KHỦNG HOẢNG BẠC: CUỘC CHIẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẦU TIÊN GIỮA TRUNG VÀ MỸ
Khi các hệ
thống vốn khác nhau trong nước đang trong tình thế cạnh tranh hết sức phức tạp,
môi trường quốc tế cũng đang trải qua những thay đổi lớn. Kể từ sau cuộc Đại khủng
hoảng càn quét thế giới vào những năm 30 của thế kỷ XX, các nước tư bản lớn như
Anh, Canada, Nhật Bản và Áo liên tiếp từ bỏ hệ thống bản vị vàng và bắt đầu thực
hiện chiến lược phá giá tiền tệ để nổ lực mở cửa thị trường của các quốc gia
khác bằng sự mất giá của tỷ giá hối đoái và tìm lối ra cho nền kinh tế của
chính họ.
![]() |
| Franklin D. Roosevelt |
Năm 1933, Tổng thống Roosevelt của Mỹ bắt đầu thực hiện "Chính sách mới" để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, tăng chi tiêu của chính phủ và kích thích tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, để chống lại tình trạng giảm phát và vật giá lao dốc, "Đạo luật mua bạc" đã được thông qua, ủy quyền cho Kho bạc Mỹ tiến hành mua bạc ở thị trường trong và ngoài nước cho đến khi giá bạc đạt 1,29 đô-la mỗi ounce. Hoặc khi giá trị tổng lượng bạc của Bộ tài chính đạt bằng 1/3 lượng dự trữ vàng, sử dụng làm nguồn dự trữ Kho bạc quốc gia. Chính sách này cố gắng đạt được hai mục tiêu chiến lược: thứ nhất, việc gia tằng dự trữ đương nhiên sẽ mở rộng nền tảng cung ứng tiền tệ, họ hi vọng sẽ giảm bớt được tình trạng giảm phát bằng cách mở rộng cung ứng tiền tệ. Thứ hai, Mỹ hi vọng sẽ đẩy giá bạc tằng cao thông qua hành động mua bạc trên thị trường, gia tằng sức mua của bản vị bạc quốc gia, trên thực tế chính là ép Trung Quốc và các quốc gia sử dụng bản vị bạc khác phải tăng giá tiền tệ, để họ tiện bề bán phá giá những sản phẩm dư thừa của mình.
Lịch sử có
một sự tương đồng đáng ngạc nhiên! "Đạo luật mua bạc" được đề xướng bởi
Roosevelt năm 1933, và nỗ lực của Obama để buộc đồng nhân dân tệ tằng giá năm
2010, có thể nói là hoàn toàn nhất quán!
Rõ ràng,
hai mục tiêu chính của Roosevelt khó có thể thành công. Vấn đề cốt lõi của cuộc
Đại Khủng hoảng Mỹ là quy mô nợ trên GDP quá cao. Năm 1929, tỉ lệ này lên tới
300%! Dưới bối cảnh nợ công cao như vậy, tốc độ mở rộng của ngành công nghiệp Mỹ
nhanh hơn nhiều so với mức độ gia tằng sức mua. Do đó, khả năng tiêu thụ trong
nước không đủ, gây ra tình trạng thặng dư nghiêm trọng các sản phẩm công nghiệp
và vỡ nợ quy mô lớn đối với các doanh nghiệp, điều này đã dẫn đến sự sụp đổ của
thị trường chứng khoán, các khoản nợ xấu và phá sản quy mô lớn đối với ngành
ngân hàng. Khủng hoảng vỡ nợ buộc các ngân hàng phải thắt chặt tín dụng, do đó
lại có thêm nhiều doanh nghiệp bị đóng cửa, một số lượng lớn công nhân thất
nghiệp, tiêu dùng trong nước giảm mạnh. Vấn đề dư thừa sản phẩm công nghiệp thậm
chí còn nghiêm trọng hơn, từ đó một vòng tuần hoàn ác tính đã ra đời, đó là
tình trạng lạm phát, vật giá lao dốc, thất nghiệp quy mô lớn và khủng hoảng
kinh tế. Điều này giống hệt như cơn sóng thần tài chính Mỹ năm 2008! Năm 2008,
tỉ lệ tổng nợ của Mỹ trên GDP lên tới gần 400% và cách tiếp cận cuộc khủng hoảng
của Obama cũng rất giống với Roosevelt.
Không bắt đầu
bằng cách giảm quy mô nợ, mà chỉ tìm cách gia tăng tiền tệ và tín dụng thì chỉ
còn đường chết mà thôi! Chính sách mới kéo dài tám năm của Roosevelt đã không
giải quyết được cuộc Đại Suy thoái, và vận may của Obama thậm chí còn tồi tệ
hơn.
Nếu mấu chốt
của cuộc khủng hoảng là quy mô khoản nợ quá lớn, vậy thì gia tằng phát hành tiền
tệ liệu có ích hay không? Câu trả lời đường nhiên là không. Việc gia tằng dự trữ
tiền tệ không thể giải quyết được vấn đề nan giải rằng sẽ chẳng ai sẵn sàng hoặc
có thể vay tiền dưới bối cảnh nợ cao, trong khi đó tín dụng phải dựa vào việc
cho vay mới có thể chảy vào nên kinh tế. Mục đích đầu tiên của Roosevelt đơn giản
là không thể thực hiện.
Đẩy giá bạc
tăng cao và buộc Trung Quốc tăng giá tiền tệ liệu có thể giải quyết được vấn đề
xuất khẩu của Mỹ? Giá bạc tăng ở Mỹ chắc sẽ dẫn đến tình trạng kiếm lời chênh lệch
giá đối với các loại tiền kim loại đang bị chảy ra nước ngoài của Trung Quốc, sẽ
làm lung lay nghiêm trọng bản vị tiền tệ của Trung Quốc. Kết quả sẽ dẫn đến suy
thoái kinh tế nghiêm trọng ở nước này, tình trạng suy giảm năng lực tiêu thụ và
nhập khẩu lao dốc là không thể tránh khỏi.
Tác dụng mà
"Đạo luật mua bạc" của Roosevelt có thể phát huy chắc chắn sẽ trái
ngược với những gì mà ông tưởng tượng. Chẳng có cách nào để giải thích được rốt
cuộc cách làm "vừa hại người, vừa thiệt mình" của Roosevelt bắt nguồn
từ đâu. Trên thực tế, những điều mà giới tinh anh cầm quyền ở Mỹ đang cân nhắc
là một vấn đề chiến lược hoàn toàn ở cấp độ cao hơn! Đó chính là làm thế nào để
đồng đô-la có thể thay thế đồng bảng Anh và trở thành bá chủ mới của tiền tệ thế
giới!
Khi Tưởng
Giới Thạch hoàn thành công cuộc tập trung quyền lực tài chính, thống nhất tiền
tệ và thiết lập một hệ thống bản vị bạc, bá chủ tiền tệ hiện tại – Vương quốc
Anh, bá chủ tiền tệ tiềm năng – Mỹ, chưa kể tới thế lực đang nhăm nhe thèm muốn
là Nhật Bản, đều đồng thời nảy sinh một cảm giác lo lắng tột độ. Nếu phó mặc
cho Tưởng Giới Thạch củng cố biên giới tài chính của Trung Quốc, thì rất có thể
Trung Quốc sẽ trở thành một "Nhật Bản thứ hai", và sức mạnh kinh tế,
chính trị và quân sự của nước này sẽ dần đạt được mục tiêu độc lập và tự chủ.
Không ai trong số ba cường quốc này muốn thấy một Trung Quốc thực sự mạnh mẽ và
độc lập xuất hiện trên lục địa châu Á!
Để lật đổ bản
vị bạc của Trung Quốc, mục tiêu đầu tiên là nền tảng tiền tệ của Trung Quốc, bạc!
Điều này giống hệt như việc năm xưa Anh đã sử dụng chiến lược thuốc phiện để lật
đổ bản vị tiền tệ của nhà Thanh. Chỉ có điều, lần này người "ra tay chủ động"
là Mỹ, và họ đã sử dụng một cách tiếp cận bí mật hơn và "văn minh"
hơn. Họ tìm cách đẩy giá bạc thế giới lên cao, từ đó dẫn đến dòng chảy bạc chảy
ra khỏi Trung Quốc với quy mô lớn. Không có bạc lưu thông trên thị trường, bản
vị bạc sẽ tự khắc sụp đổ! Khi Tưởng Giới Thạch không thể giành được vị thế độc
lập về mặt tiền tệ, ông ta chỉ còn nước dựa vào một trong ba cường quốc. Sau
khi phá vỡ bản vị bạc và sự tự chủ tiền tệ của Trung Quốc, tương lai tiền tệ của
Trung Quốc chỉ có ba con đường: thứ nhất, kết hợp với đồng bảng, gia nhập liên
minh bảng Anh, trở thành nô lệ tiền tệ của đồng bảng; thứ hai, trói buộc với đồng
yên và được Nhật Bản tích hợp vào "Khối thịnh vượng chung Đại Đông
Á", trở thành thuộc địa kinh tế của Nhật Bản. Thứ ba, liên minh với đồng
đô-la Mỹ, nhảy lên chuyến tàu Mỹ để trở thành thị trường lớn nhất và cơ sở cung
cấp nguyên vật liệu cho Mỹ ở Viễn Đông.
Cho dù kết
nối với bất cứ loại tiền tệ nào chẳng nữa, Trung Quốc chắc chắn sẽ đánh mất chủ
quyền tiền tệ! Bản vị tiền tệ của Trung Quốc sẽ trở thành bản vị hối đoái ngoại
tệ, sử dụng tiền tệ nước ngoài là nguồn tiền dự trữ, hoặc dựa vào một tỷ giá hối
đoái cố định nào đó làm cơ sở để phát hành tiền tệ Trung Quốc. Để duy trì sự ổn
định của tỷ giá hối đoái, Trung Quốc bắt buộc phải có dự trữ ngoại tệ lớn để
can thiệp vào thị trường mỗi khi tỷ giá biến động. Và như vậy, quốc gia phát
hành tiền tệ ngoại hối sẽ chẳng khác gì tạo ra một "đường lùi" ở nước
ngoài và họ phải nộp "thuế đúc tiền". Lượng dự trữ ngoại hối ở nước
ngoài càng lớn, "thuế đúc tiền" mà quốc gia phát hành tiền tệ nhận được
sẽ càng khủng khiếp! Không chỉ vậy, quốc gia phát hành tiền tệ cũng có thể gián
tiếp kiểm soát mở rộng và thu hẹp tín dụng của tất cả các quốc gia dự trữ ngoại
tệ thông qua việc điều chỉnh chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương của
mình. Vẫn là câu nói nổi tiếng: "Nếu có thể kiểm soát việc phát hành tiền
tệ ở một quốc gia, tôi chẳng quan tâm ai là người đưa ra luật!"
Do đó, việc
tiền tệ của Trung Quốc rốt cuộc sẽ kết hợp với loại tiền tệ nào đã trở thành
chiến trường cả chính thức lẫn âm thầm của Mỹ, Anh và Nhật Bản.
Cùng với việc
chính phủ Mỹ tiến hành thu mua bạc với quy mô lớn tại thị trường New York và
London, giá bạc đã tăng vọt. Bị thu hút bởi sự gia tăng của giá bạc quốc tế, một
lượng lớn bạc của Trung Quốc đã "được xuất khẩu". Trung Quốc không phải
là một quốc gia sản xuất bạc lớn, nguồn bạc ban đầu được sử dụng để đúc tiền vẫn
cần phải nhập khẩu. Vào thời điểm đó, bạc của Trung Quốc đã ồ ạt chảy ra nước
ngoài. Năm 1934, chỉ vỏn vẹn 3 tháng mà 200 triệu đồng bạc đã chảy ra nước
ngoài.
Mỹ tiếp tục
không ngừng thu mua bạc, đến năm 1934, mức giá trên thị trường bạc London đã
tăng gấp đôi so với trước! Chứng kiến tình hình đó, các chủ ngân hàng đã nhanh
chóng phát hiện ra cơ hội đầu tư, chỉ cần vận chuyển bạc từ Thượng Hải đến
London hoặc New York là họ có thể kiếm được lợi nhuận đáng kể. Họ sao có thể bỏ
lỡ cơ hội này! Vào thời điểm này, Thượng Hải đang cất giữ hầu hết lượng bạc của
Trung Quốc, đặc biệt là khu tô giới Thượng Hải được coi là nơi an toàn nhất. Giới
địa chủ, quân phiệt và quan chức tham nhũng từ mọi miền đất nước đều chuyển bạc
của họ đến khu tô giới vì nơi đó có sự bảo hộ và quyền tài phán của các cường
quốc.
Vào thời điểm
đó, các ngân hàng lớn đều hạch toán sổ sách vào mỗi tối, nếu bị thiếu tiền thì
họ sẽ thông báo cho bộ phận kho bạc của mình, yêu cầu chuyển lượng tiền dự trữ
cho các ngân hàng nước ngoài và kho bạc của ngân hàng trung ương. Công việc này
khiến cho đội ngũ cảnh vệ hết sức bận rộn, từng hòm bạc đồng, bạc thỏi và Đại
nguyên bảo được xếp lên những cỗ xe bọc thép và vận chuyển ra ngoài. Lượng bạc
vào ngân hàng nước ngoài có thể nói là "chỉ vào, không ra", cứ thế lũ
lượt chuyển đi. Dưới sự chủ đạo của các ngân hàng nước ngoài, thị trường tài
chính Thượng Hải đã bị che phủ bởi một cơn bão thất thoát bạc điên cuồng.
Các ngân
hàng nước ngoài nắm giữ nhiều bạc nhất ở Thượng Hải, không chỉ vậy họ còn có thể
tự do hành động. Chinh phủ quốc dân không thể can thiệp vào quyết định của họ,
thế nên như một lẽ đương nhiên, họ đã trở thành lực lượng chính cho việc xuất
khẩu bạc. Trong giai đoạn xảy ra cơn bão bạc, lượng bạc tồn kho của các ngân
hàng nước ngoài có sự thay đổi chóng mặt, lượng bạc dự trữ của họ giảm tới 85%!
Các ngân hàng nước ngoài ở Trung Quốc đã tích trữ một lượng lớn bạc trong những
năm "vàng quý, bạc rẻ" và đưa sang thị trường quốc tế để bán. Trong
khi đó lượng bạc dự trữ tại Thượng Hải giảm mạnh từ mức cao nhất là 275 triệu đồng
bạc xuống mức thấp nhất là 42 triệu đồng bạc.
Cùng với việc
nguồn bạc bị chảy ra nước ngoài, tiền tệ Trung Quốc đã "được tăng
giá", thâm hụt cán cân thương mại ngày càng tăng, hàng hóa nước ngoài tràn
ngập thị trường Trung Quốc, trong khi đó xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng khó
khăn. Tình trạng "chảy máu bạc" còn gây ra giảm phát, tín dụng ngân
hàng giảm sút và lãi suất thì tăng vọt. Vào thời điểm đó tại Thượng Hải, dù trả
lãi cao đến mấy chẳng nữa hầu như cũng không thể vay được tiền. Nguồn bạc thất
thoát ra nước ngoài, trong nước thiếu bạc trầm trọng, nguồn lực thị trường
không đủ, vật giá lao dốc dẫn đến sự phá sản của ngành công nghiệp và thương mại.
Đến cuối năm 1934, giá bất động sản đã giảm mạnh và giá nhà đất tại khu tô giới
Thượng Hại đã giảm tới 90%! Tình trạng rút tiền gửi tăng đột biến trên quy mô lớn,
khiến cho các ngân hàng và tiền trang lũ lượt sập tiệm.
Để ngăn chặn
tình trạng chảy máu bạc trầm trọng, chính phủ quốc dân đã áp thuế xuất khẩu bạc,
điều đó lại kích thích một làn sóng buôn lậu bạc lớn hơn. Trong vòng vài tuần
cuối năm 1934, hơn 20 triệu đồng bạc đã được xuất khẩu theo đường buôn lậu. Để
tấn công hệ thống tài chính của chính phủ quốc dân, Nhật Bản thậm chí còn cố
tình buôn lậu bạc ở các khu vực mà họ chiếm đóng. Năm 1935, lượng bạc buôn lậu
từ 150 triệu đến 230 triệu đồng bạc. Dòng chảy bạc lớn ra nước ngoài đã gây ra
hậu quả tai hại cho tài chính và nền kinh tế của Trung Quốc.
Biến động
khủng khiếp của hệ sinh thái tài chính đã khiến cả xã hội chìm trong hoang
mang. Chính phủ quốc dân phải cầu xin Mỹ hạ giá thu mua bạc trên thị trường thế
giới để giảm tác hại nghiêm trọng đối với Trung Quốc do giá bạc tăng, nhưng Mỹ
từ chối. Lúc này, chính phủ quốc dân không có lựa chọn nào khác ngoài việc bày
tỏ sẵn sàng bán bạc ở Trung Quốc cho Mỹ với giá thỏa thuận giữa hai bên để đáp ứng
nhu cầu của Mỹ trong việc mua bạc.
Cuối cùng,
Trung Quốc buộc phải từ bỏ bản vị bạc để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế.
Giấc mơ độc lập tiền tệ của Tưởng Giới Thạch đã bị Roosevelt lay tỉnh một cách
phủ phàng.

Nhận xét
Đăng nhận xét