Trở về tương lai - phần 5

Số phận của tiền bạc và vận mệnh của quốc gia

Nếu nói rằng sự xuất hiện của loại tiền tệ chung trên toàn thế giới là điều không thể tránh khỏi, vậy thì loại tiền tệ nào có thể đảm nhận một cách hữu hiệu việc phân phối tài sản một cách công bằng cho toàn bộ người dân trên toàn cầu?

Bản chất của cải là những sản phẩm mà mọi người tạo ra thông qua quá trình lao động, và tiền tệ đại diện cho "quyền đòi hỏi" đối với những thành quả lao động này. Mỗi người trong xã hội đều nên nhận được "quyền đòi hỏi" thành quả lao động của những người khác bằng cách rao bán thành quả lao động của chính mình. Khi "quyền đòi hỏi" này được chuyển nhượng, nó sẽ hoạt động như một "phương tiện thanh toán" và khi "quyền đòi hỏi" được chấp nhận một cách phổ biến, nó sẽ trở thành một "phương tiện môi giới giao dịch". Khi một người nắm giữ "quyền đòi hỏi" nhưng lại trì hoãn việc trao đổi, thì người đó đã lựa chọn công năng "cất trữ của cải". Cuối cùng, khi một người trao đổi "quyền đòi hỏi", nó vẫn giúp người đó nhận được thành quả lao động của người khác một cách nguyên vẹn, không hề suy suyển. Vậy thì loại "quyền đòi hỏi" này chính là một "thước đo giá trị" tối ưu. Bốn yếu tố này cùng nhau tạo thành sự tương ứng hoàn hảo giữa tiền bạc và của cải.

Trên thực tế, trong số bốn công năng của tiền, công năng cốt lõi chính là "cất trữ của cải". Càng là loại tiền tệ có khả năng trì hoãn việc trao đổi của cải một cách nguyên vẹn thì nó càng có thể thực hiện được tác dụng quan trọng là "thước đo giá trị". Nó sẽ càng được chào đón trên thị trường, việc lưu thông càng thêm dễ dàng. Do đó, nó trở thành một "phương tiện môi giới giao dịch" và "phương thức thanh toán" có chất lượng cao.

Cốt lõi của công năng "cất trữ của cải" là "quyền đòi hỏi" đối với của cải hiện tại phải giúp chúng ta trao đổi được thành quả lao động của người khác trong tương lai một cách "công bằng" mà không bị mất mát. Loại "công bằng" này không phải là nguyên tắc bình đẳng giá mà chúng ta thường hiểu. Trên thực tế, trong quá trình trao đổi thực tiễn, mọi người rất khó thực hiện đánh giá giá trị một cách hiệu quả. Cái gọi là trao đổi công bằng nghĩa là hai bên tham gia đánh giá tính công bằng của giao dịch theo các ưu tiên khác nhau của nhu cầu. Chính xác là từng người sẽ có những định nghĩa khác nhau về những gì "cần thiết nhất" với họ, trong trạng thái đôi bên cùng hổ trợ cho nhau thì việc giao dịch mới có thể thực hiện được.

Công năng "cất trữ của cải" do tồn tại sự khác biệt về thời gian giữa việc tiến hành trao đổi thành quả lao động hiện tại và thành quả lao động trong tương lai, thế nên việc "dự kiến" đã trở thành một phần quan trọng của tiền tệ. Xét theo lịch sử, các loại tiền tệ nguyên thủy đại diện cho một "quyền đòi hỏi" mà không có sự "dự kiến" nào, tất cả các giao dịch phải thực hiện bằng thành quả lao động đã hoàn thành. Không có quá nhiều sản phẩm trong xã hội để trao đổi trong tương lai, công năng "cất trữ của cải" cũng không mấy rõ ràng. Cùng với sự phát triển của năng suất, xã hội bắt đầu tồn tại của cải dư thừa và có thể được sử dụng trong tương lai, tiếp theo là sự xuất hiện của kim tiền và lãi suất. Lãi suất như một sự "dự kiến" rằng thành quả lao động sẽ thặng dư nhiều hơn trong tương lai, dó đó cấu thành sự cung ứng tiền tệ theo kiểu "thực tế + dự kiến".

Khi giao dịch hàng hải bắt đầu phát triển, sự xuất hiện của hối phiếu đã đẩy thành phần "dự kiến" của tiền tệ lên một tầm cao mới. Nếu nói rằng trong nền kinh tế tự cung tự cấp, lãi suất thể hiện sự "dự kiến" hợp lý đối với quá trình thu hoạch nông nghiệp, vậy thì hối phiếu sẽ đưa "dự kiến" về tiền tệ phát triển thành một "dự kiến" hợp lý đối với thương mại mậu dịch.

Trong kỷ nguyên của một cuộc cách mạng công nghiệp, ngành công nghiệp ngân hàng đã xuất hiện chế độ "dự trữ một phần vàng". Trên thực tế điều này sẽ đưa tính năng "dự kiến" của tiền tệ phát triển thành nền tàng của việc mở rộng quy mô lớn của sản xuất công nghiệp.

Sự ra đời của thời đại thông tin làm xuất hiện một số lượng lớn các công cụ tài chính phái sinh, biến của cải trong thế giới ảo thành nguồn cung tiền trong thế giới thực, từ đó khuếch đại vô hạn tính năng "dự kiến" của tiền tệ trở nên không bền vững và có tính hủy diệt, cuối cùng gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính.

Bản thân tính năng "dự kiến" của tiền tệ đều hợp lý, nhưng một khi trở nên thái quá, nó sẽ dẫn đến mâu thuẫn rằng những dự kiến trong quá khứ không thể được đáp ứng trong thực tế.

Nếu yếu tố cốt lõi của "cất trữ của cải" bao gồm "thành quả lao động thực tế + thành quả lao động dự kiến", vậy thì "thành quả lao động thực tế" đã thực hiện thuộc tính hàng hóa của tiền. Trong khi đó, "thành quả lao động dự kiến" sẽ phản ánh thuộc tính tín dụng của tiền. Việc xóa bỏ hoàn toàn thuộc tính hàng hóa của tiền sẽ dẫn đến sự rối loạn chức năng "cất trữ của cải". Bất kỳ loại tiền tệ nào trong lịch sử, một khi bị tách ra khỏi bản chất hàng hóa, cuối cùng đều không thoát khỏi hậu quả là sự mất giá.

Chức năng "cất trữ của cải" của tiền tệ không chỉ quyết định khả năng tự duy trì nội sinh của tiền, mà còn thể hiện khả năng chấp nhận ngoại tại của tiền, tức là lĩnh vực lưu thông tiền tệ.

Sự hưng thịnh và suy vong của các nền văn minh lớn trong lịch sử về bản chất là sự phản ánh toàn diện, hiệu quả việc phân bổ tài nguyên thiên nhiên và khả năng tích hợp các nguồn lực xã hội dưới sự kiểm soát của các nền văn minh đó, trong khi sự vững bền hay yếu kém của tiền tệ lại là sự thể hiện ngoại tại của hai khả năng kiểm soát này. Quá trình trỗi dậy của một nền văn minh hùng mạnh, chắc chắn sẽ đi kèm với sự xuất hiện của một loại tiền tệ mạnh mẽ và sự lưu thông được mở rộng không ngừng. Loại tiền tệ mạnh mẽ đó sẽ xây dựng một hệ thống xã hội vững chắc thông qua sự ổn định và tin cậy của nó, từ đó hình thành nên một khế ước vững chắc có thể bảo vệ lợi ích đa phương. Dưới sự dẫn dắt của một hệ thống tiền tệ mạnh mẽ, xã hội vận hành trong quỹ đạo của một hệ thống "pháp lý tiền tệ". Ngược lại, bước ngoặt chuyển sang giai đoạn suy vong của một nền văn minh chủ yếu được phản ánh trong thực tế bằng năng lực tạo ra của cải không thể đáp ứng chi tiêu ngày càng tăng mạnh. Vấn đề thâm hụt phát tán sẽ là mồi lửa dẫn đến hiện tượng mất giá tiền tệ và lạm phát ngày càng khủng khiếp. Ngược lại, tiền tệ không ngừng mất giá sẽ áp chế động lực sáng tạo của cải trong xã hội, dẫn đến sự suy giảm lưu thông tiền tệ, làm suy yếu năng lực cũng như hiệu suất của việc tích hợp và phân bổ nguồn lực xã hội, từ đó đẩy nhanh sự suy thoái của các vấn đề tài chính. Đồng thời, tiền tệ mất giá sẽ làm suy yếu mối quan hệ khế ước lợi ích chung được hình thành bởi tất cả tầng lớp trong xã hội, và hệ thống "pháp lý tiền tệ" sẽ bị thay thế bằng hệ thống pháp lý do con người quyết định. Kết quả sẽ gây ra sự phân tán tâm lý xã hội, dẫn đến nền tảng đạo đức suy đồi, cuối cùng sẽ dẫn đến sự sụp đổ của quốc gia và sự suy tàn của nền văn minh.

Lịch sử về sự hưng vong của La Mã cổ đại đã phản ánh đầy đủ qua sự thịnh suy của hệ thống tiền tệ. Trong thời kỳ chấp chính của Caesar, chính ông đã thiết lập hệ thống tiền tệ vàng bạc mạnh mẽ của La Mã cổ đại. Cùng với quân đội hùng mạnh, tiền tệ La Mã cũng theo đà mở rộng đến khu vực rộng lớn ở Địa Trung Hải. Ngược lại, sự lưu thông tiền tệ rộng lớn cũng củng cố thêm khả năng tích hợp tài nguyên của Đế chế La Mã đối với các khu vực xung quanh, từ đó tăng cường thêm sức mạnh của đế chế. Trong thời hoàng kim kéo dài hàng thế kỷ của mình, nền kinh tế của Đế chế La Mã hết sức thịnh vượng, giá cả ổn định, mức thuế ôn hòa, thương mại phát triển và lãi suất cho vay thương mại duy trì ở mức bình thường từ 4% đến 6% - mức thấp nhất trong toàn bộ thời đại của Đế chế La Mã.

Kể từ thời đại của Hoàng đế La Mã Nero (năm 54), khi ngân sách của quốc gia ngày càng căng thẳng và chi tiêu ngày càng trở nên đắt đỏ, Hoàng đế Nero bắt đầu bù đắp thâm hụt tài chính bằng một loại tiền tệ mất giá. Từ năm 54 đến 68 CN, hàm lượng bạc của đồng bạc La Mã giảm từ 100% xuống còn 90%, đến năm 117 giảm xuống 85%, năm 180 là 75%. Trải qua hai đời hoàng đế, đến năm 211, hàm lượng bạc của đồng bạc La Mã chỉ còn 50%. Chu kỳ mất giá dần dần của tiền tệ kéo dài hơn 150 năm kể từ thời Nero, và giai đoạn này cũng là bước ngoặt đánh dấu sự lụi tàn của Đế chế La Mã. Cơn ác mộng lạm phát nhanh chóng bước vào thời kỳ tăng tốc suy thoái. Từ năm 260 TCN đến năm 268 CN, hàm lượng bạc của đồng bạc La Mã nhanh chóng giảm xuống chỉ còn 4%. Thời điểm này, Đế chế La Mã đã rơi vào tình cảnh khốn cùng về kinh tế. Trong nước, các cuộc nổi loạn liên tiếp nổ ra. Ở ngoài nước thì chiến tranh liên miên. Do giá trị tiền tệ cao nhưng hàm lượng bạc lại cực kỳ thấp, dẫn đến vật giá tăng vọt, thu thuế nặng nề, cuối cùng khiến cho tướng lĩnh làm phản, Hoàng đế Aurelianus bị ám sát vào năm 275 CN.

Người kế vị của ông ta, hoàng đế Dioclett, muốn học theo Caesar và Augustus, cố gắng chấn hưng lại tiền tệ La Mã. Để khắc chế lạm phát, Dioclett thậm chí còn tuyền bố rằng sẽ phát hành lại toàn bộ số lượng tiền bạc với giá trị thực tế. Nhưng ông đã phạm sai lầm ở chỗ: yêu cầu loại tiền mới này phải có giá trị "tương đương" với loại tiền cũ đã bị mất giá nghiêm trọng. Do đó, loại tiền mới của ông đã nhanh chóng bị đầu cơ tích trữ và mất khả năng lưu thông. Trong cơn tuyệt vọng, cuộc chiến khắc chế lạm phát giờ đành phải bắt đầu từ khâu kiểm soát giá cả, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của "sắc lệnh vật giá năm 301 CN" nổi tiếng trong lịch sử của La Mã, quy định mức giá cao nhất của hàng ngàn loại hàng hóa và dịch vụ, mức giá này sẽ căn cứ theo chất lượng của từng loại hàng hóa và dịch vụ. Do lãi suất tiếp tục tăng vọt, luật pháp đã giới hạn lãi suất ở mức 6% đến 12%. Mức cao thấp của lãi suất được quyết định bởi mức độ rủi ro. Sự thiếu hụt một số sản phẩm nhất định đã dẫn đến lệnh cấm xuất khẩu, chẳng hạn như các loại "vật tư chiến lược" gồm ngũ cốc, sắt, đồng xanh, vũ khí, thiết bị quân sự và ngựa, v.v… sự kiểm soát này đã liên tục mở rộng sang phương diện chế độ và giai cấp. Hoàng đế Constantine hạ lệnh yêu cầu con trai của mỗi người lính phải tiếp tục trở thành binh lính, trừ khi họ không đạt tiêu chuẩn để tòng quân. Tương tự như vậy, những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp bị buộc phải làm nông mãi mãi, từ đời này qua đời khác. Xu hướng này sau đó đã được mở rộng cho tất cả các ngành nghề được coi là "không thể thiếu" hoặc "không người kế tục". Hậu quả của việc kiểm soát giá cả là những người tạo ra của cải sẽ không thể thu được lợi nhuận trong một hệ thống giá cả như vậy, vì vậy một số lượng lớn hàng hóa được chuyển sang thị trường chợ đen. Để ứng phó với tình trạng này, Hoàng đế La Mã đã hạ lệnh trấn áp, một cách tàn khốc việc buôn bán ở chợ đen. Cuộc đàn áp cuối cùng đã đem lại hiệu quả, nhưng cái giá phải trả là những người tạo ra của cải đã nhất quyết ngừng sáng tạo, thế là nền kinh tế của Đế chế La Mã rơi vào tình cảnh tuyệt vọng. Tại thời điểm này, hệ thống tiền tệ của Đế chế La Mã đã hoàn toàn sụp đổ, và chính phủ phải ngừng thu thuế bằng tiền và trực tiếp đánh thuế các sản phẩm và dịch vụ. Đế chế La Mã hùng mạnh đã rệu rã đến mức phải dùng hàng hòa để đổi lấy hàng hóa.

Vào khoảng năm 350 CN, giá trị của đồng bạc La Mã chỉ bằng 1/30 triệu so với thời đại Augustus và Đế chế Tây La Mã thần thánh cuối cùng đã đi đến thời khắc sụp đổ.

Trái ngược với điều này, hoàng đế Constantine đã xây dựng lại một đơn vị tiền tệ mới ở Đông La Mã. Đó là một cơ chế tiền tệ mạnh mẽ mới dựa trên vàng nguyên chất (Solidus), nó trở thành một sự bảo đảm quan trọng để Đế quốc Byzantine tồn tại hơn một nghìn năm. Độ tin cậy của nó tốt đến mức nó có thể được sử dụng ở các nước thù địch lân cận, ở châu Phi và Tây Âu xa xôi. Một số nhà sử học tin rằng lý do khiến cho Đế chế Đông La Mã có thể tồn tại hàng ngàn năm trong tình thế khắc nghiệt, bị rất nhiều kẻ thù hùng mạnh vây quanh tứ phía là nhờ cơ cấu kinh tế và hệ thống tài chính dựa trên đồng tiền vàng. Độ tinh khiết của tiền vàng Byzantine duy trì cho đến năm 1034 CN, và từ năm 1081 bắt đầu mất giá liên tục. Một hệ thống tiền vàng mạnh mẽ với độ tinh khiết duy trì suốt 800 năm cuối cùng đã sụp đổ, kéo theo đó là vị thế trung tâm thương mại thế giới của Byzantine cùng hệ thống đạo đức luân lý và lực hướng tâm của một đế chế vĩ đại cũng theo đà lụn bại.

Sự tiếp nối xen kẽ của các loại tiền tệ mạnh và yếu không chỉ xuất hiện liên tục trong lịch sử phương Tây mà cả trong lịch sử Trung Quốc. Trong triều đại Bắc Tống, do khu vực Tứ Xuyên xảy ra tình trạng thiếu đồng, thế nên bất đắt dĩ phải đưa đồng xu sắt vào sử dụng trong các giao dịch thương mại. Tại thời điểm đó, dân chúng phải mất 20.000 đồng sắt với trọng lượng khoảng 500kg để mua một mảnh vải, phải dùng xe để vận chuyển, chi phí giao dịch rất cao, khiến cho sự phát triển kinh tế bị hạn chế nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này, một số thương nhân địa phương ở Thành Đô đã thành lập tổ chức phát hành tiền giấy đầu tiên trên thế giới. Họ đã phát hành loại tiền giấy đầu tiên trên thế giới với tên gọi "giao tử", dùng tiền sắt làm tài sản thế chấp. Năm 1024, chính quyền Bắc Tống bắt đầu phát hành tiền giấy "Quan Giao tử"; tài sản thế chấp gọi là "sao bản", thường bằng sắt. Trong 100 năm đầu tiên, lượng phát hành của "giao tử" tương đối tiết chế, nền kinh tế xã hội quả thực cũng có sự phát triển vượt bậc. Tuy nhiên đến năm 1160, tỷ lệ sao bản đã giảm xuống chỉ bằng 1/60 lượng tiền giấy lưu hành, sau đó chính quyền đã dứt khoát từ bỏ sao bản và phát hành giao tử một cách tùy tiện. Đến cuối triều đại Nam Tống, tỷ lệ lạm phát trong 150 năm đã lên tới 20 nghìn tỷ lần! Trên thực tế, hệ thống tiền tệ của triều đại Nam Tống đã sụp đổ trước tiên, sau đó mới bị đội quân Mông Cổ xâm chiếm. Sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ, sự thu hẹp của các khoản thu thuế của chính quyền, quốc gia mất khả năng huy động chiến tranh, nhà Tống thực chất bị suy bại vì sự sụp đổ của chế độ tiền giấy giao tử.

Sự kết thúc của triều đại nhà Kim cũng khá giống với nhà Tống, đó là do đồng tiền suy yếu gây ra lạm phát nghiêm trọng, cuối cùng đã hủy hoại đất nước. Nhà Kim đã phát hành tiền giấy trong hơn 70 năm, nhưng vật giá tăng tới 60 triệu lần, cuối cùng dẫn đến nhân tâm hỗn loạn, khả năng sáng tạo của cải hoàn toàn bặt tích. Hệ thống tiền tệ sụp đổ trước tiên, sau đó mới là sự suy tàn của đế chế.

Đến thời nhà Nguyên, mặc dù chính quyền đã cố gắng tiếp thu bài học về sự sụp đổ của hệ thống tiền giấy của hai nhà Tống – Kim và tiến hành cải cách rộng rãi các chính sách của mình, tạo ra hệ thống tiền tệ tương tự như ngân bản vị. Nhưng chiến tranh, nạn đối và chi tiêu quá mức không thể được khắc chế bằng phương thức tự chủ tự giác. Nhà Nguyên phát hành loại tiền tên là "bảo sao" trong hơn 20 năm, nhưng loại tiền đó nhanh chóng mất giá, chỉ bằng 1/10 giá trị ban đầu. Đến cuối triều đại nhà Nguyên, giá gạo đã tăng lên hơn 60.000 lần so với những năm đầu của triều đại. Hệ thống tiền "bảo sao" sụp đổ hoàn toàn và người dân từ chối tiền giấy của chính quyền. Trong tình trạng mất khả năng lưu thống tiền tệ, Vương triều nhà Nguyên đã không thể kiểm soát tài chính và thu thuế, quốc lực suy kiệt, và cuối cùng họ cũng bại vong vì sự sụp đổ tiền tệ.

Cuộc thử nghiệm đối với hệ thống tiền giấy của triều đại nhà Minh kéo dài 150 năm. Đến năm 1522, tiền giấy "minh bảo sao" mất giá, chỉ bằng 2/1000 giá trị ban đầu, lạm phát lan tràn khắp chốn. Vương triều nhà Minh cuối cùng buộc phải từ bỏ hệ thống tiền giấy và nối lại chế độ tiền kim loại. Từ nhà Tống đến nhà Minh, sau gần 500 năm thử nghiệm đối với chế độ tiền giấy, cuối cùng đi đến kết luận rằng: Chế độ tiền giấy với sự yếu đuối vốn có và không mang tính ràng buộc sẽ không thể duy trì ổn định trong một thời gian dài.

Bất luận là "giao tử" của nhà Tống, "bảo sao" của nhà Nguyên – Minh, hay cả loại "tiền thực dân" trong cuộc chiến giành độc lập của Mỹ - tiền xanh Lincoln và tiền Feder của Đức Quốc xã đều là loại tiền bị tách ra khỏi thuộc tính hàng hóa. Chúng có thể đóng một vai trò nào đó trong việc kích thích phát triển kinh tế trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng chỉ như một biện pháp khẩn cấp, chứ không thể sử dụng lâu dài bền vững. Bất kỳ loại tiền tệ nào đánh mất thuốc tính hàng hóa đều sẽ lặp lại vết xe đổ của lịch sử.

Kể từ khi hệ thống Bretton Woods bị giải thể vào năm 1971, đồng đô-la đã hoàn toàn tách rời khỏi vàng. Lần đầu tiên, xã hội loài người bước vào kỷ nguyên của hệ thống tiền tệ tín dụng thuần túy không có hàng hóa. Tiền đề cho sự tồn tại của tiền tệ tín dụng là người tạo ra tín dụng phải thực sự đáng tin cậy, và loại tiền tệ dựa trên điều đó sẽ trở nên có giá trị. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là do con nợ không thể tuân thủ tín dụng, do đó, đồng đô-la được phái sinh dựa trên những khoản nợ đó, chắc chắn cũng sẽ xuất hiện tình trạng giảm giá mạnh. Điểm yếu cố hữu của tiền tệ tín dụng là các khoản nợ luôn tồn tại rủi ro vỡ nợ, và loại tiền tệ rủi ro này không thể thực hiện được trọn vẹn công năng "cất trữ của cải".

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, bốn chức năng chính của tiền tệ bao gồm "cất trữ của cải", "phương tiện môi giới giao dịch", "phương thức thanh toán" và "thước đo giá trị" bắt buộc phải đồng thời phát huy tác dụng, như vậy cơ chế hoạt động của tiền tệ mới có thể ổn định và duy trì. Trong trường hợp thiếu đi công năng "cất trữ của cải" thì chế độ tiền tệ tín dụng thuần túy cuối cùng cũng sẽ mất đi công năng "thước đo giá trị". Tiền tệ tín dụng – chiếc bàn đang cõng trên lưng cả nền kinh tế thế giới chỉ mới hoạt động được 38 năm, trong tình huống chiếc bàn tiền tệ này bị thiếu đi 2 trong số 4 cái chân, nó sẽ mất cân bằng nghiêm trọng, nghiêng ngả chực chờ đổ sập. Hoa Kỳ với khoản nợ khổng lồ lên tới 57 nghìn tỷ đô-la, áp lực nợ đang tăng ở mức trung bình là 6%. Đến năm 2020, tổng số nợ sẽ chạm tới ngưỡng kinh hoàng 102 nghìn tỷ đô-la. Trong khi đó GDP tiềm năng là 3% thì cũng chỉ đạt mức 18,8 nghìn tỷ đô-la. Chỉ riêng việc trả lãi cho các khối nợ khổng lồ này cũng chiếm mất *** (chỗ *** là khoảng trống không hiển thị số liệu có thể là do lỗi in ấn - thitcaphe) tổng GDP của Hoa Kỳ, và áp lực thanh toán lãi này sẽ tiếp tục tăng nhanh đến mức tuyệt vọng. Nếu Hoa Kỳ đang chơi một trò chơi kim tiền công bằng, họ sẽ chẳng có lựa chọn thứ hai ngoại trừ tuyên bố "bảo hộ phá sản".

Đến năm 2020, thâm hụt tiềm năng của lĩnh vực bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội của chính phủ Hoa Kỳ sẽ "đóng góp" thêm 100 nghìn tỷ đô-la nợ ngầm nữa. Ngoài việc in tiền quy mô lớn để giảm bớt áp lực thanh toán nợ, Hoa Kỳ sẽ không có lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, các quốc gia trên thế giới – những người hoàn toàn thất vọng với đồng đô-la kể từ năm 2009 và đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống thoát ly khỏi nguồn vốn của Mỹ, sẽ phải đối mặt với xu hướng mất giá đồng đô-la với quy mô lớn hơn vào năm 2020. Liệu họ có thể tiếp tục chịu đựng nỗi đau đớn và sự bất lực khi nắm giữ đồng đô-la?

Nếu cuối cùng đồng đô-la sụp đổ vào năm 2020, sẽ không còn loại tiền tệ có chủ quyền nào trên thế giới đủ sức thay thế nó và chế độ tiền tệ tín dụng sẽ phải đối mặt với sự thanh lý cuối cùng. Đến lúc đó, việc "tái tiền tệ hóa" vàng sẽ là điều không thể tránh khỏi. Việc này sẽ giúp khôi phục công năng "cất trữ của cải" của tiền tệ và cân bằng lại bốn chân của chiếc bàn tiền tệ. Thế nhưng, việc chỉ có vàng trở thành trụ cột chống đỡ cho chế độ tiền tệ hiện đại sẽ tồn tại nhiều khiếm khuyết lớn. Vấn đề lớn nhất là sự gia tăng sản lượng vàng sẽ không thể theo kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới, thế nên trong quá trình củng cố công năng "cất trữ của cải", công năng "thước đo giá trị" của vàng lại bị hạn chế và không thể phát huy một cách hữu hiệu. Do đó, trong một cơ chế tiền tệ vàng hoàn chỉnh, sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế thế giới vẫn sẽ mất cân đối. Với tư cách là đơn vị tiền tệ duy nhất của thế giới trong tương lai, vàng phải nhận được một nguyên tố bổ sung mạnh mẽ để tạo thành một hệ thống tiền tệ vững mạng và lâu bền.

Trích "Chương 10, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét