửi đến Tứ Xuyên, họ chỉ cần trao bạc cho phân trang ở Bắc
Kinh, và sau đó phân trang ở Bắc Kinh sẽ viết thư để thông báo cho phân trang ở
Tứ Xuyên, sau đó người thân hoặc bạn bè ở Tứ Xuyên có thể đến phân trang ở địa
phương để nhận bạc. Sự xuất hiện của mô hình trao đổi này đã ngay lập tức thu
hút được một số lượng lớn nghiệp vụ và mọi người sẵn sàng trả phí 1% cho dịch vụ
như vậy. Lôi Phục Thái – chưởng quỹ của Nhan Liệu trang đã hết sức nhạy bén khi
phát hiện ra mô hình kinh doanh rất giàu tiềm năng này và ngay lập tức từ bỏ việc
kinh doanh truyền thống của Nhan Liệu trang để thành lập phiếu hiệu đầu tiên của
Trung Quốc có tên "Nhật Thăng Xương" vào khoảng năm 1823.
Trước khi xảy
ra cuộc Chiến tranh Nha phiến, tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc lên tới
300 triệu lạng bạc mỗi năm. Nếu 100 triệu lạng bạc trong số đó được trao đổi từ
xa, lợi nhuận của nó sẽ lên tới 1 triệu lạng bạc. Sau vài năm hoạt động, phiếu
hiệu Nhật Thăng Xương đã thu được lợi nhuận khổng lồ nhờ nghiệp vụ trao đổi tiền
từ xa và tiền gửi. Người ta nói rằng trong khoảng thời gian hơn 50 năm từ thời
Đạo Quang đến thời Đồng Trị, Tài Đông Lý Thị đã nhận được hơn 2 triệu lạng bạc
tiền hoa hồng từ phiếu hiệu Nhật Thăng Xương. Được gợi cảm hứng từ sự thành
công của phiếu hiệu Nhật Thăng Xương, các thương nhân Sơn Tây đã lũ lượt thiết
lập hoặc chuyển sang kinh doanh phiếu hiệu, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển
thương mại mậu dịch tại thời điểm đó. Suốt gần một thế kỷ sau đó, hệ thống phiếu
hiệu của các thương nhân Sơn Tây về cơ bản đã độc quyền kinh doanh trao đổi tiền
tệ của nhà Thanh, và được ca tụng với mỹ từ "Hội thông thiên hạ(22)".
Chú
thích:
(22) Hội
thông thiên hạ: trao đổi tiền tệ khắp thiên hạ.
Nghiệp vụ
chủ yếu của phiếu hiệu là trao đổi tiền tư xa. Sự phát triển của nó cho thấy một
hình thái mở rộng cơ bản từ Bắc xuống Nam và lan tỏa từ Sơn Tây đến các khu vực
phía tây của Trung Quốc. Trong thời kỳ đầu, do sự gia tăng thương mại giữa khu
vực Hoa Bắc, Hoa Trung với Mông Cổ và Nga, sự mở rộng số lượng phiếu hiệu cũng
dựa trên tình hình kinh tế. Hơn 200 phiếu hiệu đã mở cửa tại hơn 30 thành phố
và thị trấn trong nội địa, trọng tâm nằm ở khu vực phía bắc, các phân hiệu với
trung tâm nằm tại khu vực Bắc Kinh. Đến giai đoạn trung hạn thì giao thương trên
biển và lục địa đều quan trọng như nhau. Hàng loạt phân hiệu đã được thiết lập ở
các vùng biên giới và duyên hải. Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Vũ Hán trở
thành bốn trung tâm lớn nơi các phân hiệu tề tựu.
Trước thời
Quang Tự, số lượng tổng hiệu và phân hiệu đã lên tới con số hơn 400, tạo thành
một mạng lưới tài chính khổng lồ. Bất luận là nguồn vốn thương mại, chính phủ
hoặc tư nhân, do đặc điểm nhanh chóng, an toàn và thuận tiện của phiếu hiệu, tất
cả đã lũ lượt đổ dồn vào hệ thống đường cao tốc tài chính này để lan tỏa khắp đất
nước. Vào đầu thế kỷ XX, tổng số tiền trao đổi của 22 phiếu hiệu chính trên
toàn Trung Quốc vào khoảng 820 triệu lạng bạc, và tổng lợi nhuận xấp xỉ 8,2 triệu
lạng bạc, tương đương khoảng 1/10 tổng doanh thu tài chính trong một năm của
chính phủ nhà Thanh.
![]() |
| Môn lầu của phiếu hiệu Nhật Thăng Xương |
Mạng lưới
trao đổi tiền tệ của phiếu hiệu đã tạo nên một lợi thế mạng tài chính khổng lồ.
Trên cơ sở đó, ban đầu nó có tiềm năng phát triển thành một "hệ thống đường
cao tốc tài chính" tương tự như hệ thống tài chính Do Thái của phương Tây,
qua đó nắm độc quyền các động mạch tín dụng và lưu thông vốn. Có hai nguyên
nhân cơ bản dẫn tới sự suy bại của nó: Thứ nhất, do thiếu đi yếu tố "địa lợi",
không thành lập trụ sở riêng tại Thượng Hải – trung tâm thương mại quốc tế và nội
địa, từ đó khiến cho mọi quyết sách chiến lược bị xa rời khỏi trung tâm thương
mại và dịch vụ tài chính có tiềm năng phát triển lớn nhất, đánh mất cơ hội nắm
lấy nghiệp vụ giao dịch hối phiếu thương mại và các thị trường tài chính khác.
Thứ hai là nó không thể tạo ra một hệ thống tài chính tương tự như trái phiếu
chiến tranh và trái phiếu quốc gia ở châu Âu. Nó chỉ giới hạn nghiệp vụ trong
lĩnh vực trao đổi tiền tệ, tự gò bó chính mình, cuối cùng bị các ngân hàng ngoại
quốc và ngân hàng do chính phủ điều hành gặm nhấm dần nghiệp vụ trao đổi tiền tệ
- vốn là nền tảng cho sự sống còn của hệ thống phiếu hiệu.
Thị trường
tài chính, đặc biệt là lực lượng cốt lõi hình thanh nên khả năng huy động tài
chính của các quốc gia – thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ và các loại
chi phiếu khác nhau, tạo thành nền tảng thứ tư của biên giới về tài chính. Các
tổ chức tài chính trong nước của Trung Quốc – phiếu hiệu và tiền trang, đã
không hoàn thành sứ mệnh lịch sử quan trọng này.
Nghiệp vụ
ban đầu của tiền trang rất giống với hoạt động nghiệp vụ chủ đạo của các gia tộc
tài chính Do Thái đương đại – trao đổi tiền tệ.
Sức mạnh cốt
lõi của các gia tộc tài chính Do Thái trên thế giới hầu như luôn có nguồn gốc từ
nước Đức.
Có nhiều lý
do để Đức là nơi sản sinh của gia tộc tài chính hiện đại. Xét về mặt địa lý, Đức
là điểm kết nối giữa Đông Âu và Tây Âu, đặc biệt là Berlin. Nó cũng nằm ở vị
trí trung tâm địa lý và giao thông của châu Âu. Các doanh nhân từ Bắc đến Nam
và Đông sang Tây đều tề tựu tấp nập tại Berlin. Từ đó hình thành nên cục diện
mà trong đó tất cả các loại tiền tệ châu Âu đều được phân phối tại Berlin. Kể từ
thời đế chế La Mã, Berlin đã là trung tâm trao đổi tiền tệ. Sau khi Napoléon
chiếm lĩnh vùng đất này, nhu cầu trao đổi tiền tệ càng trở nên mạnh mẽ hơn. Với
2.000 năm kinh nghiệm giao dịch tiền tệ và nhu cầu cấp bách của thị trường đối
với nghiệp vụ trao đổi tiền tệ đã khiến Đức trở thành mảnh đất màu mỡ cho các
gia tộc tài chính Do Thái phát triển.
Sự trổi dậy
của hệ thống tiền trang Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Kể từ khi bản vị
bạc được thiết lập vào thời nhà Minh, cục diện lưu thông song hành của ngân lượng
và tiền đồng đã được thực hiện, và tỷ giá giữa ngân lượng và tiền đồng đã được
điều chỉnh theo thị trường. Do giá trị của ngân lượng quá cao, đối với người
dân bình thường mà nói, giá trị của việc sử dụng ngân lượng để mua hàng trực tiếp
trên thị trường là quá lớn. Do đó, trong đời sống hằng ngày, tiền đồng là loại
tiền tệ lưu thông thực sự, còn ngân lượng chủ yếu được sử dụng trong các giao dịch
lớn, bổng lộc quan chức, thu thuế tài chính và ngân sách quân đội. Đồng thời,
ngay cả bản thân ngân lượng cũng rất phức tạp. Ngân lượng của mỗi tỉnh thành sẽ
có trọng lượng, hình dạng, màu sắc khác nhau. Ngoài ra, cộng thêm tình trạng một
lượng lớn đồng bạc nước ngoài tràn vào, nên đã hình thành nên một nhu cầu lớn đối
với nghiệp vụ trao đổi tiền tệ và đánh giá màu sắc của ngân lượng.
![]() |
| Ảnh thực tế mẫu biên lai của tiền trang, giai đoạn cuối triều Thanh |
Đặc biệt là
khi Hiệp ước Ngũ khẩu thông thương trong Chiến tranh Nha phiến được ký kết, nhu
cầu trao đổi tiền tệ của Thượng Hải – với tư cách là giao điểm của thương mại
quốc tế và thương mại nội địa, đã trở nên cấp thiết hơn. Hệ thống tiền trang
Ninh Thiệu với trung tâm Ninh Ba – Thiệu Hưng – Thượng Hải, đã ra đời. Để giải
quyết vấn đề chiết toán ngân lượng của các thương nhân trong nước và định giá
các loại tiền tệ mà các thương nhân nước ngoài mang tới, bắt đầu từ năm 1856,
các tiền trang ở Thượng Hải bắt đầu áp dụng một đơn vị thống kê ngân lượng ảo gọi
là "quy nguyên". Sáng kiến này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho
nghiệp vụ thống kê thương mại của giới thương nhân ở khắp mọi nơi.
Ngoài nghiệp
vụ cơ bản là trao đổi tiền tệ, hệ thống tiền trang Ninh Thiệu đã tận dụng tối
đa lợi thế là trung tâm thương mại quốc tế và nội địa của Thượng Hải để phát
triển một cách sáng tạo hệ thống hối phiếu thương mại mang đặc trưng Trung Quốc.
Tích hợp thành một nền tảng linh hoạt và hiệu quả.
Trong giai
đoạn đầu khi Hiệp ước Ngũ khẩu thông thương được ký kết, các hiệu buôn nước
ngoài đã vào Thượng Hải để mua các sản phẩm địa phương và bán các sản phẩm công
nghiệp nước ngoài. Vấn đề lớn đầu tiên họ gặp phải là thiếu niềm tin thương mại
đối với các nhà cung cấp và người mua Trung Quốc. Khi mua các sản phẩm Trung Quốc,
họ lo rằng sẽ không nhận được hàng sau khi thanh toán. Khi bán các sản phẩm
công nghiệp nước ngoài, họ sợ rằng sẽ không nhận được tiền sau khi giao hàng.
Tình huống này giống hệt như tình trạng mà các thương nhân người Ý gặp phải
trong thế kỷ XIII. Hệ thống tiền trang Ninh Thiệu đã nắm bắt cơ hội kinh doanh
khổng lồ này và sáng tạo ra công cụ hối phiếu mang tên "trang phiếu",
qua đó thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng thương mại trong nước và quốc tế.
Trang phiếu
đã xuất hiện ở Thượng Hải từ đầu thế kỷ XIX, nhưng xét về mặt bản chất, trang
phiếu chính là ngân phiếu. "Cái gọi là trang phiếu là một loại ngân phiếu
không ghi chép danh tính giữa bên cho vay và bên nhận nợ mà các tiền trang sử dụng
khi cho vay hoặc đáp ứng nhu cầu của các thương gia." Đặc điểm chủ yếu của
nó là tính tức thời, thay vì trả chậm dựa trên giao dịch thực tế trong các hối
phiếu thương mại.
Những loại
hối phiếu thương mại có thời gian thanh toán kéo dài và đồng thời có thể được
chiết khấu. Vì vậy khi hối phiếu thương mại được sử dụng làm phương thức thanh
toán thì trong thời hạn của nó, nó sẽ tương đương với việc mở rộng quy mô tín dụng.
Quan trọng nhất, đó là mở rộng tín dụng dựa trên giao dịch thực tế.
Bản chất của
hối phiếu thương mại là loại tiền tệ giao dịch ngắn hạn được phát hành theo tài
sản thế chấp thương mại, khác với các loại tiền nợ được phát hành theo tài sản
thế chấp nợ. Hối phiếu thương mại là phương tiện mở rộng tín dụng quan trọng nhất
trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản thương mại. Sau đó là sự mở rộng tín dụng
tư bản thực dân, được thế chấp bằn nợ quốc gia, mở rộng tín dụng tư bản công
nghiệp, được thế chấp bằng nợ công nghiệp, và mở rộng tín dụng hậu công nghiệp,
chủ yếu được thế chấp bằng nợ cá nhân.
Phát minh
trang phiếu của hệ thống tiền trang Ninh Thiệu được đưa ra dựa trên bối cảnh
các thương nhân Trung Quốc có nhu cầu đổi hối phiếu "dựa trên thương mại
làm cơ bản" có kỳ hạn 5-20 ngày với các tiền trang. Khi mua hàng hóa của
các hiệu buôn nước ngoài thì sẽ thành toán bằng trang phiếu. Các hiệu buôn nước
ngoài thường không tin tưởng các thương nhân Trung Quốc, nhưng đối với các tiền
trang, đặc biệt là các tiền trang có tiềm lực thì họ khá tin tưởng. Lý do nằm ở
việc các hiệu buôn nước ngoài thường áp dụng chế độ "dương mại bản".
Các "dương mại bản" không chỉ nắm bắt rất rỏ thực lực của các tiền
trang địa phương, mà họ còn bắt buộc phải gánh chịu trách nhiệm vô hạn nếu chẳng
may xảy ra sự cố nào đó. Nếu thương nhân Trung Quốc không thể thanh toán đúng hạn,
thì tiền trang sẽ phải chịu trách nhiệm trả thay cho tiệm buôn nước ngoài, sau
đó tiền trang sẽ đi "tính sổ" với thương nhân Trung Quốc kia. Hoặc là
tiền trang sẽ trực tiếp thanh toán cho hiệu buôn nước ngoài, rồi sau đó thu lại
tiền từ thương nhân Trung Quốc. Như vậy, hàng hóa của các hiệu buôn nước ngoài
sẽ được tiêu thụ, trang phiếu do các tiền trang in ra sẽ thu được lợi tức, thế
nên điều đó sẽ giúp tiền trang mở rộng lợi nhuận và tăng cường các nghiệp vụ mới.
Các doanh nhân Trung Quốc thì nhận được một nguồn vốn ngắn hạn, giúp mở rộng khối
lượng kinh doanh của họ. Đây là một sự đổi mới tài chính "ba bên cùng có lợi".
Hơn nữa, người nắm giữ các trang phiếu có thể nhận được tiền mặt bằng cách tiến
hành rao bán với mức giá chiết khấu ở rất nhiều tiền trang hoặc ngân hàng nước
ngoài.
Khi Ngân
hàng Hội Phong tiến vào Thượng Hải, họ phải đối mặt với cục diện các ngân hàng
nước ngoài và tiền trang địa phương đang "chung sống" với nhau. Lợi
thế của các ngân hàng nước ngoài là nguồn vốn hùng hậu và kiểm soát hoàn toàn
nghiệp vụ trao đổi tiền tệ quốc tế. Ưu điểm của ngân hàng là sự am hiểu thị trường
và chiếm lĩnh vai trò là một trung gian tín dụng để phát hành hối phiếu nội địa
cho các giao dịch nội địa, đặc biệt là nghiệp vụ trao đổi tiền tệ cơ bản dựa
trên chế độ tiền tệ trong nước, vô vàn lợi nhuận và không thể thay thế. Vì vậy,
nó cũng có thể có chỗ đứng.
Nếu đã có
hùng tâm tráng chí thống nhất "giang hồ tài chính", chắc chắn Ngân
hàng Hội Phong sẽ phải hạ bệ các thế lực chư hầu tài chính địa phương bằng sức
mạnh của mình. Khi cuộc đại chiến hối phiếu – vốn càn quét các ngân hàng nước
ngoài khác, kết thúc với chiến thắng của Ngân hàng Hội Phong, họ đã chuyển sự
chú ý sang các tiền trang địa phương. Do Ngân hàng Hội Phong có thể lôi kéo nguồn
tiền gửi từ tầng lớp người giàu Trung Quốc với chi phí rất thấp, cùng với lợi
nhuận khổng lồ thu được từ việc buôn bán nha phiến, vào cuối thế kỷ XIX, tổng
tài sản của ngân hàng này đã đạt mức 211 triệu đô-la Hồng Kông, tạo nên bá quyền
tài chính hàng đầu của khu vực Viễn Đông. Ngân hàng Hội Phong đã tận dụng triệt
để nguồn vốn dồi dào của chính mình và bắt đầu sử dụng chiết phiếu trên quy mô
lớn để khống chế nguồn vốn của hệ thống tiền trang Trung Quốc.
Do nguồn vốn
tư hữu khá hạn chế, thế nên các tiền trang đành lực bất tòng tâm trước cơ hội
tranh đoạt miếng bánh hối phiếu thương mại. Ngân hàng Hội Phong đã nhận ra điểm
yếu này, và sau đó đã cho các tiền trang ở Thượng Hải vay nguồn tiền dư thừa của
mình với giá rẻ, các tiền trang chỉ cần thế chấp trang phiếu cho Ngân hàng Hội
Phong là có thể vay tín dụng. Do đó, các tiền trang ở Thượng Hải đã vay một số
tiền lớn từ Ngân hàng Hội Phong. Ngân hàng Hội Phong cũng có thể trực tiếp mua
các trang phiếu đã được giảm giá trên thị trường, tiến hành tái chiết khấu và
kiếm lợi nhuận từ mức chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và tái chiết khấu. Các
tiền trang sau khi giảm giá thu mua trang phiếu của những tiền trang khác, vốn
dĩ họ có thể giữ cho tới khi đáo hạn để kiếm lợi, nhưng để đẩy nhanh lưu chuyển
dòng vốn và thu được lợi nhuận lớn hơn, chỉ cần Ngân hàng Hội Phong trả giá phù
hợp, họ sẽ không ngần ngại bán lại các trang phiếu này cho Ngân hàng Hội Phong.
Sau khi đã thực sự đút túi được lợi nhuận, họ sẽ tiếp tục thực hiện các giao dịch
giảm giá mới.
Và như vậy,
mặc dù các tiền trang ở Thượng Hải có thể vay được tiền của Ngân hàng Hội Phong
để mở rộng kinh doanh, nhưng nó cũng phải trở thành một chư hầu của Ngân hàng Hội
Phong vì nguồn vốn đã bị ngân hàng này kiểm soát. Ngân hàng Hội Phong có thể thắt
chặt dòng vốn bằng cách từ chối sách phiếu(23) hoặc gia tăng lãi suất. Họ cũng
có thể đẩy cao tỷ lệ tái chiết khấu, nghĩa là giảm giá thật sâu các trang phiếu
mà các tiền trang muốn bán lại cho Ngân hàng Hội Phong. Điều này khiến cho các
tiền trang không thể nhận được khoản lợi nhuận chênh lệch giữa hai lần giảm
giá, qua đó buộc họ phải giảm thiểu hoặc ngừng giảm giá lần thứ nhất. Điều này
sẽ khiến tất cả các tiền trang bất đắc dĩ phải giảm thiểu việc huy động vốn
thương mại do dòng lưu chuyển hối phiếu thương mại bị chậm lại. Kết quả cuối
cùng là việc thiếu vốn sẽ khiến các thương nhân Trung Quốc không thể thu mua
các sản phẩm địa phương như trà và lụa, tầng lớp nông dân và thợ thủ công buộc
phải bán thành quả lao động của họ với mức giá bèo bọt. Tại thời điểm đó,
"vừa hay" các cổ đông của hiệu buôn nước ngoài đứng sau Ngân hàng Hội
Phong có thể mua vào với giá rẻ, và sau đó bán ra với mức giá cao trên thị trường
quốc tế để thu về lợi nhuận khổng lồ.
Khi các lực
lượng tài chính Trung Quốc, với Hồ Tuyết Nham là đại diện, đang chiến đấu tuyệt
vọng chống lại các lực lượng tài chính nước ngoài, thì Ngân hàng Hội Phong có
thể tạo ra sự khan hiếm nguồn vốn bằng cách vặn chặt chiếc vòi cung ứng tiền tệ,
dễ dàng đập tan mọi sự kháng cự của các liên minh kháng chiến thương mại.
Với sự thống
trị của Ngân hàng Hội Phong đối với Ngân hàng trung ương nhà Thanh, bất kỳ tổ
chức tài chính địa phương nào cũng không thể phát triển thành đối thủ cạnh
tranh có thể thách thức các chiến lược cốt lõi của các chủ ngân hàng quốc tế.


Nhận xét
Đăng nhận xét