Giới cầm quyền và "Đầu sỏ vô hình" - phần 11

Hiệu ứng đoàn bẩy và kiểm soát sự giàu có

Trong số các công ty cổ phần đại chúng lớn nhất được tạp chí Fortune công bố năm 1974, Exxon đã thay thế General Motors trở thành công ty công nghiệp số một. Rockefeller nắm giữ lượng cổ phiếu dầu mỏ trị giá 324 triệu đô-la, đại diện cho khoảng 2% cổ phẩn của bốn công ty dầu mỏ lớn nhất. Theo thông tin được tiết lộ trong cuộc điều tra Quốc hội năm 1966, 9 quỹ của gia tộc Rockefeller đã nắm giữ tổng cộng khoảng 3% cổ phần của các công ty trực thuộc Công ty Dầu mỏ Tiêu chuẩn. Bằng cách này, gia tộc Rockefeller nắm giữ khoảng 5% cổ phần sở hữu của bốn công ty dầu khí lớn nhất. Cùng với số lượng lớn cổ phiếu của công ty dầu mỏ được nắm giữ bởi các quỹ tín thác, ngân hàng, công ty bảo hiểm và các quỹ đại học, gia tộc Rockefeller có quyền kiểm soát trực tiếp và tuyệt đối đối với ngành dầu khí Hoa Kỳ.

Trong ngành ngân hàng, các ngân hàng do gia tộc Rockefeller kiểm soát bao gồm: Ngân hàng Quốc gia Đệ nhất và Ngân hàng Chase Manhattan. Chase Manhattan là tổ chức ngân hàng lớn thứ ba trên thế giới. Ngôi vị thứ ba này xét theo quy mô, còn thức tế nó là ngân hàng có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Chase Manhattan là sự hợp nhất của Ngân hàng Chase và Ngân hàng Manhattan nổi tiếng do gia tộc tài chính Do Thái kiểm soát. Việc sáp nhật này mang lại thành công và lợi ích thương mại lớn cho cả hai đối tác. Sau đó, ngân hàng lại tiến hành sáp nhập và trở thành JP Morgan Chase ngày nay.

Đây vẫn chưa phải là toàn bộ tài sản của Rockefeller.

Thời báo New York đã đưa tin rằng phần lớn hoạt động thương mại của Ngân hàng Chase Manhattan thực hiện thông qua các tổ chức ở nước ngoài và không có trong các báo cáo công khai.

Theo tạp chí Time năm 1975, Chase Manhattan có 28 chi nhánh ở nước ngoài và hơn 50.000 ngân hàng trực thuộc trên toàn thế giới.

Giả sử một chi nhánh ngân hàng có giá trị tài sản là 10 triệu đô-la, vậy thì Chase Manhattan có khả năng chi phối tới 500 tỷ đô-la tài sản tiềm năng. Sở hữu khả năng chi phối và tầm ảnh hưởng với quy mô như vậy, họ hoàn toàn có thể trong nháy mắt gây ra những cú sốc lớn về tiền tệ, ngoại hối và vàng trên toàn cầu, tạo ra một trạng thái hoảng loạn trên thị trường để thu lợi từ nó. Đây là một hành động "cắt lông cừu", "ngư ông đắc lợi" điển hình.

Tại phiên điều trần trong cuộc đua đến chức phó tổng thống, Nielsen tuyên bố rằng: Tôi không sở hữu bất kỳ cổ phiếu nào của Ngân hàng Chase Manhattan.

Xét về mặt kỹ thuật thì tuyên bố này thực sự hoàn hảo và chẳng ai có thể bắt bẻ, tên cá nhân ông không có trong danh sách cổ đông của Chase Manhattan. Tuy nhiên, gia tộc Rockefeller nắm giữ 623.000 cổ phiếu (tương đương 2,54%) cổ phần tại Ngân hàng Chase Manhattan, quỹ Rockefeller Brothers nắm giữ 148.000 cổ phiếu và Đại học Rockefeller nắm giữ 81.000 cổ phiếu. Gia tộc Rockefeller và các tổ chức liên quan thuộc sở hữu của Ngân hàng Chase Manhattan nắm giữ quyền kiểm soát tương đương với 4% vốn chủ sở hữu.

Năm 1974, báo cáo thường niên của Ngân hàng Chase Manhattan đã tiết lộ tổng tài sản là 4,2 tỷ đô-la và thu nhập ròng hàng năm của gia tộc Rockefeller là 170 triệu đô-la.

Sự kiểm soát và quyền sở hữu công ty của các gia tộc tài phiệt là một bí mật được bảo vệ hết sức cẩn thận. Nếu phải tiết lộ các thông tin liên quan, họ sẽ đưa ra những cái tên làm bình phong. Đương nhiên, thông tin của các tổ chức bình phong này cũng rất mơ hồ và có sự khác biệt rất lớn với thực tế, chưa kể một số tổ chức hoàn toàn không có thực. Thông tin liên quan đến người giám sát không hề phản ánh danh tính của chủ sở hữu và người thụ hưởng thực sự.

Ngoài Chase Manhattan Bank, tập đoàn Rockwell cũng kiểm soát ngân hàng lớn nhất New York – ngân hàng National City. Chủ tịch của ngân hàng – Stiegman là đối tác kinh doanh của William Rockefeller và là một trong những người quản lý của Công ty Standard Oil Trust. Hai cô con gái của ông đã kết hôn với hai con trai của William Rockefeller. Bản thân Stiegman cũng liên hôn với gia tộc Carnegie giàu có. Một mối quan hệ "thân càng thêm thân" như vậy đã giúp cho thế lực của gia tộc Rockefeller càng trở nên khổng lồ.

Ngân hàng thứ ba dưới trướng Tập đoàn Rockefeller – Ngân hàng Chemical do gia tộc Hakennesse quản lý. Edward Hakennesse là đối tác kinh doanh lâu năm của Rockefeller và là một trong những người quản lý Standard Oil Trust. Năm 1939, Edward Hakennesse là cổ đông lớn thứ hai của Standard Oil, chỉ đứng sau Rockefeller.

Ngoài hệ thống ngân hàng ra, tập đoàn Rockefeller còn gia tăng thêm quyền kiểm soát thực tế đối với các doanh nghiệp thông qua hệ thống công ty bảo hiểm. Như chúng ta đã biết, các ngân hàng thương mại là kênh chính để phát hành tín dụng ngắn hạn cho các doanh nghiệp, trong khi các công ty bảo hiểm thì cung cấp tín dụng dài hạn. Bằng cách làm chủ song song cả hệ thống ngân hàng thương mại lẫn công ty bảo hiểm, điều đó tương đương với việc sử dụng hai sợi dây để buộc chặt nguồn vốn của cải doanh nghiệp vào tay mình.

Do đó, khả năng kiểm soát tổng thể của tập đoàn Rockefeller đối với các doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể.

Tập đoàn tài chính Rockefeller và ba công ty bảo hiểm lớn của Hoa Kỳ (Bảo hiểm Metropolitan, Bảo hiểm nhân trọ Metropolitan và Bảo hiểm nhân thọ New York) hình thành nên một mối quan hệ đan xen giữa các thành viên hội đồng quản trị. Ước tính, tập đoàn Rockefeller kiểm soát 25% tài sản của 50 ngân hàng thương mại hàng đầu tại Hoa Kỳ và 30% tài sản của 50 công ty bảo hiểm hàng đầu.

Thông qua những đòn bẩy này, sự kiểm soát của Tập đoàn Rockefeller với nền kinh tế và của cải trong xã hội đã được khuếch đại một cách vô hình vô ảnh, hoàn toàn bí mật.

Năm 1974, theo báo cáo của Ủy ban Ngân hàng của Thượng viện, Tập đoàn Rockefeller nắm quyền kiểm soát 5% đối với số lượng lớn các công ty niêm yết công khai. Trên thực tế, sự kiểm soát của Tập đoàn Rockefeller với các ngân hàng và công ty gia tăng đáng kể, bao gồm 5% quyền cổ phần trực tiếp, cộng 2% quyền cổ phần khác, cộng thêm quyền cổ phần của các cấp quản lý… Các công ty như vậy bao gồm: Exxon Mobil Oil, California Standard Oil, Indiana Standard Oil, v.v…

Ngoài ba ngân hàng lớn và ba công ty bảo hiểm lớn, Tập đoàn Rockefeller cũng kiểm soát những bộ phận ủy thác của ngân hàng để đạt được sự kiểm soát cao hơn nữa đối với các doanh nghiệp. Bộ phận ủy thác ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong quyền sở hữu và quyền bỏ phiếu. Nhiều nhà đầu tư lớn sẽ lưu ký cổ phiếu của mình cho bộ phận ủy thác của ngân hàng, đồng thời họ cũng ủy thác cả các quyền biểu quyết tương ứng cho bộ phận ủy thác của ngân hàng, nghĩa là cho phép bộ phận ủy thác của ngân hàng làm đại diện để thực hiện quyền ra quyết định của họ đối với doanh nghiệp.

Có một câu nói phổ biến: Bất kỳ công ty nào cũng phải sợ bộ phận ủy thác của ngân hàng. Phần lớn Quyền quyết định khổng lồ và hết sức hệ trọng đều nằm trong tay bộ phận ủy thác của ngân hàng. Năm 1967, Tập đoàn Rockefeller có 35 tỷ đô-la tài sản ủy thác ngân hàng, chiếm 14% tổng tài sản ủy thác tại Hoa Kỳ.

Thông qua các cổ phần trực tiếp và gián tiếp ở trên, Tập đoàn Rockefeller có quyền kiểm soát mạnh mẽ và hiệu quả đối với các công ty trong tất cả các ngành công nghiệp.

Công ty quản lý đầu tư tín thác Datong là cổ đông đơn lẻ nắm nhiều cổ phiếu nhất của 21 công ty quan trọng nhất tại Hoa Kỳ. Các công ty dưới sự kiểm soát trực tiếp của Tập đoàn tài chính Rockefeller bao gồm: United Airlines, Northwest Airlines, Long Island Power, National Steel, National Airlines và 16 công ty lớn khác.

Các công ty đã được sáp nhập vào lãnh thổ của cường quốc Rockefeller thông qua quá trình thắt chặt quyền kiểm soát gồm: IBM, AT&T, Central Rail, Delta Air Lines, Motorola, Safeway, HP, v.v…

Các công ty chịu sự kiểm soát thông qua ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng và sự liên kết giữa các thành viên trong hội đồng quản trị bao gồm: DuPont, Shell, v.v…

Tập đoàn Rockefeller kiểm soát 37/100 công ty công nghiệp hàng đầu Hoa Kỳ, 9/20 công ty vận tải lớn nhất, tất cả các công ty cung cấp điện, nước và khí đốt lớn nhất, ¾ công ty bảo hiểm hàng đầu, và vô số các công ty đầu tư, cho vay và bán lẻ vừa và nhỏ.

Sự kiểm soát bao phủ nền kinh tế như vậy chắc chắn sẽ tạo ra ảnh hưởng chính trị tương ứng. Giữa các tập đoàn tài chính siêu cấp và chính phủ, giờ đã rất khó để phân biệt rõ ai là người nắm quyền quyết định chủ đạo. Hai bên đã hợp nhất thành một.

Washington Post chỉ ra rằng một khi Nielsen được bầu làm phó tổng thống, gần như mỗi khi xử lý một nghị quyết kinh tế công nào đó, ông sẽ phải cân nhắc đến những lợi ích liên quan đến tập đoàn Rockefeller, do đó sẽ tạo ra các xung đột lợi ích rõ ràng.

Ngoài ra, sự quản lý và kiểm soát lẫn nhau cũng được thực hiện giữa các quỹ tín thác chính, chẳng hạn như Quỹ Rockefeller, Quỹ Ford và Quỹ Carnegie. Quỹ Carnegie là một phần quan trọng của Quỹ Rockefeller. Các nhà điều hành chính của nó là thành viên của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Hoa Kỳ do Quỹ Rockefeller kiểm soát. Hai trong số sáu thành viên chính của Ủy ban Quản lý Tài chính là thành viên hội đồng quản trị của cơ cấu tài chính thuộc tập đoàn Rockefeller. Chủ tịch của Quỹ Ford từ năm 1953 đến năm 1965 là chủ tích của Ngân hàng Manhattan. Người kế nhiệm ông cũng là giám đốc của Ngân hàng Manhattan và từng là chủ tịch của Ngân hàng Thế giới. Nhiều người đứng đầu và Điều hành Quỹ Ford là thành viên của Hội đồng Quan hệ đối ngoại Hoa Kỳ.

Trích "Chương 8, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét