Phía sau cơn sóng thần khủng hoảng tài chính - phần 2

Greenspan: kỹ sử của cỗ máy kinh tế

Khi nói đến nhà toán học vĩ đại nhất thế kỹ XX, có lẽ tên của Greenspan không có trong danh sách, nhưng trong số các nhà kinh tế, ông lại cực kỳ nhạy cảm với các con số và mô hình, và rõ ràng xứng đáng được coi là thiên tài.

Khi theo học tại Đại học New York, các chuyên ngành chính mà Greenspan theo học là tài chính và kế toán. Trong cuốn tự truyện của mình, ông đã đề cập rằng trong những năm đi học, ông từng là thực tập sinh tại một doanh nghiệp Hoa Kỳ. Tổ chức này là công ty Brown Brothers nổi tiếng ở Phố Wall.

Trang bìa tạp chí The Economist, ngày 14 tháng 1 năm 2006
Trang bìa tạp chí The Economist, ngày 14 tháng 1 năm 2006

Công việc đầu tiên mà Greenspan làm tại Brown Brothers là sắp xếp và điều chỉnh một số dữ liệu do Cục Dự trữ Liên bang công bố theo tuần, đặc biệt là số liệu thống kê của các chuỗi siêu thị lớn. Công việc này có vẻ đơn giản, nhưng lại hết sức lắt nhắt và tốn nhiều công sức. Vì thời điểm đó chưa có máy tính nên không dễ để thao tác các dữ liệu thống kê. Rất nhiều tính toán thủ công, liên tục phải dùng bút chì để tạo các bảng vẽ và sau đó thực hiện từng bộ quy trình để điều chỉnh từng dữ liệu một. Dù công việc hết sức khô khan, nhàm chán, những Greenspan lại rất mực yêu nghề. Ông bẩm sinh đã rất nhạy cảm với những con số. Đối mặt với những con số buồn tẻ và nhàm chán, ông có thể tìm thấy những thứ mà người khác không thể thấy. Thông qua công việc này, Greenspan đã hoàn toàn nắm vững và thành thạo các kỹ năng cơ bản trong thống kê. Quan trọng nhất, dưới sự chỉ dẫn của các phương pháp khoa học, sự nhạy cảm siêu hạng của ông đối với dữ liệu đã đạt đến cảnh giới "cho phép dữ liệu bước ra để kể chuyện".

Alan Greenspan
Alan Greenspan

Sau khi tốt nghiệp đại học, Greenspan đã làm công tác liên quan đến lĩnh vực dữ liệu thống kê tại Hiệp hội Công nghiệp Quốc gia (The Conference Board, một viện chính sách ở New York). Đối tượng phục vụ của hiệp hội này chính là Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York. Thư viện sách khổng lồ của Hiệp hội Công nghiệp Quốc gia đã trở thành phần quan trọng nhất trong cuộc sống của Greenspan. Bằng cách xem xét các thư tịch, tài liệu và báo cáo thống kê, Greenspan bắt đầu hiểu được cơ chế hoạt động của nền kinh tế Mỹ. Đồng thời, ông hiểu cách các ngành công nghiệp khác nhau vận hành và liên kết với nhau để tạo thành một hệ thống kinh tế quốc gia toàn diện như thế nào. Trong đâu Greenspan bắt đầu có những hình dung rõ nét về quá trình phát triển của hệ thông công nghiệp kể từ thời Cách mạng Công nghiệp cho đến nay. Từ động cơ hơi nước đến dệt may, từ đường sắt đến luyện kim, từ vận chuyển đến đóng tàu, từ máy móc đến quân sự, từ điện báo đến điện thoại, từ than đá đến dầu mỏ, từ ô tô đến máy bay… Vô số ốc vít của khía cạnh kinh tế xã hội đã vặn chặt với nhau trong tư duy của Greenspan để làm cho cỗ máy khổng lồ của nền kinh tế quốc gia được vận hành.

Thư viện của Hiệp hội Công nghiệp Quốc gia cũng cung cấp một loạt các số liệu thống kê cho Greenspan. Hầu hết các số liệu thống kê đều đã "già", trong đó có không ít số liệu bắt đầu thống kê từ thời Nội chiến năm 1861. Hiệp hội này đã tiến hành thu thập số liệu thống kê hết sức chi tiết của hầu hết các ngành công nghiệp và ngành nghề quan trọng ở Hoa Kỳ. Greenspan vùi mình trong thư viện của Hiệp hội Công nghiệp Quốc gia chẳng khác gì một con chuột rơi vào bể gạo, ông hoàn toàn bị mê hoặc bởi nhưng dữ liệu thống kê này. Nếu đi sâu tìm hiểu ngành sản xuất bông, ông sẽ nghiên cứu tất cả các loại bông, từ thành phần, chất lượng cho đến chủng loại, quy trình sản xuất. Các loại bông khác nhau sẽ được sử dụng như thế nào trong ngành công nghiệp, cách gia công chúng, cần những loại máy móc và quy trình sản xuất ra sao, cho đến cả việc tiêu thụ trên thị trường. Trong mắt của Greenspan, những dữ liệu này là một thế giới đầy màu sắc. Những dữ liệu quan trọng bậc nhất của Hoa Kỳ như vận tải đường sắt toàn quốc, ngành cao su, thống kê nhân khẩu học năm 1890 của Hoa Kỳ lại càng thu hút được sự chú ý của Greenspan. Những con số và tài liệu vô tận này hẳn sẽ khiến nhiều người buồn ngủ, ấy nhưng Greenspan lại thích thú vô tận và chẳng thể kìm nổi. Đắm chìm trong đại dương dữ liệu, Greenspan nhanh chóng có được sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện về số liệu thống kê của các ngành công nghiệp khác nhau ở Hoa Kỳ.

Sau một vài năm, Greenspan đã hoàn toàn hiểu rõ về cơ chế tổng thể liên quan đến vận hành của bộ máy kinh tế Hoa Kỳ. Cộng thêm những nghiên cứu chuyên sâu của ông về dữ liệu của các ngành công nghiệp khác nhau qua các thời kỳ, lúc này chàng trai trẻ Greenspan đã trở thành "công nhân kỹ thuật" hết sức lành nghề trong lĩnh vực "cơ khí kinh tế". Ông thuộc nằm lòng nguyên lý máy móc, biết tất cả các thông số vận hành và đã tích lũy được khá nhiều "kinh nghiệm lịch sử" trên dữ liệu động của từng thành phần và hiệu ứng liên kết của nó.

Bộ não của ông như thể được trang bị một phần mềm có khả năng phân tích nhanh chóng tình trạng công nghiệp và xu hướng phát triển hiện tại của Hoa Kỳ, và có thể nắm bắt chính xác quy luật và nhịp đập của hoạt động kinh tế từ dữ liệu. Thông qua việc đọc và tích lũy dữ liệu một cách liên tục và chuyên sâu trong suốt nhiều năm. "Mô hình Greenspan" đã thành công trong việc tạo ra một mô-đun dữ liệu và các luồng dữ liệu độc đáo và chính xác để phân tích trạng thái hoạt động của bộ máy kinh tế từ tổng thể cho đến cục bộ. Nếu nhập một loạt các thông số cơ bản liên quan đến phạm vi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, bộ não của Greenspan có thể ngay lập tức tạo ra một báo cáo dự đoán chu kỳ kinh tế vĩ mô, và tự động kèm thêm những biểu đồ và cột mốc hoàn chỉnh.

Giống như những kỹ sư trong các ngành công nghiệp khác, Greenspan không quan tâm lắm đến lý thuyết kinh tế. Bởi vì các kỹ sư quan tâm đến cách giải quyết các vấn đề khác nhau trong thực tế, thay vì các cuộc thảo luận lý thuyết trừu tượng. Trong cuốn tự truyện của mình, Greenspan cũng đề cập rằng ông không quan tâm lắm đến nghiên cứu vĩ mô của Keynes. Sự hưng phấn của ông chỉ đổ dồn cho khía cạnh kỹ thuật, đặc biệt là dữ liệu và mô hình. Greenspan quan tâm đến cách bộ máy kinh tế thực sự hoạt động, không cần biết lý thuyết kinh tế được giải thích như thế nào.

Trong quá trình học tập về lý luận, điều duy nhất gây ấn tượng với Greenspan là bộ môn kết hợp giữa thống kê dữ liệu và lý luận kinh tế được hướng dẫn bởi giáo sư Jacob Wolfowitz, mà ông đã chọn học vào năm 1951. Vị giáo sư này là cha của Wolff – người từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Bush (con). Wolff là một trong những nhà hoạch định chính của cuộc chiến tranh Iraq. Sau khi rút lui khỏi Bộ Quốc phòng, ông trở thành nhân vật đại diện chủ chốt của chủ nghĩa bảo thủ mới, sau đó ông đảm nhận vai trò Chủ tịch Ngân hàng Thế giới.

Trong bộ môn của Giáo sư Wolfowitz, lần đầu tiên Greenspan đã chấp nhận khái niệm hoàn toàn mới về tiến hành xây dựng các biến lượng giữa các cấu trúc kinh tế bằng cách sử dụng phương pháp thống kê số liệu toán học. Trước khi tiếp xúc với lý thuyết kinh tế lượng, Greenspan đã tự trang bị "Mô hình Greenspan" do ông tự nghiên cứu để hình thành nên một phân tích đầy đủ và thành thục về xu thế động và sự phát triển kinh tế nói chung. Chỉ là chưa hình thành nên một hệ thống lý thuyết tương đối rõ ràng và thiếu các công cụ toán học để thể hiện chính xác.

Khi lắng nghe khái niệm về kinh tế lượng của Giáo sư Wolfowitz, Greenspan đột nhiên bừng tỉnh, và ông dự cảm rằng mình chắc chắn sẽ trở thành một nhân tố nổi bật trong lĩnh vực này. "Mô hình Greenspan" đã có một siêu cơ sở dữ liệu, lưu trữ nguồn dữ liệu lịch sử toàn diện và chân thực từ mọi ngành công nghiệp nặng đến công nghiệp nhẹ như khai thác, luyện kim, thép, vận tải đường sắt, công nghiệp ô tô… Một khi những dữ liệu này được đưa vào mô hình toán của kinh tế lượng, nó có thể lập tức đưa ra những dự báo về xu hướng kinh tế trong tương lai. Bởi vì những dữ liệu mà Greenspan nắm trong tay đều bắt nguồn từ thực tiễn sản xuất, không những vậy còn có sự tích lũy cực lớn qua các thời kỳ, thế nên kết quả của sự kết hợp giữa khuôn mẫu toán học của "Mô hình Greenspan" và kho dữ liệu siêu cấp trong não ông thậm chí còn chính xác và thực tế hơn các mô hình kinh tế dựa trên lý thuyết thuần túy.

Ngoài trữ lượng phong phú và bao la vạn tượng, kho dữ liệu trong đầu của Greenspan còn có một điểm độc đáo là nó chứa đựng một lượng lớn thông tin lịch sử. Trong diễn tiến lâu dài của lịch sử, tất cả các ngành nghề đều trải qua sự phát triển và thay đổi liên tục, nhiều dữ liệu khác nhau cũng đã hình thành nên một đường dẫn dữ liệu động cùng với diễn biến của hệ thống kinh tế. Khung lý thuyết và hệ thống mô hình của "Mô hình Greenspan" không tĩnh và biệt lập, mà nó có một đặc tính tự tiến hóa và tự học tập tương đối cao. Khi nhận được sự hỗ trợ từ các công cụ toán học, khả năng nắm bắt của ông đối với quy luật vận hành của nền kinh tế đã được cải thiện một cách rõ rệt.

Bộ não của Greenspan có thể thể hiện những hình ảnh vĩ mô rõ ràng, giống như việc Newton có thể nhìn thấy quy luật vận hành của thế giới tự nhiên và các thiên thể. Trong suy nghĩ của ông, thế giới này hoàn toàn có thể được xây dựng thành một mô hình toán học phức tạp. Miễn là dữ liệu được tích lũy trong một thời gian đủ dài, việc sử dụng mô hình này để dự đoán xu hướng kinh tế trong tương lai về mặt logic là hoàn toàn khả thi. Chỉ cần nhập vào đẩy đủ các biến lượng ban đầu, sự phát triển kinh tế trong tương lai mà "Mô hình Greenspan" đưa ra sẽ rất tiệm cận với thực tế.

Vào thời điểm này, khối óc của Greenspan đã leo lên đỉnh Everest trong lĩnh vực kinh tế. Nó mang tới cho ông một sự tự tin cao độ và khí phách cần thiết để có thể quan sát thấu triệt, nhìn xa trông rộng sự vận hành của toàn bộ nền kinh tế thế giới. Ông muốn lý giải thế giới bằng mô hình của riêng mình, sử dụng nguồn dữ liệu của riêng mình để xác minh những suy đoán này.

Trích "Chương 9, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét