NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG SO VỚI NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC
Ngân hàng
trung ương là đỉnh cao chỉ huy chiến lược của biên giới tài chính của một quốc
gia. Bất cứ ai có thể kiểm soát ngân hàng trung ương đều có thể kiểm soát huyết
mạch kinh tế, sức sống chính trị và quân sự của cả đất nước đó. Tưởng Giới Thạch
hiểu rất rõ điều này. Khi chính quyền Nam Kinh được thành lập, việc thành lập ngân
hàng trung ương đã trở thành một quyết sách trọng đại của "đảng và nhà nước".
Vào tháng
11 năm 1928, ngân hàng trung ương của chính phủ Nam Kinh đã chính thức được
thành lập. Tưởng Giới Thạch đã đặt Tống Tử Văn vào vị trí chủ tịch đầu tiên của
ngân hàng trung ương, thay ông ta toàn quyền cai quản "túi tiền". Tuy
nhiên tại thời điểm này, Tưởng Giới Thạch và Quốc dân Đảng mới chân ướt chân
ráo đến khu vực Nam Kinh – Thượng Hải, Vũ Hán ở thượng nguồn sông Dương Tử chưa
được kiểm soát hoàn toàn, và các thế lực quân phiệt ở phía bắc vẫn chưa hoàn
toàn quy thuận, nguồn lực tài chính của chính phủ hết sức hữu hạn, trong khi đó
thì chi phí luôn vượt xa thu nhập. Ngân hàng trung ương mới thành lập đã rơi
vào cảnh "nghèo rớt mồng tơi", khoản vốn 20 triệu đồng ban đầu phải
dùng đến cả trái phiếu chính phủ.
Trên thực tế,
thiết kế ban đầu của ngân hàng trung ương của Tưởng Giới Thạch là trực tiếp cải
tổ lại Ngân hàng Trung Quốc để tín dụng và tài nguyên do Ngân hàng Trung Quốc
tích lũy trong nhiều năm có thể được sử dụng cho mục đích riêng của ông ta.
Tuy nhiên,
Ngân hàng Trung Quốc hoàn toàn không mắc mưu này.
"Thủ
quỹ" của Ngân hàng Trung Quốc tại thời điểm đó là Trương Gia Ngạo và Tưởng
Giới Thạch, Tống Tử Văn và Trương Gia Ngạo đã quen biết nhau từ giai đoạn Bắc
phạt. Trong công cuộc Bắc phạt, Tống Tử Văn đã huy động vốn từ Ngân hàng Trung
Quốc tại Hồng Kông, vay 500.000 đồng để phục vụ cho cuộc Bắc phạt và điện báo
cho các lộ quân của cuộc Bắc phạt rằng: "Khi quân ta đánh tới các vùng thì
cần chú ý duy trì và bảo vệ Ngân hàng Trung Quốc." Tống Tử Văn nói với Tưởng
Giới Thạch rằng, nhân vật thực sự nắm quyền lực của Ngân hàng Trung Quốc
là Trương Gia Ngạo, Tưởng Giới
Thạch bèn thông qua vị huynh đệ thân cận của ông ta là Hoàng Phu, nhờ Trương Gia Ngạo đưa tay
"trợ giúp".
![]() |
| Trương Gia Ngạo |
Sau đó, người được cử đi đã báo cáo lại rằng "Quân Bắc
phạt đã một mạch đánh tới Giang Tây, lúc này Tưởng Giới Thạch đã đóng quân ở
Nam Xương." Trương Gia Ngạo nghĩ rằng thời cơ ra tay đã đến, quyết định
giao "trứng" của mình cho Tưởng Giới Thạch, và gửi "sự trợ
giúp" quý giá đó thông qua Hoàng Phu. Năm 1927, Trương Gia Ngạo cũng bí mật
ra lệnh cho người quản lý chi nhánh Ngân hàng Trung Quốc ở Hán Khẩu rằng:
"Sau khi Tưởng Giới Thạch đến Vũ Hán, có thể cho ông ta vay 1 triệu đồng."
Đây quả thực là những bước đi hết sức thận trọng.
Sau khi Tưởng Giới Thạch đến Thượng Hải, việc huy động vốn
càng trở nên cấp thiết và cuối cùng ông ta hỏi vay tới 10 triệu đồng. Trương
Gia Ngạo không hề chuẩn bị tư tưởng cho một khoản vay lớn đến vậy nên đã ngay lập
tức từ chối. Nhưng ông ta cũng nhận ra rằng Tưởng Giới Thạch sẽ làm "những
việc đại sự". Trương Gia Ngạo không muốn chi ra một khoản tiền khổng lồ
như vậy, thế nên Tưởng Giới Thạch và Tống Tử Văn đã nhiều lần mời ông ta đến
Nam Kinh để thảo luận về vấn đề này, thế nhưng Trương Gia Ngạo cứ ở lỳ tại Thượng
Hải, không chịu ra mặt.
Lúc này Tưởng Giới Thạch đã bừng bừng lửa giận và quyết định lật đổ cơ nghiệp của Ngân hàng Trung Quốc. "Ngân hàng Trung Quốc trước đây đã từng cho Ngô Bối Phu vay 5 triệu đồng, cho Trương Tông Xương vay vài triệu đồng, vậy mà lúc quân đội ta rơi vào cảnh thiếu lương hưởng trầm trọng như hiện nay lại dám bày trò khó dễ như vậy, có thể thấy dã tâm của ngân hàng này là như thế nào." Tưởng Giới Thạch hạ nghiêm lệnh:
- Ngân hàng Trung Quốc phải mua 10 triệu đồng tín phiếu Kho bạc;
- Nếu không được thực hiện, người phụ trách Ngân hàng Trung Quốc sẽ bị truy nã;
- Nếu vẫn không tuân thủ, Ngân hàng Trung Quốc tại các chi nhánh địa phương sẽ bị tịch thu và đổi thành Ngân hàng Trung ương.
Cuối cùng,
Trần Quang Phủ, một ông lớn khác trong lĩnh vực tài chính của Thượng Hải, đã tới
khuyên nhủ Tưởng Giới Thạch: "Chính phủ không chỉ huy động vốn để giải quyết
vấn đề lương hưởng mà còn phải cân nhắc đến vấn đề lưu thông tài chính của toàn
bộ thị trường. Nếu ngài xử trí quá hấp tấp, nhỡ đâu thị trường tài chính xảy ra
vấn đề thì chắc chắn sẽ chẳng còn cửa để huy động vốn, và như vậy thì tiền đồ
quân sự sẽ bị ảnh hưởng cực lớn." Có nghĩa là: Sư huynh à, ngài không thể
gây sự với Ngân hàng Trung Quốc bây giờ! Tốt nhất là từ từ hẵng tính!
Rốt cuộc Ngân
hàng Trung Quốc "có máu mặt" đến thế nào mà dám coi khinh chính phủ
như vậy?
Tiền thân của
Ngân hàng Trung Quốc là ngân hàng trung ương của Đế quốc Thanh do Thịnh Tuyên
Hoài thành lập – Ngân hàng Đại Thanh. Bản thân Thịnh Tuyên Hoài là một nhân vật
"thân Nhật" điển hình và có "mối quan hệ sâu sắc" với Nhật
Bản thông qua các thương vụ như Hán Trì Bình. Vì căn nguyên lịch sử đó, ông ta
luôn nằm trong vòng kiểm soát của phe Bắc Dương, và vị chủ tịch kế nhiệm ông ta
cũng là một nhân vật thân Nhật khác. Trương Gia Ngạo, "đại thủ quỹ" của
Ngân hàng Trung Quốc, tốt nghiệp Đại học Keio tại Nhật Bản. Ông ta say mê văn
hóa Nhật Bản, sùng tín sức mạnh của Nhật Bản, thậm chí thường ngày còn mặc
kimono và nói tiếng Nhật trôi chảy, hoàn toàn mang tác phong người Đông Dương
(vùng biển phía Đông Trung Quốc, ám chỉ Nhật Bản). Sau đó, Tống tử Văn từ chức
chủ tịch ngân hàng trung ương và thành lập Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và cố
gắng lôi kéo các tập đoàn tài chính của Anh-Mỹ góp vốn, bị phía Nhật Bản phản đối
kịch liệt, còn Ngân hàng Trung Quốc thì luôn thể hiện thái độ chống lại Ngân
hàng Xây Dựng Trung Quốc của Tống Tử Văn, có thể thấy tầm ảnh hưởng của thế lực
Nhật Bản đối với Ngân hàng Trung Quốc như thế nào. Ngoài sự hỗ trợ phía sau của
Nhật Bản, hậu thuẫn thế lực của gia tộc nhà họ Tập – đại cổ đông của Ngân hàng
Trung Quốc là Ngân hàng Hội Phong, và cũng không được phép xem thường Đế quốc
Anh, một thế lực khủng khiếp khác cũng đang ẩn hiện phía sau, trong khi đó
Anh-Nhật là một liên minh chống Nga rất đỗi quan trọng.
Vào thời điểm
Thịnh Tuyên Hoài đang lên kế hoạch thành lập Ngân hàng Hộ Bộ, Tập Chính Phủ -
người đứng đầu phe Động Đình Sơn, đã dựa vào kinh nghiệm cực kỳ phong phú sau
bao năm nắm độc quyền vị trí mại bản cho 15 ngân hàng nước ngoài của gia tộc
nhà họ Tập để đưa ra những "chỉ đạo sâu sát" với Ngân hàng Hộ Bộ của
Thịnh Tuyên Hoài. Thịnh Tuyên Hoài đã có mối giao tình hàng chục năm với gia tộc
nhà họ Tập, họ đã từng bắt tay liên thu để hạ bệ Hồ Tuyết Nham. Trụ sở chính của
Ngân hàng Hộ Bộ được đặt tại Bắc Kinh và một nửa số cổ phần vốn chủ sở hữu được
đăng ký bởi Bộ Hộ. Nửa còn lại là tư nhân và là một ngân hàng kết hợp giữa
chính phủ và thương nhân. Bốn người con trai của Tập Chính Phủ đã lần lượt đầu
tư vào ngân hàng này.
Sau đó,
Ngân hàng Hộ Bộ được đổi tên thành Ngân hàng Đại Thanh, Tập Dụ Quang, con Tập
Chính Phủ, được bổ nhiệm chức vụ "hiệp lý" của Ngân hàng Đại Thanh
chi nhánh Thượng Hại, con trai thứ hai, Tập Dụ Côn là giám đốc của chi nhánh
Doanh Khẩu, người con trai thứ sau của Tập Chính Phủ là Tập Dụ Quế sau đó giữ
chức giám đốc chi nhánh Hán Khẩu, sau đó đảm nhận vai trò "phó mại bản"
cho Ngân hàng Hội Phong suốt 10 năm tới.
Sau Cách mạng
Tân Hợi, Ngân hàng Đại Thanh được cải tổ thành Ngân hàng Trung Quốc. Tại thời
điểm này, gia tộc nhà họ Tập trở thành một trong những "chủ sở hữu" đằng
sau Ngân hàng Trung Quốc và "chủ sở hữu" đằng sau gia tộc nhà họ Tập
lại chính là Ngân hàng Hội Phong. Ngoài vốn của Anh, mối quan hệ giữa gia tộc
nhà họ Tập và ngân hàng Nhật Bản cũng không hề tầm thường. Người con trai thứ
sáu của Tập Chính Phủ là Tập Dụ Quế đã phụ trách vai trò mại bản của Ngân hàng
Sumitomo – thế lực tài phiệt lớn thứ ba của Nhật Bản vào năm 1916, tại vị suốt
15 năm, con rể của gia tộc nhà họ Tập là Diệp Minh Trai cũng đảm nhiệm vai trò
mại bản 21 năm cho Ngân hàng Yokohama Specie của Nhật Bản.
Gia tộc nhà
họ Tập không chỉ độc chiếm vị trí mại bản của Ngân hàng Hội Phong suốt ba thế hệ,
họ còn sử dụng ảnh hưởng của mình để sắp xếp những thành viên khác của gia tộc
nhà họ Tập vào hệ thống ngân hàng nước ngoài. Cho dù đó là những ngân hàng của
Anh như Mackellar, Youli hay Defeng, hay là các ngân hàng của Pháp như Banque
de L'Indochine, Ngân hàng Công thương Trung-Pháp, ngân hàng của Đức như Ngân
hàng Đức-Hoa, Ngân hàng Russo-Chinese của Nga, Ngân hàng Generale Belgian có trụ
sở tại Bỉ, hay là hệ thống các ngân hàng Mỹ như Citibank, Express, Ngân hàng
Thương mại Mỹ, hoặc là Ngân hàng Yokohama Specie và Ngân hàng Sumitomo của Nhật
Bản… đều là "thiên hạ" của gia tộc nhà họ Tập. Theo thống kê chưa đầy
đủ, trong suốt 75 năm từ 1874 đến 1949, đã có hơn 20 ngân hàng nước ngoài liên
tiếp được mở tại Thượng Hải và gia tộc nhà họ Tập đã độc chiếm được vai trò mại
bản của 15 ngân hàng trong số đó. Ngoài ra, gia tộc nhà họ Tập cũng là một cổ
đông quan trọng của các ngân hàng thuộc quyền kiểm soát của giới tài phiệt
Giang-Chiết, và hệ thống tiền trang, phiếu hiệu của Thượng Hải cũng nhất nhất
nghe theo sự chỉ đạo của gia tộc này.
![]() |
| Ngân phiếu của Ngân hàng Đại Thanh |
Mạng lưới quan hệ và tầm ảnh hưởng của gia tộc nhà họ Tập trong hệ thống ngân hàng của Trung Quốc có thể nói là độc nhất vô nhị trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Không ngoa khi nói rằng gia tộc nhà họ Tập là trụ cột chính của hệ thống tài phiệt Giang-Chiết, và đằng sau gia tộc nhà họ Tập là thế lực mạnh mẽ của các chủ ngân hàng quốc tế.
Vị thế của
gia tộc nhà họ Tập trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc không chỉ là "chủ sở
hữu", mà còn trực tiếp kiểm soát các bộ phận kinh doanh quan trọng của
Ngân hàng Trung Quốc, đặc biệt là bộ phận giao dịch ngoại hối.
Vào cuối
triều đại nhà Thanh và kỷ nguyên của chính phủ Bắc Dương, Ngân hàng Trung Quốc
luôn tương đương với vị thế của một ngân hàng trung ương, với nguồn vốn dân tộc
hoàn toàn và độc lập. Trong thời đại mà Anh, Nhật Bản và các cường quốc khác từ
lâu đã kiểm soát chặt chẽ biên giới tài chính của Trung Quốc, liệu có ngân hàng
nào đủ khả năng trở thành một ngân hàng trung ương độc lập?
Tưởng Giới
Thạch muốn ra tay "động thủ" với Ngân hàng Trung Quốc, đó chẳng phải
là nằm mơ giữa ban ngày sao? Tưởng Giới Thạch vừa không đủ thực lực, lại chẳng
đủ can đảm để thách thức các thế lực cường quốc, xét cho cùng thì "đánh
chó phải ngó mặt chủ". Cuối cùng, ông ta phải từ bỏ ý tưởng ban đầu của
mình là cải tổ lại Ngân hàng Trung Quốc và chuyển sang phương án B, tự thành lập
ngân hàng trung ương.
Với lời
khuyên của Trần Quang Phủ, Tưởng Giới Thạch đã hiểu rõ hoàn cảnh của mình, và
ông ta bất đắc dĩ phải nhờ cậy Ngân hàng Trung Quốc.
Trong thời
gian này, vừa hay mẹ của Trương Gia Ngạo qua đời. Cần phải biết rằng trước đó, Tưởng
Giới Thạch và Trương Gia Ngạo chưa bao giờ gặp nhau, nhưng Tưởng Giới Thạch đã
từng lăn lộn trong giới tài chính Thượng Hải. Ngoài ra ông ta cũng là người gốc
Giang-Chiết, cũng có một số mối quan hệ giao tình với giới tài phiệt Giang-Chiết,
thế nên Tưởng Giới Thạch quyết định thân chinh tới viếng.
Vào ngày tổ
chức lễ viếng, Tưởng Giới Thạch đột nhiên xuất hiện tại linh đường, lặng lẽ bước
bào cửa rồi cúi đầu bái tạ, khiến cho quan khách ai nấy đều sửng sốt. Hành động
này xem ra cũng đem lại thể diện rất lớn cho Trương Gia Ngạo. Cảnh tượng đó khiến
Trương Gia Ngạo hết sức cảm động, không ngờ rằng Tưởng Giới Thạch lại coi trọng
tình "đồng hương bản quán" đến vậy. Thế nhưng ông ta không biết được
rằng, đối với Tưởng Giới Thạch – một người đã từng lăn lộn ở Bến Thượng Hải,
thì chiêu này chẳng có gì khó cả. Lúc này vị thế của Tưởng Giới Thạch vẫn chưa
đủ vững chãi, vẫn cần lôi kéo nhân tâm và huy động tiền bạc, đó chẳng qua chỉ
là một hành động theo kiểu "muốn qua sông thì phải lụy đò" mà thôi.
Vào thời điểm
đó, Chính phủ Quốc dân Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch vừa mới được thành lập, rất
cần giành được sự thừa nhận của các cường quốc, và việc này chỉ có thể nhờ cậy Trương
Gia Ngạo. Trương Gia Ngạo thường xuyên gặp gỡ các lãnh sự Nhật Bản, Anh và Mỹ tại
Thượng Hải để thiết lập cầu nối ngoại giao cho chính quyền Nam Kinh. Trong thời
gian này, ngay các cuộc đàm phán ngoại giao giữa Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của
Chính phủ Quốc dân Nam Kinh – Hoàng Phu và Anh và Mỹ cùng được tổ chức tại nhà
riêng của Trương Gia Ngạo!
Còn về vấn
đề "tạm ứng", cuối cùng Tưởng Giới Thạch phải phái những bề tôi thân
tín của mình là Trương Tĩnh Giang và Trần Quang Phủ đi vận động hành lang nhằm
thuyết phục rằng chính phủ sắp phát hành nợ công và thực sự có khả năng trả nợ.
Trương Gia Ngạo cân nhắc kỹ lưỡng, cảm thấy rằng Tưởng Giới Thạch hẳn sắp làm
nên đại sự, biết đâu sau này có thể lợi dụng được, nên cuối cùng ông ta đồng ý
khoản kinh phí lên tới 10 triệu nhân dân tệ do Ngân hàng Trung Quốc tạm ứng
theo đợt. Khoản tiền đó sẽ do giới tài phiệt Giang-Chiết đứng ra kiểm soát, 5
triệu nhân dân tệ đã được giao trước cho Tưởng Giới Thạch thông qua Hội Liên hợp
Thương nghiệp Thượng Hải.
Trước sự kiện
"12 tháng 4", Ngân hàng Trung Quốc đã cung cấp những khoản tài trợ lớn
cho Bắc phạt, có thể thấy Ngân hàng Trung Quốc đã lập công đầu cho công cuộc Bắc
phạt. Trong khi đó chi nhánh Ngân hàng Trung Quốc tại Hán Khẩu cũng đã trao cho
Chính phủ Quốc dân Vũ Hán một khoản tiền khổng lồ lên tới 16,5 triệu nhân dân tệ.
Có thể thấy rằng giới tài phiệt không hề đặt cược vào một phe duy nhất, trứng của
họ không thể đặt trong một giỏ duy nhất! Trong sự kiện "Ninh-Hán hợp
lưu" sau này, Ngân hàng Trung Quốc cũng đóng một vai trò tương tự như vậy.
Trên thực tế,
Trương Gia Ngạo cũng chỉ là một nhân vật "chạy vặt" mà thôi, kẻ dựa
vào cây lớn thực ra không phải là một cây lớn. Thứ mà Tưởng Giới Thạch tìm kiếm
không phải là ông ta, mà là những thế lực cường quốc phía sau. Ngoài ra, đứng
sau giới tài phiệt Giang-Chiết – những kẻ đã ép Tưởng Giới Thạch rời khỏi chính
trường, cũng là nguồn năng lượng từ các cường quốc.
Tuy nhiên,
cũng giống như việc Hitler mượn sức mạnh của các chủ ngân hàng quốc tế để lên nắm
quyền, nhưng sau khi nắm quyền kiểm soát, ông ta bắt đầu từng bước tước đoạt
quyền lực của Ngân hàng Trung ương Đức – vốn nằm dưới sự kiểm soát của các chủ
ngân hàng quốc tế, Tưởng Giới Thạch thành lập ngân hàng trung ương từ tháng 11
năm 1928, mãi cho đến năm 1935, tức là mất hơn 6 năm ông ta mới có thể đoạt lại
quyền kiểm soát Ngân hàng Trung Quốc, chính thức thiết lập nên quyền uy của
Ngân hàng Trung ương của Chính phủ Nam Kinh. Bắt đầu từ năm 1933, Hitler cũng
phải mất 6 năm mới có thể giành lại quyền lực của ngân hàng trung ương.


Nhận xét
Đăng nhận xét