Số phận của tiền bạc và vận mệnh của quốc gia
Nếu nói rằng
sự xuất hiện của loại tiền tệ chung trên toàn thế giới là điều không thể tránh
khỏi, vậy thì loại tiền tệ nào có thể đảm nhận một cách hữu hiệu việc phân phối
tài sản một cách công bằng cho toàn bộ người dân trên toàn cầu?
Bản chất của
cải là những sản phẩm mà mọi người tạo ra thông qua quá trình lao động, và tiền
tệ đại diện cho "quyền đòi hỏi" đối với những thành quả lao động này.
Mỗi người trong xã hội đều nên nhận được "quyền đòi hỏi" thành quả
lao động của những người khác bằng cách rao bán thành quả lao động của chính
mình. Khi "quyền đòi hỏi" này được chuyển nhượng, nó sẽ hoạt động như
một "phương tiện thanh toán" và khi "quyền đòi hỏi" được chấp
nhận một cách phổ biến, nó sẽ trở thành một "phương tiện môi giới giao dịch".
Khi một người nắm giữ "quyền đòi hỏi" nhưng lại trì hoãn việc trao đổi,
thì người đó đã lựa chọn công năng "cất trữ của cải". Cuối cùng, khi
một người trao đổi "quyền đòi hỏi", nó vẫn giúp người đó nhận được
thành quả lao động của người khác một cách nguyên vẹn, không hề suy suyển. Vậy
thì loại "quyền đòi hỏi" này chính là một "thước đo giá trị"
tối ưu. Bốn yếu tố này cùng nhau tạo thành sự tương ứng hoàn hảo giữa tiền bạc
và của cải.
Trên thực tế,
trong số bốn công năng của tiền, công năng cốt lõi chính là "cất trữ của cải".
Càng là loại tiền tệ có khả năng trì hoãn việc trao đổi của cải một cách nguyên
vẹn thì nó càng có thể thực hiện được tác dụng quan trọng là "thước đo giá
trị". Nó sẽ càng được chào đón trên thị trường, việc lưu thông càng thêm dễ
dàng. Do đó, nó trở thành một "phương tiện môi giới giao dịch" và
"phương thức thanh toán" có chất lượng cao.
Cốt lõi của
công năng "cất trữ của cải" là "quyền đòi hỏi" đối với của
cải hiện tại phải giúp chúng ta trao đổi được thành quả lao động của người khác
trong tương lai một cách "công bằng" mà không bị mất mát. Loại
"công bằng" này không phải là nguyên tắc bình đẳng giá mà chúng ta
thường hiểu. Trên thực tế, trong quá trình trao đổi thực tiễn, mọi người rất
khó thực hiện đánh giá giá trị một cách hiệu quả. Cái gọi là trao đổi công bằng
nghĩa là hai bên tham gia đánh giá tính công bằng của giao dịch theo các ưu
tiên khác nhau của nhu cầu. Chính xác là từng người sẽ có những định nghĩa khác
nhau về những gì "cần thiết nhất" với họ, trong trạng thái đôi bên
cùng hổ trợ cho nhau thì việc giao dịch mới có thể thực hiện được.
Công năng
"cất trữ của cải" do tồn tại sự khác biệt về thời gian giữa việc tiến
hành trao đổi thành quả lao động hiện tại và thành quả lao động trong tương
lai, thế nên việc "dự kiến" đã trở thành một phần quan trọng của tiền
tệ. Xét theo lịch sử, các loại tiền tệ nguyên thủy đại diện cho một "quyền
đòi hỏi" mà không có sự "dự kiến" nào, tất cả các giao dịch phải
thực hiện bằng thành quả lao động đã hoàn thành. Không có quá nhiều sản phẩm
trong xã hội để trao đổi trong tương lai, công năng "cất trữ của cải"
cũng không mấy rõ ràng. Cùng với sự phát triển của năng suất, xã hội bắt đầu tồn
tại của cải dư thừa và có thể được sử dụng trong tương lai, tiếp theo là sự xuất
hiện của kim tiền và lãi suất. Lãi suất như một sự "dự kiến" rằng
thành quả lao động sẽ thặng dư nhiều hơn trong tương lai, dó đó cấu thành sự
cung ứng tiền tệ theo kiểu "thực tế + dự kiến".
Khi giao dịch
hàng hải bắt đầu phát triển, sự xuất hiện của hối phiếu đã đẩy thành phần
"dự kiến" của tiền tệ lên một tầm cao mới. Nếu nói rằng trong nền
kinh tế tự cung tự cấp, lãi suất thể hiện sự "dự kiến" hợp lý đối với
quá trình thu hoạch nông nghiệp, vậy thì hối phiếu sẽ đưa "dự kiến" về
tiền tệ phát triển thành một "dự kiến" hợp lý đối với thương mại mậu
dịch.
Trong kỷ
nguyên của một cuộc cách mạng công nghiệp, ngành công nghiệp ngân hàng đã xuất
hiện chế độ "dự trữ một phần vàng". Trên thực tế điều này sẽ đưa tính
năng "dự kiến" của tiền tệ phát triển thành nền tàng của việc mở rộng
quy mô lớn của sản xuất công nghiệp.
Sự ra đời của
thời đại thông tin làm xuất hiện một số lượng lớn các công cụ tài chính phái
sinh, biến của cải trong thế giới ảo thành nguồn cung tiền trong thế giới thực,
từ đó khuếch đại vô hạn tính năng "dự kiến" của tiền tệ trở nên không
bền vững và có tính hủy diệt, cuối cùng gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính.
Bản thân
tính năng "dự kiến" của tiền tệ đều hợp lý, nhưng một khi trở nên
thái quá, nó sẽ dẫn đến mâu thuẫn rằng những dự kiến trong quá khứ không thể được
đáp ứng trong thực tế.
Nếu yếu tố
cốt lõi của "cất trữ của cải" bao gồm "thành quả lao động thực tế
+ thành quả lao động dự kiến", vậy thì "thành quả lao động thực tế"
đã thực hiện thuộc tính hàng hóa của tiền. Trong khi đó, "thành quả lao động
dự kiến" sẽ phản ánh thuộc tính tín dụng của tiền. Việc xóa bỏ hoàn toàn
thuộc tính hàng hóa của tiền sẽ dẫn đến sự rối loạn chức năng "cất trữ của
cải". Bất kỳ loại tiền tệ nào trong lịch sử, một khi bị tách ra khỏi bản
chất hàng hóa, cuối cùng đều không thoát khỏi hậu quả là sự mất giá.
Chức năng "cất
trữ của cải" của tiền tệ không chỉ quyết định khả năng tự duy trì nội sinh
của tiền, mà còn thể hiện khả năng chấp nhận ngoại tại của tiền, tức là lĩnh vực
lưu thông tiền tệ.
Sự hưng thịnh
và suy vong của các nền văn minh lớn trong lịch sử về bản chất là sự phản ánh
toàn diện, hiệu quả việc phân bổ tài nguyên thiên nhiên và khả năng tích hợp
các nguồn lực xã hội dưới sự kiểm soát của các nền văn minh đó, trong khi sự vững
bền hay yếu kém của tiền tệ lại là sự thể hiện ngoại tại của hai khả năng kiểm
soát này. Quá trình trỗi dậy của một nền văn minh hùng mạnh, chắc chắn sẽ đi
kèm với sự xuất hiện của một loại tiền tệ mạnh mẽ và sự lưu thông được mở rộng
không ngừng. Loại tiền tệ mạnh mẽ đó sẽ xây dựng một hệ thống xã hội vững chắc
thông qua sự ổn định và tin cậy của nó, từ đó hình thành nên một khế ước vững
chắc có thể bảo vệ lợi ích đa phương. Dưới sự dẫn dắt của một hệ thống tiền tệ
mạnh mẽ, xã hội vận hành trong quỹ đạo của một hệ thống "pháp lý tiền tệ".
Ngược lại, bước ngoặt chuyển sang giai đoạn suy vong của một nền văn minh chủ yếu
được phản ánh trong thực tế bằng năng lực tạo ra của cải không thể đáp ứng chi
tiêu ngày càng tăng mạnh. Vấn đề thâm hụt phát tán sẽ là mồi lửa dẫn đến hiện
tượng mất giá tiền tệ và lạm phát ngày càng khủng khiếp. Ngược lại, tiền tệ
không ngừng mất giá sẽ áp chế động lực sáng tạo của cải trong xã hội, dẫn đến sự
suy giảm lưu thông tiền tệ, làm suy yếu năng lực cũng như hiệu suất của việc
tích hợp và phân bổ nguồn lực xã hội, từ đó đẩy nhanh sự suy thoái của các vấn
đề tài chính. Đồng thời, tiền tệ mất giá sẽ làm suy yếu mối quan hệ khế ước lợi
ích chung được hình thành bởi tất cả tầng lớp trong xã hội, và hệ thống
"pháp lý tiền tệ" sẽ bị thay thế bằng hệ thống pháp lý do con người
quyết định. Kết quả sẽ gây ra sự phân tán tâm lý xã hội, dẫn đến nền tảng đạo đức
suy đồi, cuối cùng sẽ dẫn đến sự sụp đổ của quốc gia và sự suy tàn của nền văn
minh.
Lịch sử về
sự hưng vong của La Mã cổ đại đã phản ánh đầy đủ qua sự thịnh suy của hệ thống
tiền tệ. Trong thời kỳ chấp chính của Caesar, chính ông đã thiết lập hệ thống
tiền tệ vàng bạc mạnh mẽ của La Mã cổ đại. Cùng với quân đội hùng mạnh, tiền tệ
La Mã cũng theo đà mở rộng đến khu vực rộng lớn ở Địa Trung Hải. Ngược lại, sự
lưu thông tiền tệ rộng lớn cũng củng cố thêm khả năng tích hợp tài nguyên của Đế
chế La Mã đối với các khu vực xung quanh, từ đó tăng cường thêm sức mạnh của đế
chế. Trong thời hoàng kim kéo dài hàng thế kỷ của mình, nền kinh tế của Đế chế
La Mã hết sức thịnh vượng, giá cả ổn định, mức thuế ôn hòa, thương mại phát triển
và lãi suất cho vay thương mại duy trì ở mức bình thường từ 4% đến 6% - mức thấp
nhất trong toàn bộ thời đại của Đế chế La Mã.
Kể từ thời
đại của Hoàng đế La Mã Nero (năm 54), khi ngân sách của quốc gia ngày càng căng
thẳng và chi tiêu ngày càng trở nên đắt đỏ, Hoàng đế Nero bắt đầu bù đắp thâm hụt
tài chính bằng một loại tiền tệ mất giá. Từ năm 54 đến 68 CN, hàm lượng bạc của
đồng bạc La Mã giảm từ 100% xuống còn 90%, đến năm 117 giảm xuống 85%, năm 180
là 75%. Trải qua hai đời hoàng đế, đến năm 211, hàm lượng bạc của đồng bạc La
Mã chỉ còn 50%. Chu kỳ mất giá dần dần của tiền tệ kéo dài hơn 150 năm kể từ thời
Nero, và giai đoạn này cũng là bước ngoặt đánh dấu sự lụi tàn của Đế chế La Mã.
Cơn ác mộng lạm phát nhanh chóng bước vào thời kỳ tăng tốc suy thoái. Từ năm
260 TCN đến năm 268 CN, hàm lượng bạc của đồng bạc La Mã nhanh chóng giảm xuống
chỉ còn 4%. Thời điểm này, Đế chế La Mã đã rơi vào tình cảnh khốn cùng về kinh
tế. Trong nước, các cuộc nổi loạn liên tiếp nổ ra. Ở ngoài nước thì chiến tranh
liên miên. Do giá trị tiền tệ cao nhưng hàm lượng bạc lại cực kỳ thấp, dẫn đến
vật giá tăng vọt, thu thuế nặng nề, cuối cùng khiến cho tướng lĩnh làm phản,
Hoàng đế Aurelianus bị ám sát vào năm 275 CN.
Người kế vị
của ông ta, hoàng đế Dioclett, muốn học theo Caesar và Augustus, cố gắng chấn
hưng lại tiền tệ La Mã. Để khắc chế lạm phát, Dioclett thậm chí còn tuyền bố rằng
sẽ phát hành lại toàn bộ số lượng tiền bạc với giá trị thực tế. Nhưng ông đã phạm
sai lầm ở chỗ: yêu cầu loại tiền mới này phải có giá trị "tương
đương" với loại tiền cũ đã bị mất giá nghiêm trọng. Do đó, loại tiền mới của
ông đã nhanh chóng bị đầu cơ tích trữ và mất khả năng lưu thông. Trong cơn tuyệt
vọng, cuộc chiến khắc chế lạm phát giờ đành phải bắt đầu từ khâu kiểm soát giá
cả, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của "sắc lệnh vật giá năm 301 CN" nổi
tiếng trong lịch sử của La Mã, quy định mức giá cao nhất của hàng ngàn loại
hàng hóa và dịch vụ, mức giá này sẽ căn cứ theo chất lượng của từng loại hàng
hóa và dịch vụ. Do lãi suất tiếp tục tăng vọt, luật pháp đã giới hạn lãi suất ở
mức 6% đến 12%. Mức cao thấp của lãi suất được quyết định bởi mức độ rủi ro. Sự
thiếu hụt một số sản phẩm nhất định đã dẫn đến lệnh cấm xuất khẩu, chẳng hạn
như các loại "vật tư chiến lược" gồm ngũ cốc, sắt, đồng xanh, vũ khí,
thiết bị quân sự và ngựa, v.v… sự kiểm soát này đã liên tục mở rộng sang phương
diện chế độ và giai cấp. Hoàng đế Constantine hạ lệnh yêu cầu con trai của mỗi
người lính phải tiếp tục trở thành binh lính, trừ khi họ không đạt tiêu chuẩn để
tòng quân. Tương tự như vậy, những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp bị
buộc phải làm nông mãi mãi, từ đời này qua đời khác. Xu hướng này sau đó đã được
mở rộng cho tất cả các ngành nghề được coi là "không thể thiếu" hoặc
"không người kế tục". Hậu quả của việc kiểm soát giá cả là những người
tạo ra của cải sẽ không thể thu được lợi nhuận trong một hệ thống giá cả như vậy,
vì vậy một số lượng lớn hàng hóa được chuyển sang thị trường chợ đen. Để ứng
phó với tình trạng này, Hoàng đế La Mã đã hạ lệnh trấn áp, một cách tàn khốc việc
buôn bán ở chợ đen. Cuộc đàn áp cuối cùng đã đem lại hiệu quả, nhưng cái giá phải
trả là những người tạo ra của cải đã nhất quyết ngừng sáng tạo, thế là nền kinh
tế của Đế chế La Mã rơi vào tình cảnh tuyệt vọng. Tại thời điểm này, hệ thống
tiền tệ của Đế chế La Mã đã hoàn toàn sụp đổ, và chính phủ phải ngừng thu thuế
bằng tiền và trực tiếp đánh thuế các sản phẩm và dịch vụ. Đế chế La Mã hùng mạnh
đã rệu rã đến mức phải dùng hàng hòa để đổi lấy hàng hóa.
Vào khoảng
năm 350 CN, giá trị của đồng bạc La Mã chỉ bằng 1/30 triệu so với thời đại
Augustus và Đế chế Tây La Mã thần thánh cuối cùng đã đi đến thời khắc sụp đổ.
Trái ngược
với điều này, hoàng đế Constantine đã xây dựng lại một đơn vị tiền tệ mới ở
Đông La Mã. Đó là một cơ chế tiền tệ mạnh mẽ mới dựa trên vàng nguyên chất
(Solidus), nó trở thành một sự bảo đảm quan trọng để Đế quốc Byzantine tồn tại
hơn một nghìn năm. Độ tin cậy của nó tốt đến mức nó có thể được sử dụng ở các
nước thù địch lân cận, ở châu Phi và Tây Âu xa xôi. Một số nhà sử học tin rằng
lý do khiến cho Đế chế Đông La Mã có thể tồn tại hàng ngàn năm trong tình thế
khắc nghiệt, bị rất nhiều kẻ thù hùng mạnh vây quanh tứ phía là nhờ cơ cấu kinh
tế và hệ thống tài chính dựa trên đồng tiền vàng. Độ tinh khiết của tiền vàng
Byzantine duy trì cho đến năm 1034 CN, và từ năm 1081 bắt đầu mất giá liên tục.
Một hệ thống tiền vàng mạnh mẽ với độ tinh khiết duy trì suốt 800 năm cuối cùng
đã sụp đổ, kéo theo đó là vị thế trung tâm thương mại thế giới của Byzantine
cùng hệ thống đạo đức luân lý và lực hướng tâm của một đế chế vĩ đại cũng theo
đà lụn bại.
Sự tiếp nối
xen kẽ của các loại tiền tệ mạnh và yếu không chỉ xuất hiện liên tục trong lịch
sử phương Tây mà cả trong lịch sử Trung Quốc. Trong triều đại Bắc Tống, do khu
vực Tứ Xuyên xảy ra tình trạng thiếu đồng, thế nên bất đắt dĩ phải đưa đồng xu
sắt vào sử dụng trong các giao dịch thương mại. Tại thời điểm đó, dân chúng phải
mất 20.000 đồng sắt với trọng lượng khoảng 500kg để mua một mảnh vải, phải dùng
xe để vận chuyển, chi phí giao dịch rất cao, khiến cho sự phát triển kinh tế bị
hạn chế nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này, một số thương nhân địa phương ở
Thành Đô đã thành lập tổ chức phát hành tiền giấy đầu tiên trên thế giới. Họ đã
phát hành loại tiền giấy đầu tiên trên thế giới với tên gọi "giao tử",
dùng tiền sắt làm tài sản thế chấp. Năm 1024, chính quyền Bắc Tống bắt đầu phát
hành tiền giấy "Quan Giao tử"; tài sản thế chấp gọi là "sao bản",
thường bằng sắt. Trong 100 năm đầu tiên, lượng phát hành của "giao tử"
tương đối tiết chế, nền kinh tế xã hội quả thực cũng có sự phát triển vượt bậc.
Tuy nhiên đến năm 1160, tỷ lệ sao bản đã giảm xuống chỉ bằng 1/60 lượng tiền giấy
lưu hành, sau đó chính quyền đã dứt khoát từ bỏ sao bản và phát hành giao tử một
cách tùy tiện. Đến cuối triều đại Nam Tống, tỷ lệ lạm phát trong 150 năm đã lên
tới 20 nghìn tỷ lần! Trên thực tế, hệ thống tiền tệ của triều đại Nam Tống đã sụp
đổ trước tiên, sau đó mới bị đội quân Mông Cổ xâm chiếm. Sự sụp đổ của hệ thống
tiền tệ, sự thu hẹp của các khoản thu thuế của chính quyền, quốc gia mất khả
năng huy động chiến tranh, nhà Tống thực chất bị suy bại vì sự sụp đổ của chế độ
tiền giấy giao tử.
Sự kết thúc
của triều đại nhà Kim cũng khá giống với nhà Tống, đó là do đồng tiền suy yếu
gây ra lạm phát nghiêm trọng, cuối cùng đã hủy hoại đất nước. Nhà Kim đã phát
hành tiền giấy trong hơn 70 năm, nhưng vật giá tăng tới 60 triệu lần, cuối cùng
dẫn đến nhân tâm hỗn loạn, khả năng sáng tạo của cải hoàn toàn bặt tích. Hệ thống
tiền tệ sụp đổ trước tiên, sau đó mới là sự suy tàn của đế chế.
Đến thời
nhà Nguyên, mặc dù chính quyền đã cố gắng tiếp thu bài học về sự sụp đổ của hệ
thống tiền giấy của hai nhà Tống – Kim và tiến hành cải cách rộng rãi các chính
sách của mình, tạo ra hệ thống tiền tệ tương tự như ngân bản vị. Nhưng chiến
tranh, nạn đối và chi tiêu quá mức không thể được khắc chế bằng phương thức tự
chủ tự giác. Nhà Nguyên phát hành loại tiền tên là "bảo sao" trong
hơn 20 năm, nhưng loại tiền đó nhanh chóng mất giá, chỉ bằng 1/10 giá trị ban đầu.
Đến cuối triều đại nhà Nguyên, giá gạo đã tăng lên hơn 60.000 lần so với những
năm đầu của triều đại. Hệ thống tiền "bảo sao" sụp đổ hoàn toàn và
người dân từ chối tiền giấy của chính quyền. Trong tình trạng mất khả năng lưu
thống tiền tệ, Vương triều nhà Nguyên đã không thể kiểm soát tài chính và thu
thuế, quốc lực suy kiệt, và cuối cùng họ cũng bại vong vì sự sụp đổ tiền tệ.
Cuộc thử
nghiệm đối với hệ thống tiền giấy của triều đại nhà Minh kéo dài 150 năm. Đến
năm 1522, tiền giấy "minh bảo sao" mất giá, chỉ bằng 2/1000 giá trị
ban đầu, lạm phát lan tràn khắp chốn. Vương triều nhà Minh cuối cùng buộc phải
từ bỏ hệ thống tiền giấy và nối lại chế độ tiền kim loại. Từ nhà Tống đến nhà
Minh, sau gần 500 năm thử nghiệm đối với chế độ tiền giấy, cuối cùng đi đến kết
luận rằng: Chế độ tiền giấy với sự yếu đuối vốn có và không mang tính ràng buộc
sẽ không thể duy trì ổn định trong một thời gian dài.
Bất luận là
"giao tử" của nhà Tống, "bảo sao" của nhà Nguyên – Minh,
hay cả loại "tiền thực dân" trong cuộc chiến giành độc lập của Mỹ -
tiền xanh Lincoln và tiền Feder của Đức Quốc xã đều là loại tiền bị tách ra khỏi
thuộc tính hàng hóa. Chúng có thể đóng một vai trò nào đó trong việc kích thích
phát triển kinh tế trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng chỉ như một biện
pháp khẩn cấp, chứ không thể sử dụng lâu dài bền vững. Bất kỳ loại tiền tệ nào
đánh mất thuốc tính hàng hóa đều sẽ lặp lại vết xe đổ của lịch sử.
Kể từ khi hệ
thống Bretton Woods bị giải thể vào năm 1971, đồng đô-la đã hoàn toàn tách rời
khỏi vàng. Lần đầu tiên, xã hội loài người bước vào kỷ nguyên của hệ thống tiền
tệ tín dụng thuần túy không có hàng hóa. Tiền đề cho sự tồn tại của tiền tệ tín
dụng là người tạo ra tín dụng phải thực sự đáng tin cậy, và loại tiền tệ dựa
trên điều đó sẽ trở nên có giá trị. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự bùng nổ của
cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là do con nợ không thể tuân thủ tín dụng, do đó,
đồng đô-la được phái sinh dựa trên những khoản nợ đó, chắc chắn cũng sẽ xuất hiện
tình trạng giảm giá mạnh. Điểm yếu cố hữu của tiền tệ tín dụng là các khoản nợ
luôn tồn tại rủi ro vỡ nợ, và loại tiền tệ rủi ro này không thể thực hiện được
trọn vẹn công năng "cất trữ của cải".
Kinh nghiệm
lịch sử cho thấy rằng, bốn chức năng chính của tiền tệ bao gồm "cất trữ của
cải", "phương tiện môi giới giao dịch", "phương thức thanh
toán" và "thước đo giá trị" bắt buộc phải đồng thời phát huy tác
dụng, như vậy cơ chế hoạt động của tiền tệ mới có thể ổn định và duy trì. Trong
trường hợp thiếu đi công năng "cất trữ của cải" thì chế độ tiền tệ
tín dụng thuần túy cuối cùng cũng sẽ mất đi công năng "thước đo giá trị".
Tiền tệ tín dụng – chiếc bàn đang cõng trên lưng cả nền kinh tế thế giới chỉ mới
hoạt động được 38 năm, trong tình huống chiếc bàn tiền tệ này bị thiếu đi 2
trong số 4 cái chân, nó sẽ mất cân bằng nghiêm trọng, nghiêng ngả chực chờ đổ sập.
Hoa Kỳ với khoản nợ khổng lồ lên tới 57 nghìn tỷ đô-la, áp lực nợ đang tăng ở mức
trung bình là 6%. Đến năm 2020, tổng số nợ sẽ chạm tới ngưỡng kinh hoàng 102
nghìn tỷ đô-la. Trong khi đó GDP tiềm năng là 3% thì cũng chỉ đạt mức 18,8
nghìn tỷ đô-la. Chỉ riêng việc trả lãi cho các khối nợ khổng lồ này cũng chiếm
mất *** (chỗ *** là khoảng trống không hiển thị số liệu có thể là do lỗi in ấn
- thitcaphe) tổng GDP của Hoa Kỳ, và áp lực thanh toán lãi này sẽ tiếp tục tăng
nhanh đến mức tuyệt vọng. Nếu Hoa Kỳ đang chơi một trò chơi kim tiền công bằng,
họ sẽ chẳng có lựa chọn thứ hai ngoại trừ tuyên bố "bảo hộ phá sản".
Đến năm
2020, thâm hụt tiềm năng của lĩnh vực bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội của
chính phủ Hoa Kỳ sẽ "đóng góp" thêm 100 nghìn tỷ đô-la nợ ngầm nữa.
Ngoài việc in tiền quy mô lớn để giảm bớt áp lực thanh toán nợ, Hoa Kỳ sẽ không
có lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, các quốc gia trên thế giới – những người hoàn
toàn thất vọng với đồng đô-la kể từ năm 2009 và đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình
huống thoát ly khỏi nguồn vốn của Mỹ, sẽ phải đối mặt với xu hướng mất giá đồng
đô-la với quy mô lớn hơn vào năm 2020. Liệu họ có thể tiếp tục chịu đựng nỗi
đau đớn và sự bất lực khi nắm giữ đồng đô-la?
Nếu cuối
cùng đồng đô-la sụp đổ vào năm 2020, sẽ không còn loại tiền tệ có chủ quyền nào
trên thế giới đủ sức thay thế nó và chế độ tiền tệ tín dụng sẽ phải đối mặt với
sự thanh lý cuối cùng. Đến lúc đó, việc "tái tiền tệ hóa" vàng sẽ là
điều không thể tránh khỏi. Việc này sẽ giúp khôi phục công năng "cất trữ của
cải" của tiền tệ và cân bằng lại bốn chân của chiếc bàn tiền tệ. Thế
nhưng, việc chỉ có vàng trở thành trụ cột chống đỡ cho chế độ tiền tệ hiện đại
sẽ tồn tại nhiều khiếm khuyết lớn. Vấn đề lớn nhất là sự gia tăng sản lượng
vàng sẽ không thể theo kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới, thế nên
trong quá trình củng cố công năng "cất trữ của cải", công năng
"thước đo giá trị" của vàng lại bị hạn chế và không thể phát huy một
cách hữu hiệu. Do đó, trong một cơ chế tiền tệ vàng hoàn chỉnh, sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế thế giới vẫn sẽ mất cân đối. Với tư cách là đơn vị tiền tệ
duy nhất của thế giới trong tương lai, vàng phải nhận được một nguyên tố bổ
sung mạnh mẽ để tạo thành một hệ thống tiền tệ vững mạng và lâu bền.
Trích "Chương 10, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"
Đọc tiếp:
Nhận xét
Đăng nhận xét