THIÊN HẠ QUYỀN LỰC TIỀN TỆ CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH - phần 6

CHIẾN LƯỢC TẬP TRUNG QUYỀN LỰC TÀI CHÍNH CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH: "PHẾ LẠNG CẢI NGUYÊN" VÀ "TỨ HÀNG LƯỠNG CỤC"

Tưởng Giới Thạch hiểu rằng để đạt được mục tiêu tập trung quyền lực tài chính, chỉ riêng Ngân hàng Trung ương là không đủ, chìa khóa mấu chốt là phải thống nhất tiền tệ. Nếu không có một loại tiền tệ thống nhất, sẽ không có tài chính thống nhất, cũng sẽ không có một cơ sở quyền lực chính trị và quân sự thống nhất. Tiền đề của một loại tiền tệ thống nhất là bản vị tiền tệ phải được xác định trước tiên.

Để đạt được sự thống nhất của bản vị tiền tệ, Chính phủ Nam Kinh quyết tâm thực hiện chiến lược "Phế lạng cải nguyên" và thay đổi bản vị tiền tệ từ ngân lượng sang đồng bạc.

Đồng Ưng Dương - Đồng Bản Dương
Đồng Ưng Dương - Đồng Bản Dương

Vào thời điểm đó ở Trung Quốc, chất lượng, trọng lượng và kích thước của bạc hết sức tạp nham, và việc chuyển đổi, tính toán ngân lượng trong quá trình giao dịch hết sức khó khăn. Trong khi đó các loại đồng bạc cũng vô cùng phức tạp. Đồng bạc thường được sử dụng trên thị trường bao gồm đồng bạc Tây Ban Nha – vốn được các thương nhân nước ngoài mang vào Trung Quốc năm xưa – đôi khi được gọi là "Bản dương". Khi người Anh lần đầu đặt chân tới Trung Quốc để kinh doanh, họ đã sử dụng loại tiền "Bản dương" này. Sau đó, nghiệp vụ "Dương trang" (tiền trang chuyên dụng cho người nước ngoài) ngày càng mở rộng. Do đó, đồng bạc Mexico – đôi khi được gọi là "Ưng dương" cũng dần trở nên phổ biến ở Trung Quốc. Các tỉnh thành Trung Quốc cũng đúc tạp rất nhiều tiền "Long dương" – trông tương tự như đồng "Ưng dương", lại cộng thêm các loại đồng bạc mô phỏng khác nữa, thực sự khiến ta phải hoa mày chóng mặt.

Trong quá trình lưu thông, việc chuyển đổi giữa các loại ngân lượng, đồng bạc và tiền đồng khác nhau khá là rắc rối, cách trao đổi ra sao thường sẽ do tiền trang quyết định. Để xóa bỏ mọi thể loại ngân lượng trên thị trường, trở ngại chủ yếu sẽ đến từ tiền trang. Bởi lẽ tiền trang là đơn vị kinh doanh nghiệp vụ trao đổi giữa ngân lượng, đồng bạc và tiền đồng, nếu như thống nhất tiền tệ thì tiền trang sẽ bị tước mất quyền trao đổi, và từ đó cũng đánh mất quyền phát ngôn về tài chính. Tất nhiên, nếu Tưởng Giới Thạch muốn thống nhất hệ thống tài chính thì đường nhiên những "con tép nhỏ" mang tên tiền trang đó chắc chắn sẽ bị tịch biên.

Đối với vấn đề sử dụng đồng bạc như một loại bản vị tiền tệ, có thể thấy chính phủ quốc dân cũng đã có nhận thức từ sớm. Họ cũng từng tổ chức một hội nghị nghiên cứu chuyên môn, do Tống Tử Văn đứng đầu, và tin rằng việc bãi bỏ ngân lượng và sử dụng đồng bạc nên được thực hiện từng bước. Tống Tử Văn bắt đầu cải tổ hệ thống tiền tệ, và Tập Đức Mậu một lần nữa lại tham gia vào kế hoạch "Phế lượng cải nguyên" một cách "thân thiện".

"Phế lượng cải nguyên" là cả một công trình hệ thống có độ khó cực lớn, không chỉ liên quan đến các ngân hàng và tiền trang của Trung Quốc, mà còn liên quan tới cả các ngân hàng nước ngoài và trao đổi ngoại hối. Là đại diện của ngân hàng trung ương, Tập Đức Mậu là thành viên chủ chốt của "Ủy ban Quản lý Hoán đổi Ngân lượng-Đồng bạc Thượng Hải". Từ thiết kế kế hoạch đến thực hiện cụ thể, rồi lại đến việc điều phối giữa các bên, không việc gì là ông không tham gia.

Trước thềm cuộc "vây tiễu" lần thứ năm, dưới sự thân chinh giám sát của Ủy viên trưởng Tưởng Giới Thạch, tháng 4 năm 1933, "Phế lượng cải nguyên" cuối cùng đã có kết quả.

Việc thống nhất bản vị tiền tệ đã giúp cho công cuộc thống nhất tiền tệ của Tưởng Giới Thạch đi tới một bước hết sức quan trọng. Tiếp đó, ông ta sẽ kiểm soát triệt để Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông, thiết lập quyền lực Ngân hàng Trung ương và hoàn thành bố cục tổng thể của tập trung quyền lực tài chính.

Và thế là Tưởng Giới Thạch gửi điện báo cho Khổng Tường Hy, Bộ trưởng Bộ Tài chính, với những ngôn từ gay gắt: "Xã hội và quốc gia đang trên bờ vực phá sản, quan trọng nhất là hai ngân hàng Trung-Giao (Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông), nếu không chỉnh đốn lại một cách quyết liệt thì cách mạng sẽ đến hồi tuyệt vọng, còn đời sống dân sinh sẽ bị chôn vùi bởi chính hai ngân hàng này." Mũi dao đang chĩa thẳng vào Ngân hàng Trung Quốc, còn Ngân hàng Giao thông chẳng qua là bị liên đới mà thôi.

Ngày 27 tháng 3 năm 1935, viện lập pháp của chính phủ quốc dân đã phê chuẩn việc phát hành 100 triệu nhân dân tệ trái phiếu tài chính để tăng vốn cho ngân hàng trung ương, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông. Sau đó tiến hành cưỡng ép "tái cấu trục" Ngân hàng Trung Quốc và thay đổi từ chế độ tổng giám đốc thành chế độ chủ tịch hội động quản trị. Trực tiếp bổ nhiệm Tống Tử Văn làm chủ tịch hội đồng quản trị, Tống Tử Lương và Đỗ Nguyệt Sinh tham gia hội đồng quản trị. Đồng thời, chính phủ quốc dân đã bổ sung 15 triệu đồng cổ phần chính phủ, và tổng số vốn cổ phần được mở rộng lên mức 40 triệu đồng. Cổ phần chính phủ và cổ phần thương mại đều chiếm một nửa, khiến cho cổ phần chính phủ từ 5 triệu đồng ban đầu tăng lên thành 20 triệu đồng. Trương Gia Ngạo được điều chuyển làm phó chủ tịch của Ngân hàng Trung ương. Trên thực tế, Trương Gia Ngạo đã bị tước mất quyền lực, chính phủ chỉ cho ông ta một chức vụ hữu danh vô thực mà thôi. Một chuyện trọng đại như vậy mà trước đó Trương Gia Ngạo chẳng hề hay biết. Sau đó, Tưởng Giới Thạch cũng "tiếp nhận" Ngân hàng Giao thông theo cách tương tự. Đến tháng 4, Ngân hàng Giao thông đã sửa đổi các điều khoản liên kết của mình thành 63% cổ phần chính phủ, và Ngân hàng Truyền thông cũng "được nhà nước quản lý" kể từ đó.

Phía Nhật Bản đã cực kỳ bất mãn với hành động Tưởng Giới Thạch tướt đoạt quyền lực của Trương Gia Ngạo – một người thân Nhật Bản. Trong bức mật điện của Kawagoe – Tổng lãnh sự Nhật Bản tại Thiên Tân gửi cho Tham tán Bắc Kinh Wakasugi: "Ngày mùng 6 tháng 4 năm Thiệu Hòa thứ 10 (tức 1935). Theo tiết lộ của một nhân vật quan trọng: Trương Công Quyền (Trương Gia Ngạo) đã bị trục xuất khỏi Ngân hàng Trung Quốc. Điều này là do công cuộc thảo phạt 'Cộng phỉ' và mở rộng quân bị của Tưởng Giới Thạch, khiến cho mức thu-chi tài chính của chính phủ Nam Kinh thâm hụt mỗi tháng 25 triệu đồng, và thâm hụt mỗi năm là 300 triệu đồng. Đó chắc chắn là kế hoạch do hai kẻ Khổng, Tống đề xuất nhằm giúp Tưởng Giới Thạch củng cố chế độ. Xét cho cùng, kế hoạch của họ là tìm kiếm sự thống nhất (quyền phát hành tiền tệ) dưới danh nghĩa kiểm soát lạm phát và chỉnh đốn tài chính, từ đó giúp cho thế lực của chính phủ Nam Kinh có thể phát hành thống nhất loại tiền tệ không cần trao đổi. Hiện tại, khi bầu không khí thân thiện giữa Trung Quốc và Nhật Bản đang lên cao, chỉ vì những kẻ như Tống, Khổng mà phũ phàn xua đuổi một người có liên quan mật thiết với Nhật Bản như Trương Công Quyền, quả là một điều nực cười khôn tả…"

Sau khi giành được quyền kiểm soát hai ngân hàng Trung-Giao, mô hình "Tứ hàng lưỡng cực" được kiểm soát bởi nguồn vốn quan liêu đã hình thành nên một bố cục mới của ngành tài chính Trung Quốc. "Tứ hàng lưỡng cực" là Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Giao thông và Ngân hàng Nông dân Trung Quốc (tham gia sau này), "Lưỡng cực" là Cục Tín thác Trung ương và Cục Nghiệp hối Tiết kiệm Bưu chính. Trương Gia Ngạo, tổng giám đốc của Ngân hàng Trung Quốc bị ép phải từ chức, bị cắt đứt mối quan hệ với ngân hàng này. Kể từ giây phút này, Ngân hàng Trung Quốc đã trở thành một công cụ của nguồn vốn tư bản quan liêu, điều này cũng đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên vốn tự do của Trung Quốc. Trước ảnh hưởng của Trương Gia Ngạo trong xã hội cũng như thái độ từ phía Nhật bản, Tưởng Giới Thạch vẫn còn một số lo ngại. Để lung lạc nhân tâm, sáu tháng sau đó ông ta lại bổ nhiệm Trương Gia Ngạo làm thành viên nội các, bổ nhiệm một chức bộ trưởng. Sau đó, Trương Gia Ngạo lại từ chức bộ trưởng với lý do sức khỏe yếu, rồi âm thầm sang Mỹ để "khảo sát".

Màn "thanh tẩy" nguồn vốn tư nhân mới bắt đầu, hoàn thành bước đầu tiên của việc "tiếp quản" hệ thống ngân hàng. Tưởng Giới Thạch tiếp tục yêu cầu Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông tích lũy một số lượng lớn tiền giấy từ Ngân hàng Thương mại Trung Quốc, Ngân hàng Công nghiệp Trung Quốc và Ngân hàng Tứ Minh, sau đó tiến hành hoán đổi tiền tệ cùng một lúc, điều đó lập tức gây ra tình trạng rút tiền gửi đột biến.

Trong số ba ngân hàng nêu trên, Ngân hàng Thương mại Trung Quốc là đơn vị cuối cùng xảy ra tình trạng đột biến rút tiền gửi. Phó Tiểu Am, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Ngân hàng Thương mại Trung Quốc, là vị tổng quản tâm phúc của Thịnh Tuyên Hoài năm xưa. Trước đây ông đã lường trước Tưởng Giới Thạch sẽ giở chiêu này, thế nên đã cầu xin Đỗ Nguyệt Sinh – giám đốc của Ngân hàng Thương mại Trung Quốc và cũng là "người bạn tâm giao" của mình, "hỗ trợ" cho ông một chút.

Đỗ Nguyệt Sinh nói giọng hào sảng: "Có chúng tôi hỗ trợ, đừng sợ."

Trên thực tế, Phó Tiểu Am đã rơi bào bẫy của Đỗ Nguyệt Sinh.

Đỗ Nguyệt Sinh vỗ ngực nói: "Thiếu bao nhiêu thì cứ nói với tôi, chỗ quen biết với nhau thì chút việc vặt này có xá gì, tuy nhiên ông cũng phải chuẩn bị sẵn sàng. Còn ý kiến của lãnh đạo thượng tầng thế nào thì cố gắng thừa cơ mà hành sự."

Phó Tiểu Am quyết định chuyển nhượng "Tòa nhà Ngân hàng Thương mại" sắp hoàn thành với cái giá "thân tình" là 1,8 triệu đồng (dựa trên số tiền đã đầu tư). Nhờ Đỗ Nguyệt Sinh chuyển lời tới "lãnh đạo thượng tầng" để mua lại, Đỗ Nguyệt Sinh lập tức đồng ý.

Ngay sau đó, Tống Tử Lương – em trai của Tống Tử Văn, đã xuất đầu lộ diện, thay mặt cho Cục Nghiệp hối Tiết kiệm Bưu chính mua lại toàn nhà. Tống Tử Lương ngay lập tức đổi tên tòa nhà thành "Tòa nhà Kiến thiết" và huy động công nhân tiến hành thay thế bảng hiệu của tòa nhà ngay trong đêm.

Dư luận bên ngoài lập tức đồn đoán rằng Ngân hàng Thương mại Trung Quốc sắp phá sản, ngay cả tòa nhà trụ sở cũng phải bán đứt. Trong lúc đó Ngân hàng Trung ương đã thông báo cho Tống Tử Lương rằng tiền mua tòa nhà trước tiên phải được trả lại cho Ngân hàng Trung ương. Phó Tiểu Am vẫn chưa nhận được một xu nào từ tiền bán tòa trụ sở, vậy mà Tống Tử Lương đã chuyển thẳng khoản tiền đó sang Ngân hàng Trung ương, vậy là Ngân hàng Thương mại Trung Quốc đã bị "rút củi đáy nồi".

Dịp trước Tết Đoan Ngọ, Phó Tiểu Am đã thu mua được một số loại chứng khoán giá trị, và sử dụng chúng để yêu cầu Ngân hàng Trung ương cho vay thế chấp 3 triệu đồng. Nào ngờ qua Tết Đoan Ngọ, ông bất ngờ nhận được điện báo từ ngân hàng trung ương rằng: "Không còn đồng nào trong tài khoản." Phó Tiểu Am hớt hải tới Bộ Tài chính, cầu xin nhưng vẫn vô ích. Trong lúc đó, Đỗ Nguyệt Sinh tiếp tục rêu rao lan truyền tin tức Ngân hàng Thương mại Trung Quốc sắp sửa phá sản, khiến cho người dân lũ lượt kéo tới rút tiền.

Phó Tiểu Am chỉ còn nước cầu xin Đỗ Nguyệt Sinh một lần nữa ra tay để duy trì tàn cục. Đỗ Nguyệt Sinh lại giả vờ khách khí một hồi. Cuối cùng, Phó Tiểu Am đành phải dâng sổ sách vốn tư sản của Ngân hàng Thương mại cho Đỗ Nguyệt Sinh, còn bản thân thì lặng lẽ "về vườn".

Ngân hàng Thương mại được cải tổ thành một "Ngân hàng Hợp tác Thương nhân-Chính phủ". Cổ phiếu cũ được chiết khấu, sau nhiều lần thương lượng giá cả, Bộ Tài chính chỉ đồng ý rằng cổ phiếu cũ sẽ được chiết khấu ở mức 15%, tức là 15 đồng cho mỗi 100 đồng. Ngân hàng Thương mại Trung Quốc chỉ có 525.000 đồng cổ phiếu cũ và Bộ Tài chính đã bổ sung 3.485 triệu đồng cổ phiếu chính phủ. Tất cả cổ phiếu đó sẽ được Bộ Tài chính bổ sung bằng loại "công trái Phục hưng" có giá trị tương đồng. Đỗ Nguyệt Sinh sẽ giữ chức chủ tịch. Đây có lẽ là phần tiền thù lao mà Quốc dân Đảng trao cho "Thanh bang", còn giới tài phiệt Giang-Chiết – những kẻ đã không "thức thời" khi một mực phản kháng lại chính phủ, cuối cùng đã bị Tưởng Giới Thạch ra tay "xử đẹp".

Sau khi giải quyết xong một loạt ngân hàng, trước mắt chỉ còn lại Ngân hàng Nông dân, và tình hình của nó thì khá đặc biệt. Ngân hàng Nông dân Trung Quốc được cải tổ từ Ngân hàng Nông dân của bốn tỉnh thành khác nhau. Tưởng Giới Thạch là chủ tịch hội đồng quản trị, và vốn cổ phần tư nhân nằm trong tay của Tưởng Giới Thạch hoặc các nhân vật thân tín của ông ta, ngân hàng này sẵn sàng phát hành tiền giấy bất cứ lúc nào Tưởng Giới Thạch ra lệnh. Tưởng Giới Thạch đã xây dựng Ngân hàng Nông dân thành "vườn sau" của riêng mình. Sau đó, khi cố vẫn tài chính người Anh, Liz Ross, đến Trung Quốc và yêu cầu kiểm tra quỹ dự trữ của các ngân hàng Trung Quốc, Khổng Tường Hy đã thông báo cho Ngân hàng Nông dân phối hợp thực hiện. Nào ngờ Tưởng Giới Thạch nổi trận lôi đình: "Lẽ nào ngay cả chút quyền lực này mà ta cũng chẳng có sao?"

Theo báo cáo của Snow, một ký giả nổi tiếng của Mỹ, Ngân hàng Nông dân có thể có nguồn thu nhập bí mật từ thuốc phiện. Doanh thu hàng năm của Cục Cấm thuốc Quốc gia là gần 200 triệu đồng, một phần trong số đó được kiểm soát bởi "Thanh bang" và các tổ chức thế giới ngầm khác, và một phần còn lại được trao cho chính phủ do Ủy ban Quân sự của Tưởng Giới Thạch kiểm soát trực tiếp. Do những nghiệp vụ mang tính chất "mơ hồ" của Ngân hàng Nông dân, thế nên nó đã không được trao quyền phát hành tiền giấy trong thời kỳ cải cách tiền tệ.

Nhân vật chủ chốt thúc đẩy chính phủ tiếp tục thao túng nền kinh tế tư nhân là Tống Tử Văn. Sau khi từ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông tiếp tục nắm giữ vị trí Chủ tịch tại Ủy ban Kinh tế Quốc gia. Những chính sách cơ bản của tổ chức này đều được Tưởng Giới Thạch quyết định, còn Tống Tử Văn đảm nhận "công việc hằng ngày". Sau đó, Tống Tử Văn trở thành chủ tịch của Ngân hàng Trung Quốc và nắm giữ gần ¼ quyền chi phối vốn trong ngành ngân hàng. Tống Tử Văn cũng thành lập Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và sử dụng ngân hàng này làm đại bản doanh để đầu tư lớn vào công nghiệp và thương mại, bao gồm thương mại bông, công nghiệp hóa chất và sản xuất ô tô, v.v.. Tống Tử Văn đã lợi dụng quyền lực của mình để tăng cường đầu tư tư nhân của mình và người thân, để cuối cùng kiểm soát một số lượng lớn các doanh nghiệp.

Sau "sự cố cái tát", Tống Tử Văn đã từ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính, và vai trò đó được Khổng Tường Hy kế nhiệm. Đồng thời, Khổng Tường Hy cũng kiêm nhiệm các vị trí phó viện trưởng Viện Hành chính và chủ tịch Ngân hàng Trung ương, được Tưởng Giới Thạch coi là "người thân cận". Hội đồng quản trị của Ngân hàng Trung ương đã phê duyệt kế hoạch bán 40 triệu trong số 100 triệu cổ phiếu cho cổ phần thương mại. Khổng Tường Hy đã từng "trưng cầu" ý kiến của Tưởng Giới Thạch về việc thu mua cổ phần tư nhân, nhưng trên thực tế, cổ phiếu của Ngân hàng Trung ương chưa bao giờ được bán cho phía "tư nhân". Ý định ban đầu của Tưởng Giới Thạch là tập trung quyền lực, thế nên ông ta sao có thể giảm thiểu sự kiểm soát đối với tổ chức chủ chốt này?

Hệ thống Ngân hàng Trung ương của Khổng Tường Hy kiểm soát ngành bảo hiểm, do đó, tất nhiên ông cũng phải "vẽ đường lùi" cho mình. Ông đã thành lập Cục Tín thác Trung ương nổi tiếng, chủ yếu tham gia vào hoạt động tín thác và đầu tư. Khổng Tường Hy sử dụng tư cách chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Ngân hàng Trung ương để bổ nhiệm con trai cả Khổng Lệnh Khản làm giám đốc điều hành, trên thực tế nắm quyền kiểm soát nghiệp vụ và nhân sự, biến Cục Tín thác Trung ương trở thành sân sau cho gia tộc nhà họ Khổng.

Hệ thống Ngân hàng Trung Quốc do Tống Tử Văn kiểm soát và hệ thống Ngân hàng Trung ương do Khổng Tường Hy khống chế đã phối hợp nhịp nhàng và bổ trợ cho nhau trong việc đưa ra những quyết định quan trọng. Sau một màn thanh tẩy choáng ngợp, hệ thống tài chính Trung Quốc đã trở thành "vật sở hữu" của thế lực vốn quan liêu với "tứ đại gia tộc" làm cốt lõi. Tất nhiên trong số đó cũng bao gồm con át chủ bài của Tưởng Giới Thạch – Đỗ Nguyệt Sinh.

Trích "Chương 5, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét