Sự sụp đổ của biên giới tài chính - phần 9

Tiền trang-phiếu hiệu: tại sao chúng không thể phát triển thành một đế chế tài chính quốc tế?

Trong số các tổ chức tài chính đã sinh ra và phát triển tại bản địa Trung Quốc, đặc sắc nhất chính là tiền trang của phe Ninh Thiệu và phiếu hiệu của phe Sơn Tây. Nói một cách đơn giản thì phiếu hiệu chuyên dành cho ngân phiếu, còn tiền trang thì chuyên dụng cho tiền xu.

Bất kể ở Ý, hay sau đó là ở Hà Lan, Anh quốc, tài chính và thương mại gần như là anh em sinh đôi. Chúng tồn tại song hành, thúc đẩy và tận dụng lẫn nhau. Hầu như tất cả các tổ chức tài chính ra đời sớm nhất của châu Âu có nguồn gốc từ các hiệu buôn. Trong các hoạt động kinh doanh, nhu cầu ngày càng gia tăng đối với dịch vụ tài chính cuối cùng đã dẫn đến sự tách biệt các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp khỏi các hoạt động thương mại. Hệ thống phiếu hiệu của Trung Quốc cũng không ngoại lệ.

Phiếu hiệu có nguồn gốc từ vùng Sơn Tây của Trung Quốc, chứ không phải các khu vực ven biển có nền kinh tế phát triển và điều kiện hàng hải thuận tiện. Nghe thì có vẻ rất kỳ lạ, nhưng nếu nghĩ kỹ thì lại thấy hợp tình hợp lý. Tấn thương(21) được biết đến là một trong mười thế lực thương mại hàng đầu ở Trung Quốc. Bản tính chịu thương chịu khó, không ngại vất vả và dám tung hoành nam bắc đã giúp họ nổi bật trên bản đồ thương mại Trung Quốc. Các thương nhân Sơn Tây đã in dấu giày trên khắp thiên hạ, ngay từ đầu triều đại nhà Thanh, hai hệ thống thương mại lớn là phe lương thuyền (thuyền chở ngủ cốc) và phe lạc đà (chở hàng hóa bằng lạc đà) đã được hình thành. Phe lương thuyền thì bôn ba khắp các bến sông cửa biển ở mọi tỉnh thành, còn phe lạc đà thì vượt ngàn dặm xa xôi đến Mông Cổ, Moscow, trở thành nhà buôn trà, lụa, vải, thực phẩm, sắt… lớn nhất Trung Quốc, thiết lập nên mạng lưới giao dịch đầu tiên và rộng lớn nhất của Trung Quốc.

Chú thích:

(21) Tấn thương là viết tắt của cụm từ "Thương nhân Sơn Tây", đề cập đến thương nhân xuất thân từ tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Khác với chặng đường phát triển của các gia tộc tài chính Do Thái, mạng lưới trao đổi tiền tệ của các thương nhân Sơn Tây được sinh ra từ một mạng lưới giao dịch trong nước và quốc tế khổng lồ với chiều dài hàng chục nghìn kilomet và hàng trăm nghìn nhân viên. Mạng lưới tài chính Do Thái bắt nguồn từ các nghiệp vụ thuần tiền tệ như trao đổi tiền tệ, gửi tiền-cho vay, giao dịch hóa đơn… Điểm chung của cả hai là hiệu ứng quy mô và lợi thế nhanh chóng-thuận tiện được hình thành từ năng lực lan tỏa mạnh mẽ. Một khi họ đã thiết lập được lợi thế mạng lưới này, sẽ rất khó để các đối thủ sau này chen chân vào. Đây cũng là lý do cơ bản khiến các tiền trang ở khu vực phía nam không thể vượt qua hệ thống phiếu hiệu Sơn Tây trong lĩnh vực thương mại trao đổi với lộ trình xa.

Việc thiếu đi một mạng lưới đủ lớn đã khiến cho quy mô của hệ thống tiền trang nhìn chung khá nhỏ, rất khỏ để hình thành nên một đế chế tài chính quốc tế khổng lồ tương tự như ngành tài chính của Do Thái.

Sau bản vị tiền tệ và ngân hàng trung ương, mạng lưới tài chính đã tạo thành trụ cột thứ ba của biên giới tài chính.

Do mạng lưới giao dịch của Tấn thương có phạm vi bao phủ khổng lồ, nên trong thời đại giao thông cực kỳ kém phát triển, nguồn tiền thường chỉ có thể được lưu chuyển mỗi năm một lần, điều này hạn chế nghiêm trọng việc mở rộng kinh doanh. Đồng thời, việc chuyển giao tiền mặt qua một cung đường quá dài sẽ mất rất nhiều thời gian và cũng không an toàn. Do đó xét về mặt khách quan, cần phải có một phương thức chuyển tiền từ xa tiện lợi và nhanh chóng. Đây chính là nghiệp vụ cốt lõi đã giúp phiếu hiệu mở mang và phát triển – trao đổi tiền từ xa.

Các nghiệp vụ trao đổi ban đầu là chỉ là để cho thuận tiện. Ví dụ, "Tây Ngọc Thành Nhan Liệu trang" của khu vực Bình Dao, Sơn Tây đã thành lập các phân trang (chi nhánh) ở Tứ Xuyên, Bắc Kinh, Sơn Tây, v.v… Người thân hoặc bạn bè ở Bắc Kinh muốn gửi tiền một khoản bạc gửi đến Tứ Xuyên, họ chỉ cần trao bạc cho phân trang ở Bắc Kinh, và sau đó phân trang ở Bắc Kinh sẽ viết thư để thông báo cho phân trang ở Tứ Xuyên, sau đó người thân hoặc bạn bè ở Tứ Xuyên có thể đến phân trang ở địa phương để nhận bạc. Sự xuất hiện của mô hình trao đổi này đã ngay lập tức thu hút được một số lượng lớn nghiệp vụ và mọi người sẵn sàng trả phí 1% cho dịch vụ như vậy. Lôi Phục Thái – chưởng quỹ của Nhan Liệu trang đã hết sức nhạy bén khi phát hiện ra mô hình kinh doanh rất giàu tiềm năng này và ngay lập tức từ bỏ việc kinh doanh truyền thống của Nhan Liệu trang để thành lập phiếu hiệu đầu tiên của Trung Quốc có tên "Nhật Thăng Xương" vào khoảng năm 1823.

Trước khi xảy ra cuộc Chiến tranh Nha phiến, tổng kim ngạch thương mại của Trung Quốc lên tới 300 triệu lạng bạc mỗi năm. Nếu 100 triệu lạng bạc trong số đó được trao đổi từ xa, lợi nhuận của nó sẽ lên tới 1 triệu lạng bạc. Sau vài năm hoạt động, phiếu hiệu Nhật Thăng Xương đã thu được lợi nhuận khổng lồ nhờ nghiệp vụ trao đổi tiền từ xa và tiền gửi. Người ta nói rằng trong khoảng thời gian hơn 50 năm từ thời Đạo Quang đến thời Đồng Trị, Tài Đông Lý Thị đã nhận được hơn 2 triệu lạng bạc tiền hoa hồng từ phiếu hiệu Nhật Thăng Xương. Được gợi cảm hứng từ sự thành công của phiếu hiệu Nhật Thăng Xương, các thương nhân Sơn Tây đã lũ lượt thiết lập hoặc chuyển sang kinh doanh phiếu hiệu, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển thương mại mậu dịch tại thời điểm đó. Suốt gần một thế kỷ sau đó, hệ thống phiếu hiệu của các thương nhân Sơn Tây về cơ bản đã độc quyền kinh doanh trao đổi tiền tệ của nhà Thanh, và được ca tụng với mỹ từ "Hội thông thiên hạ(22)".

Chú thích:

(22) Hội thông thiên hạ: trao đổi tiền tệ khắp thiên hạ.

Nghiệp vụ chủ yếu của phiếu hiệu là trao đổi tiền tư xa. Sự phát triển của nó cho thấy một hình thái mở rộng cơ bản từ Bắc xuống Nam và lan tỏa từ Sơn Tây đến các khu vực phía tây của Trung Quốc. Trong thời kỳ đầu, do sự gia tăng thương mại giữa khu vực Hoa Bắc, Hoa Trung với Mông Cổ và Nga, sự mở rộng số lượng phiếu hiệu cũng dựa trên tình hình kinh tế. Hơn 200 phiếu hiệu đã mở cửa tại hơn 30 thành phố và thị trấn trong nội địa, trọng tâm nằm ở khu vực phía bắc, các phân hiệu với trung tâm nằm tại khu vực Bắc Kinh. Đến giai đoạn trung hạn thì giao thương trên biển và lục địa đều quan trọng như nhau. Hàng loạt phân hiệu đã được thiết lập ở các vùng biên giới và duyên hải. Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Vũ Hán trở thành bốn trung tâm lớn nơi các phân hiệu tề tựu.

Trước thời Quang Tự, số lượng tổng hiệu và phân hiệu đã lên tới con số hơn 400, tạo thành một mạng lưới tài chính khổng lồ. Bất luận là nguồn vốn thương mại, chính phủ hoặc tư nhân, do đặc điểm nhanh chóng, an toàn và thuận tiện của phiếu hiệu, tất cả đã lũ lượt đổ dồn vào hệ thống đường cao tốc tài chính này để lan tỏa khắp đất nước. Vào đầu thế kỷ XX, tổng số tiền trao đổi của 22 phiếu hiệu chính trên toàn Trung Quốc vào khoảng 820 triệu lạng bạc, và tổng lợi nhuận xấp xỉ 8,2 triệu lạng bạc, tương đương khoảng 1/10 tổng doanh thu tài chính trong một năm của chính phủ nhà Thanh.

Môn lầu của phiếu hiệu Nhật Thăng Xương
Môn lầu của phiếu hiệu Nhật Thăng Xương

Mạng lưới trao đổi tiền tệ của phiếu hiệu đã tạo nên một lợi thế mạng tài chính khổng lồ. Trên cơ sở đó, ban đầu nó có tiềm năng phát triển thành một "hệ thống đường cao tốc tài chính" tương tự như hệ thống tài chính Do Thái của phương Tây, qua đó nắm độc quyền các động mạch tín dụng và lưu thông vốn. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự suy bại của nó: Thứ nhất, do thiếu đi yếu tố "địa lợi", không thành lập trụ sở riêng tại Thượng Hải – trung tâm thương mại quốc tế và nội địa, từ đó khiến cho mọi quyết sách chiến lược bị xa rời khỏi trung tâm thương mại và dịch vụ tài chính có tiềm năng phát triển lớn nhất, đánh mất cơ hội nắm lấy nghiệp vụ giao dịch hối phiếu thương mại và các thị trường tài chính khác. Thứ hai là nó không thể tạo ra một hệ thống tài chính tương tự như trái phiếu chiến tranh và trái phiếu quốc gia ở châu Âu. Nó chỉ giới hạn nghiệp vụ trong lĩnh vực trao đổi tiền tệ, tự gò bó chính mình, cuối cùng bị các ngân hàng ngoại quốc và ngân hàng do chính phủ điều hành gặm nhấm dần nghiệp vụ trao đổi tiền tệ - vốn là nền tảng cho sự sống còn của hệ thống phiếu hiệu.

Thị trường tài chính, đặc biệt là lực lượng cốt lõi hình thanh nên khả năng huy động tài chính của các quốc gia – thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ và các loại chi phiếu khác nhau, tạo thành nền tảng thứ tư của biên giới về tài chính. Các tổ chức tài chính trong nước của Trung Quốc – phiếu hiệu và tiền trang, đã không hoàn thành sứ mệnh lịch sử quan trọng này.

Nghiệp vụ ban đầu của tiền trang rất giống với hoạt động nghiệp vụ chủ đạo của các gia tộc tài chính Do Thái đương đại – trao đổi tiền tệ.

Sức mạnh cốt lõi của các gia tộc tài chính Do Thái trên thế giới hầu như luôn có nguồn gốc từ nước Đức.

Có nhiều lý do để Đức là nơi sản sinh của gia tộc tài chính hiện đại. Xét về mặt địa lý, Đức là điểm kết nối giữa Đông Âu và Tây Âu, đặc biệt là Berlin. Nó cũng nằm ở vị trí trung tâm địa lý và giao thông của châu Âu. Các doanh nhân từ Bắc đến Nam và Đông sang Tây đều tề tựu tấp nập tại Berlin. Từ đó hình thành nên cục diện mà trong đó tất cả các loại tiền tệ châu Âu đều được phân phối tại Berlin. Kể từ thời đế chế La Mã, Berlin đã là trung tâm trao đổi tiền tệ. Sau khi Napoléon chiếm lĩnh vùng đất này, nhu cầu trao đổi tiền tệ càng trở nên mạnh mẽ hơn. Với 2.000 năm kinh nghiệm giao dịch tiền tệ và nhu cầu cấp bách của thị trường đối với nghiệp vụ trao đổi tiền tệ đã khiến Đức trở thành mảnh đất màu mỡ cho các gia tộc tài chính Do Thái phát triển.

Sự trổi dậy của hệ thống tiền trang Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Kể từ khi bản vị bạc được thiết lập vào thời nhà Minh, cục diện lưu thông song hành của ngân lượng và tiền đồng đã được thực hiện, và tỷ giá giữa ngân lượng và tiền đồng đã được điều chỉnh theo thị trường. Do giá trị của ngân lượng quá cao, đối với người dân bình thường mà nói, giá trị của việc sử dụng ngân lượng để mua hàng trực tiếp trên thị trường là quá lớn. Do đó, trong đời sống hằng ngày, tiền đồng là loại tiền tệ lưu thông thực sự, còn ngân lượng chủ yếu được sử dụng trong các giao dịch lớn, bổng lộc quan chức, thu thuế tài chính và ngân sách quân đội. Đồng thời, ngay cả bản thân ngân lượng cũng rất phức tạp. Ngân lượng của mỗi tỉnh thành sẽ có trọng lượng, hình dạng, màu sắc khác nhau. Ngoài ra, cộng thêm tình trạng một lượng lớn đồng bạc nước ngoài tràn vào, nên đã hình thành nên một nhu cầu lớn đối với nghiệp vụ trao đổi tiền tệ và đánh giá màu sắc của ngân lượng.

Ảnh thực tế mẫu biên lai của tiền trang, giai đoạn cuối triều Thanh
Ảnh thực tế mẫu biên lai của tiền trang, giai đoạn cuối triều Thanh

Đặc biệt là khi Hiệp ước Ngũ khẩu thông thương trong Chiến tranh Nha phiến được ký kết, nhu cầu trao đổi tiền tệ của Thượng Hải – với tư cách là giao điểm của thương mại quốc tế và thương mại nội địa, đã trở nên cấp thiết hơn. Hệ thống tiền trang Ninh Thiệu với trung tâm Ninh Ba – Thiệu Hưng – Thượng Hải, đã ra đời. Để giải quyết vấn đề chiết toán ngân lượng của các thương nhân trong nước và định giá các loại tiền tệ mà các thương nhân nước ngoài mang tới, bắt đầu từ năm 1856, các tiền trang ở Thượng Hải bắt đầu áp dụng một đơn vị thống kê ngân lượng ảo gọi là "quy nguyên". Sáng kiến này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nghiệp vụ thống kê thương mại của giới thương nhân ở khắp mọi nơi.

Ngoài nghiệp vụ cơ bản là trao đổi tiền tệ, hệ thống tiền trang Ninh Thiệu đã tận dụng tối đa lợi thế là trung tâm thương mại quốc tế và nội địa của Thượng Hải để phát triển một cách sáng tạo hệ thống hối phiếu thương mại mang đặc trưng Trung Quốc. Tích hợp thành một nền tảng linh hoạt và hiệu quả.

Trong giai đoạn đầu khi Hiệp ước Ngũ khẩu thông thương được ký kết, các hiệu buôn nước ngoài đã vào Thượng Hải để mua các sản phẩm địa phương và bán các sản phẩm công nghiệp nước ngoài. Vấn đề lớn đầu tiên họ gặp phải là thiếu niềm tin thương mại đối với các nhà cung cấp và người mua Trung Quốc. Khi mua các sản phẩm Trung Quốc, họ lo rằng sẽ không nhận được hàng sau khi thanh toán. Khi bán các sản phẩm công nghiệp nước ngoài, họ sợ rằng sẽ không nhận được tiền sau khi giao hàng. Tình huống này giống hệt như tình trạng mà các thương nhân người Ý gặp phải trong thế kỷ XIII. Hệ thống tiền trang Ninh Thiệu đã nắm bắt cơ hội kinh doanh khổng lồ này và sáng tạo ra công cụ hối phiếu mang tên "trang phiếu", qua đó thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng thương mại trong nước và quốc tế.

Trang phiếu đã xuất hiện ở Thượng Hải từ đầu thế kỷ XIX, nhưng xét về mặt bản chất, trang phiếu chính là ngân phiếu. "Cái gọi là trang phiếu là một loại ngân phiếu không ghi chép danh tính giữa bên cho vay và bên nhận nợ mà các tiền trang sử dụng khi cho vay hoặc đáp ứng nhu cầu của các thương gia." Đặc điểm chủ yếu của nó là tính tức thời, thay vì trả chậm dựa trên giao dịch thực tế trong các hối phiếu thương mại.

Những loại hối phiếu thương mại có thời gian thanh toán kéo dài và đồng thời có thể được chiết khấu. Vì vậy khi hối phiếu thương mại được sử dụng làm phương thức thanh toán thì trong thời hạn của nó, nó sẽ tương đương với việc mở rộng quy mô tín dụng. Quan trọng nhất, đó là mở rộng tín dụng dựa trên giao dịch thực tế.

Bản chất của hối phiếu thương mại là loại tiền tệ giao dịch ngắn hạn được phát hành theo tài sản thế chấp thương mại, khác với các loại tiền nợ được phát hành theo tài sản thế chấp nợ. Hối phiếu thương mại là phương tiện mở rộng tín dụng quan trọng nhất trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản thương mại. Sau đó là sự mở rộng tín dụng tư bản thực dân, được thế chấp bằn nợ quốc gia, mở rộng tín dụng tư bản công nghiệp, được thế chấp bằng nợ công nghiệp, và mở rộng tín dụng hậu công nghiệp, chủ yếu được thế chấp bằng nợ cá nhân.

Phát minh trang phiếu của hệ thống tiền trang Ninh Thiệu được đưa ra dựa trên bối cảnh các thương nhân Trung Quốc có nhu cầu đổi hối phiếu "dựa trên thương mại làm cơ bản" có kỳ hạn 5-20 ngày với các tiền trang. Khi mua hàng hóa của các hiệu buôn nước ngoài thì sẽ thành toán bằng trang phiếu. Các hiệu buôn nước ngoài thường không tin tưởng các thương nhân Trung Quốc, nhưng đối với các tiền trang, đặc biệt là các tiền trang có tiềm lực thì họ khá tin tưởng. Lý do nằm ở việc các hiệu buôn nước ngoài thường áp dụng chế độ "dương mại bản". Các "dương mại bản" không chỉ nắm bắt rất rỏ thực lực của các tiền trang địa phương, mà họ còn bắt buộc phải gánh chịu trách nhiệm vô hạn nếu chẳng may xảy ra sự cố nào đó. Nếu thương nhân Trung Quốc không thể thanh toán đúng hạn, thì tiền trang sẽ phải chịu trách nhiệm trả thay cho tiệm buôn nước ngoài, sau đó tiền trang sẽ đi "tính sổ" với thương nhân Trung Quốc kia. Hoặc là tiền trang sẽ trực tiếp thanh toán cho hiệu buôn nước ngoài, rồi sau đó thu lại tiền từ thương nhân Trung Quốc. Như vậy, hàng hóa của các hiệu buôn nước ngoài sẽ được tiêu thụ, trang phiếu do các tiền trang in ra sẽ thu được lợi tức, thế nên điều đó sẽ giúp tiền trang mở rộng lợi nhuận và tăng cường các nghiệp vụ mới. Các doanh nhân Trung Quốc thì nhận được một nguồn vốn ngắn hạn, giúp mở rộng khối lượng kinh doanh của họ. Đây là một sự đổi mới tài chính "ba bên cùng có lợi". Hơn nữa, người nắm giữ các trang phiếu có thể nhận được tiền mặt bằng cách tiến hành rao bán với mức giá chiết khấu ở rất nhiều tiền trang hoặc ngân hàng nước ngoài.

Khi Ngân hàng Hội Phong tiến vào Thượng Hải, họ phải đối mặt với cục diện các ngân hàng nước ngoài và tiền trang địa phương đang "chung sống" với nhau. Lợi thế của các ngân hàng nước ngoài là nguồn vốn hùng hậu và kiểm soát hoàn toàn nghiệp vụ trao đổi tiền tệ quốc tế. Ưu điểm của ngân hàng là sự am hiểu thị trường và chiếm lĩnh vai trò là một trung gian tín dụng để phát hành hối phiếu nội địa cho các giao dịch nội địa, đặc biệt là nghiệp vụ trao đổi tiền tệ cơ bản dựa trên chế độ tiền tệ trong nước, vô vàn lợi nhuận và không thể thay thế. Vì vậy, nó cũng có thể có chỗ đứng.

Nếu đã có hùng tâm tráng chí thống nhất "giang hồ tài chính", chắc chắn Ngân hàng Hội Phong sẽ phải hạ bệ các thế lực chư hầu tài chính địa phương bằng sức mạnh của mình. Khi cuộc đại chiến hối phiếu – vốn càn quét các ngân hàng nước ngoài khác, kết thúc với chiến thắng của Ngân hàng Hội Phong, họ đã chuyển sự chú ý sang các tiền trang địa phương. Do Ngân hàng Hội Phong có thể lôi kéo nguồn tiền gửi từ tầng lớp người giàu Trung Quốc với chi phí rất thấp, cùng với lợi nhuận khổng lồ thu được từ việc buôn bán nha phiến, vào cuối thế kỷ XIX, tổng tài sản của ngân hàng này đã đạt mức 211 triệu đô-la Hồng Kông, tạo nên bá quyền tài chính hàng đầu của khu vực Viễn Đông. Ngân hàng Hội Phong đã tận dụng triệt để nguồn vốn dồi dào của chính mình và bắt đầu sử dụng chiết phiếu trên quy mô lớn để khống chế nguồn vốn của hệ thống tiền trang Trung Quốc.

Do nguồn vốn tư hữu khá hạn chế, thế nên các tiền trang đành lực bất tòng tâm trước cơ hội tranh đoạt miếng bánh hối phiếu thương mại. Ngân hàng Hội Phong đã nhận ra điểm yếu này, và sau đó đã cho các tiền trang ở Thượng Hải vay nguồn tiền dư thừa của mình với giá rẻ, các tiền trang chỉ cần thế chấp trang phiếu cho Ngân hàng Hội Phong là có thể vay tín dụng. Do đó, các tiền trang ở Thượng Hải đã vay một số tiền lớn từ Ngân hàng Hội Phong. Ngân hàng Hội Phong cũng có thể trực tiếp mua các trang phiếu đã được giảm giá trên thị trường, tiến hành tái chiết khấu và kiếm lợi nhuận từ mức chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và tái chiết khấu. Các tiền trang sau khi giảm giá thu mua trang phiếu của những tiền trang khác, vốn dĩ họ có thể giữ cho tới khi đáo hạn để kiếm lợi, nhưng để đẩy nhanh lưu chuyển dòng vốn và thu được lợi nhuận lớn hơn, chỉ cần Ngân hàng Hội Phong trả giá phù hợp, họ sẽ không ngần ngại bán lại các trang phiếu này cho Ngân hàng Hội Phong. Sau khi đã thực sự đút túi được lợi nhuận, họ sẽ tiếp tục thực hiện các giao dịch giảm giá mới.

Và như vậy, mặc dù các tiền trang ở Thượng Hải có thể vay được tiền của Ngân hàng Hội Phong để mở rộng kinh doanh, nhưng nó cũng phải trở thành một chư hầu của Ngân hàng Hội Phong vì nguồn vốn đã bị ngân hàng này kiểm soát. Ngân hàng Hội Phong có thể thắt chặt dòng vốn bằng cách từ chối sách phiếu(23) hoặc gia tăng lãi suất. Họ cũng có thể đẩy cao tỷ lệ tái chiết khấu, nghĩa là giảm giá thật sâu các trang phiếu mà các tiền trang muốn bán lại cho Ngân hàng Hội Phong. Điều này khiến cho các tiền trang không thể nhận được khoản lợi nhuận chênh lệch giữa hai lần giảm giá, qua đó buộc họ phải giảm thiểu hoặc ngừng giảm giá lần thứ nhất. Điều này sẽ khiến tất cả các tiền trang bất đắc dĩ phải giảm thiểu việc huy động vốn thương mại do dòng lưu chuyển hối phiếu thương mại bị chậm lại. Kết quả cuối cùng là việc thiếu vốn sẽ khiến các thương nhân Trung Quốc không thể thu mua các sản phẩm địa phương như trà và lụa, tầng lớp nông dân và thợ thủ công buộc phải bán thành quả lao động của họ với mức giá bèo bọt. Tại thời điểm đó, "vừa hay" các cổ đông của hiệu buôn nước ngoài đứng sau Ngân hàng Hội Phong có thể mua vào với giá rẻ, và sau đó bán ra với mức giá cao trên thị trường quốc tế để thu về lợi nhuận khổng lồ.

Khi các lực lượng tài chính Trung Quốc, với Hồ Tuyết Nham là đại diện, đang chiến đấu tuyệt vọng chống lại các lực lượng tài chính nước ngoài, thì Ngân hàng Hội Phong có thể tạo ra sự khan hiếm nguồn vốn bằng cách vặn chặt chiếc vòi cung ứng tiền tệ, dễ dàng đập tan mọi sự kháng cự của các liên minh kháng chiến thương mại.

Với sự thống trị của Ngân hàng Hội Phong đối với Ngân hàng trung ương nhà Thanh, bất kỳ tổ chức tài chính địa phương nào cũng không thể phát triển thành đối thủ cạnh tranh có thể thách thức các chiến lược cốt lõi của các chủ ngân hàng quốc tế.

Trích "Chương 1, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét