CẢI CÁCH TIỀN TỆ: NGÒI NỔ DẪN ĐẾN CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC TRUNG QUỐC CỦA NHẬT BẢN
Do "ăn
chia không đều" nên suốt bấy lâu nay, "tứ đại gia tộc" liên tục
nảy sinh mâu thuẫn, trong khi đó cơn bão bạc trên thị trường vẫn tiếp tục lan rộng.
Sau khi chính phủ quốc dân áp thuế xuất khẩu bạc, nạn buôn lậu bạc ngày càng
lan tràn. Lúc này Tưởng Giới Thạch mới nhận ra rằng chính sách bạc của Mỹ nhắm
trực tiếp vào Trung Quốc. Trung Quốc áp dụng bản vị bạc, nhưng sức mạnh định
giá của bạc lại bị người Mỹ siết chặt trong tay. Giá bạc tăng vọt đã gây ra một
cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, buộc Tưởng Giới Thạch phải xem xét tiến
hành cải cách tiền tệ.
Lúc này, Mỹ,
Anh và Nhật Bản đã bắt đầu một màn đọ sức khốc liệt để giành quyền kiểm soát tiền
tệ Trung Quốc.
Nhật Bản đã
xâm chiếm khu vực Đông Bắc Trung Quốc và đang mở rộng ảnh hưởng ở Bắc Trung Quốc.
Trong "Tuyên bố Thiên Vũ (Amau Doctrine)", Nhật Bản đề xuất rằng họ
có "trách nhiệm đặc biệt" đối với Đông Á và Trung Quốc, các quốc gia
khác không được can thiệp vào các vấn đề của Trung Quốc mà không có sự đồng ý của
Nhật Bản. Trung Quốc đã trở thành một món ngon trên bàn tiệc của Nhật Bản.
Vương quốc Anh thì đầu tư nhiều nhất và lợi ích thương mại lớn nhất ở Trung Quốc.
Đối mặt với sự hung hăng của một "tiểu đệ giang hồ" như Nhật Bản, Đế
quốc Anh há có thể nuốt cục tức này? Tuy nhiên Đức Quốc xã ở châu Âu đang ngày
gia tăng áp lực nên dù rất muốn dạy Nhật Bản một bài học, nhưng rõ ràng lại
không đủ thực lực.
Thế lực duy
nhất có sức mạnh, động lực và thủ đoạn để "xử lý Nhật Bản là Mỹ. Đây cũng
là quốc gia khiến Nhật Bản cảm thấy lo lắng, sợ hãi và bất lực nhất. Mỹ kiểm
soát huyết mạch dầu và thép của Nhật Bản, thế nên họ chỉ cần khẽ "siết
tay" là Nhật Bản sẽ ngay lập tức "khó thở". Nguyên nhân chủ yếu
trong việc Mỹ vẫn chưa có động thái gì là bởi họ muốn "tọa sơn quan hổ đấu".
Một mặt, họ muốn lợi dụng bàn tay của Đức để loại bỏ hai trở ngại lớn nhất trên
con đường bá quyền của mình, đó là Anh và Liên Xô. Nhưng đồng thời cũng không
muốn trở thành một kẻ xấu, đợi đến khi ba cường quốc Anh, Đức, Liên Xô đánh
nhau đến mức "tam bại câu thường" thì họ mới ra tay để "định càn
khôn". Mặt khác, Mỹ hi vọng rằng Nhật Bản sẽ chìm vào vũng lầy Trung Quốc,
đến khi Nhật Bản sẽ bị hao tổn thực lực nghiêm trọng, lúc đó họ sẽ giáng một
đòn chí mạng. Đến lúc đó, nhìn quanh các cường quốc trên thế giới, Anh, Pháp, Đức,
Nhật Bản và Liên Xô đều bị ảnh hưởng nặng nề. Ai có thể thách thức Mỹ đây?
Chính phủ
quốc dân kiệt quệ trước áp lực từ cuộc suy thoái kinh tế, đã phải nói với Mỹ rằng
họ sẵn sàng bán bạc cho Mỹ và từ bỏ bản vị bạc, nhưng thái độ của người Mỹ
tương đối thờ ơ. Họ đang chờ đợi thời cơ tốt hơn để mặc cả. Chính phủ quốc dân
phải xin Ngân hàng Hội Phong và Ngân hàng Standard Chartered cho Trung Quốc vay
tiền. Tống Tử Văn đã chủ trì việc vay nợ nước ngoài và đề xuất khoản vay 20 triệu
bảng với Ngân hàng Hội Phong. Được thúc đẩy bởi giới tài chính Anh – những người
ủng hộ chính sách đối ngoại "tích cực" với Trung Quốc, Anh đã đồng ý
khoản vay "có điều kiện" đối với Trung Quốc. Trong lượt tỉ thí này, Mỹ
đã tỏ ra "già dơ" hơn so với Anh.
Chính phủ
Anh đã chỉ đạo George – tham tán thương mại của đại sứ quán Anh tại Bắc Kinh
truyền đạt các điều kiện của Anh cho Khổng Tường Hy và Tống Tử Văn: Trung Quốc
có thể vay tiền, nhưng đồng tiền pháp định trong tương lai của Trung Quốc phải
thoát ly khỏi bản vị bạc và liên kết tỷ giá hối đoái với đồng bản Anh.
Đồng thời,
Anh đề nghị Nhật Bản, Mỹ, Pháp cùng nhau tổ chức một hội nghị tài chính quốc tế
để thảo luận về "hỗ trợ tập thể" cho chính phủ Trung Quốc. Người Anh
hiểu rằng nếu không có sự tham gia của Mỹ và Nhật Bản, e rằng hai quốc gia này
sẽ ngấm ngầm phá hoại thương vụ này của Anh. Viễn cảnh đẹp đẽ nhất và dưới sự
chủ trì của Vương quốc Anh, các quốc gia khác sẽ lắng nghe sự sắp xếp. Sau khi
đồng tiền pháp định của Trung Quốc liên kết với đồng bảng Anh thì các nước sẽ
nhất tề ủng hộ. Về vấn đề này, người Anh rõ ràng là quá ngây thơ.
Mặc dù Pháp
đã bày tỏ sẵn sàng hợp tác với Anh, nhưng đó là vì Pháp bất đắc dĩ phải dựa vào
sự hỗ trợ của Anh để tìm cách trả món nợ "thâm thù huyết hải" đối với
Đức Quốc xã. Phía Nhật Bản đã thẳng thừng từ chối sáng kiến này, còn Mỹ thì áp
dụng thái độ "chờ xem". Mỹ sợ rằng một khi Anh lãnh đạo cuộc cải cách
tiền tệ của Trung Quốc, họ sẽ kiểm soát tài chính của Trung Quốc, nên cuối cùng
quyết định không cử đại diện đến hội nghị để thảo luận. Không có được sự ủng hộ,
Anh bèn tuyên bố rằng sẽ đặc phái cố vấn tài chính của chính phủ, Liz Ross, đến
Trung Quốc để "hiến kế sách" cho công cuộc cải cách tiền tệ của nước
này.
Trước khi
lên đường, Ross muốn tới "giao lưu" với người Mỹ một chút, nhưng
chính phủ Mỹ không sẵn lòng mời ông ta tới Washington, vì vậy ông ta đành đến
Nhật Bản. Ross đến Nhật Bản với hi vọng thúc đẩy hợp tác Anh-Nhật. Trong cuộc hội
đàm với Ngoại trưởng Nhật Bản Hirota, ông đã đề xuất rằng nếu "Nhà nước
Mãn Châu" có thể trả thuế hải quan cho chính phủ quốc dân, thì Anh có thể
vận động hành lang để chính phủ quốc dân công nhận "Nhà nước Mãn
Châu". Và nếu vấn đề Mãn Châu được giải quyết, tranh chấp giữa Nhật Bản và
Trung Quốc về vấn đề khu vực phía Bắc Trung Quốc sẽ tự khắc được giải quyết. Nếu
như hệ thống thuế quan của chính phủ quốc dân có thêm nguồn thuế quan Mãn Châu,
vậy thì khả năng bảo lãnh của các khoản vay của chính phủ quốc dân cũng sẽ được
tăng cường. Điều này sẽ không chỉ ổn định tiền tệ Trung Quốc, mà còn bảo vệ hiệu
quả thương mại Anh-Nhật với Trung Quốc. Đây chẳng phải là kết quả mà tất cả các
bên đều có lợi hay sao? Nếu cải cách tiền tệ thành công, thương mại sẽ phát triển
tương ứng, đến lúc đó Nhật Bản sẽ là quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất.
Người Nhật
rất tức giận khi thấy Ross coi thường họ. "Nhà nước Mãn Châu" vốn đã
nằm gọn trong tay họ, vậy mà Ross lại dám đòi cái gọi là thuế quan Mãn Châu –
thứ khiến cho Nhật Bản tổn thất, để giúp người Anh lấy lòng Tưởng Giới Thạch?
Điều khó chịu hơn nữa là Ross thậm chí chỉ dùng những ưu đãi nhỏ liên quan đến
thương mại mậu dịch để đổi lấy lợi ích khổng lồ của Nhật Bản trong việc từ bỏ
quyền kiểm soát phát hành tiền tệ của Trung Quốc. Người Nhật khó có thể nuốt
trôi cục tức này.
Cuối cùng,
Nhật Bản và Mỹ đều không chịu hợp tác, người Anh đành phải tự mình lâm trận.
Ross đến Trung Quốc vào tháng 9 năm 1935 với tư cách là một nhà tư vấn cao cấp,
nói rằng một trong những "nhiệm vụ quan trọng" của việc đến Trung Quốc
là điều tra tính khả thi của việc quản lý tiền tệ.
Ngày 4
tháng 11 năm 1935, chính phủ quốc dân ban hành chính sách tiền tệ pháp định,
quy định rằng tiền giấy do ngân hàng trung ương, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân
hàng Giao thông phát hành là "tiền tệ pháp định", nghĩa là họ có năng
lực đấu thầu hợp pháp không giới hạn. Đồng bạc chính thức bị cấm lưu hành trên
thị trường, và tất cả những loại bạc đồng, bạc thỏi mà các tổ chức tài chính và
cá nhân tư nhân nắm giữ đều phải mang tới ngân hàng trung ương để thu hồi. Khổng
Tường Hy và Liz Ross sau nhiều lần "bí mật lên kế hoạch", cuối cùng
đã xác định ra tỷ giá hối đoái của đồng tiền pháp định với bảng Anh. 1 đồng tiền
pháp định có thể đổi được 1 shilling và 2 xu rưỡi. Như vậy, đồng tiền pháp định
đã được liên kết tỷ giá hối đoái với đồng bảng Anh.
Kể từ ngày
này, tiền pháp định của Trung Quốc đã trở thành một chư hầu của ngoại tệ.
Trong
"sự đồng thuận tiền tệ" đạt được giữa Tưởng Giới Thạch và Vương quốc
Anh, Ngân hàng Hội Phong là nhân tố chính. Khi cơn bão bạc bùng nổ ở Trung Quốc,
chỉ có Ngân hàng Hội Phong có thực lực duy trì cục diện cho thị trường Thượng Hải.
Vị thế quan trọng trên thị trường tài chính Trung Quốc và sức mạnh tài chính khổng
lồ của nó đã khiến các tác giả của Lịch sử Ngân hàng Hội Phong phải cảm
thán rằng: "Ngân hàng Hội Phong có thể giúp cho hệ thống tiền tệ của một
nước lớn duy trì được sự ổn định trong hầu hết khoảng thời gian trong năm, đó
là điều khó có thể tin được."
Sau cải
cách tiền tệ, Ngân hàng Hội Phong đã đi đầu trong việc trao lại hàng chục triệu
đồng bạc đang tồn kho cho ngân hàng trung ương của chính phủ quốc gia để đổi lấy
tiền giấy pháp định của Trung Quốc. Standard Chartered và các ngân hàng khác
ngay lập tức đồng ý bàn giao lại bạc vô điều kiện, đồng thời bày tỏ sự ủng hộ cải
cách tiền tệ.
Đại sứ Anh
tại Trung Quốc đã đưa ra một thông báo cho các kiều dân Anh rằng: "Phàm là
pháp nhân hoặc cá nhân người Anh sống ở Trung Quốc, nếu tự ý dùng bạc để thanh
toán một phần hoặc toàn bộ nợ của mình, thì đều coi là hành vi phạm pháp."
Việc "quốc hữu hóa" bạc đã giúp chính phủ thu được khoảng 300 triệu đồng
bạc, sau đó chính phủ Nam Kinh đã vận chuyển một lượng lớn bạc đến London để
bán và đổi lấy đồng bảng Anh để làm nguồn tiền dự trữ, nhằm duy trì sự ổn định
của đồng tiền pháp định. Ban đầu, lượng tiền dự trữ pháp định mà chính phủ quốc
dân cất giữ ở Ngân hàng Anh ước khoảng 25 triệu bảng.
Việc
"bảng Anh hóa" của tiền tệ pháp định đã động chạm đến Nhật Bản. Anh
đã công khai thách thức phạm vi thế lực của Nhật Bản. "Bảng Anh hóa"
của tiền tệ pháp định có nghĩa là Trung Quốc và Anh đã hoàn thành việc thiết lập
liên minh ở khía cạnh tiền tệ, và mâu thuẫn kịch liệt giữa Nhật Bản và Anh sẽ
là điều không thể tránh khỏi. Ngay lập tức, Nhật Bản đã đẩy mạnh việc mở rộng
xâm lược ở phía Bắc Trung Quốc. Việc "đồng Yên hóa" tiền tệ pháp định
đã tan thành mây khói.
Để vỗ về
cơn giận của Nhật Bản, Tưởng Giới Thạch cũng phải đưa ra một "lời giải
thích". Ngay trong ngày Bộ Tài chính tuyên bố cải cách tiền tệ, Viện Hành
chính của chính phủ quốc dân đã chính thức đồng ý Viên Lương "chủ động"
từ chức thị trưởng Bắc Bình, đồng thời bãi bỏ phân hội của Ủy ban Quân sự Bắc
Bình. Cả hai sự kiện này đều là yêu cầu mà lực lượng quân Nhật đồn trú ở phía Bắc
Trung Quốc đề xuất với quan chức của Trung Quốc ở khu vực này. Tưởng Giới Thạch
đáp ứng yêu cầu của Nhật Bản với một thái độ nhún nhường, với hi vọng có thể
hóa giải đôi chút áp lực từ phía Nhật Bản. Tuy nhiên, Nhật Bản không dừng lại ở
đó, quân Quan Đông và quân đồn trú phía Bắc Trung Quốc của Nhật Bản tin rằng,
việc thực hiện cải cách tiền tệ sẽ làm cạn kiệt kinh tế Bắc Trung Quốc, và Anh
sẽ kiểm soát toàn bộ kinh tế. Điều này đã thúc đẩy Doihara Kenji đưa ra phương
châm: "Cắt đứt sợi dây kết nối kinh tế giữa Bắc Trung Quốc với chính quyền
Nam Kinh".
Đồng thời,
Rensuke Isogai – tùy viên quân sự của đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc đã đưa ra
tuyên bố từ chối vận chuyển bạc từ khu vực phía Bắc Trung Quốc xuống phía nam
và phản đối cải cách tiền tệ. Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã đưa ra tuyên bố chỉ
trích rằng "mũi dao" của cuộc cải cách tiền tệ này trực tiếp nhắm vào
Nhật Bản. Khi sự kiện ngày 7 tháng 7 nổ ra, Nhật Bản bắt đầu động thủ, tung ra
loại tiền tệ pháp định giả mà họ đã tự làm, biến tiền giả đó thành ngoại hối,
sau đó thu mua vật tư, nguyên liệu.
Việc Nhật Bản
in tiền giả là do Yamamoto Kenzo – một nhân vật thuộc Bộ Tham mưu của Nhật Bản,
phụ trách. Người này ngay khi còn trẻ đã mơ ước được tạo ra tiền giả, và cuối
cùng ông đã "thỏa mộng ước hồi trai trẻ" của mình bằng tiền pháp định
của chính phủ quốc dân. Lúc đầu, Yamamoto đã chọn loại tiền tệ pháp định mệnh
giá 5 đồng, cho in với số lượng lên tới hàng trăm nghìn. Tuy nhiên, khi lô tiền
giả này được chuyển đến Trung Quốc, một "tin dữ" đã xuất hiện, loại
tiền pháp định mệnh giá 5 đồng này đã bị bãi bỏ. Lần hành động đầu tiên của
Yamamoto đã thất bại thảm hại, có lẽ là do ông ta đã quá hấp tấp và phấn khích
nên chưa dò hỏi cặn kẽ trước khi ra tay.
Sau đó, cuối
cùng ông ta làm giả thành công đồng tiền với mệnh giá thấp của Ngân hàng Nông
thôn Trung Quốc và mua được một lượng lớn vật tư, nguyên liệu. Trong thời kỳ Thế
chiến II, Hải quân Đức đã chặn một tàu buôn của Mỹ trên Thái Bình Dương và thu
giữ một lô bán thành phẩm 1 tỷ đồng tiền pháp định mà Công ty Đúc tiền Mỹ in
cho Ngân hàng Giao thông Trung Quốc, trên các tờ tiền chỉ còn thiếu số và phù
hiệu. Sau khi Nhật Bản mua lô bán thành phẩm này, cuối cùng họ cũng nắm được tất
cả các bí mật của việc in ấn tiền pháp định, và họ đã sản xuất tổng cộng 4 tỷ đồng
tiền pháp định giả.
Tưởng Giới
Thạch đã cố gắng lợi dụng Anh và Mỹ để kiềm tỏa Nhật Bản, và thành lập Ủy ban
Thiết kế Quốc phòng để nghiên cứu cải cách tiền tệ của Trung Quốc, kết hợp vấn
đề cải cách tiền tệ của Trung Quốc vào phạm trù "thiết kế quốc
phòng". Điều này cho thấy ngay trong quá trình xem xét kế hoạch cải cách
tiền tệ pháp định, Tưởng Giới Thạch đã có ý định nghiêng về Anh và Mỹ để chống
lại Nhật Bản.
Chính trong
cuộc tranh giành quyền kiểm soát tiền tệ đối với Trung Quốc, do liên tiếp gặp bất
lợi nên người Nhật đã "cực kỳ tức giận", từ đó đã đẩy nhanh cuộc chiến
tranh xâm lược toàn diện đối với Trung Quốc. Có thể nói rằng cải cách tiền tệ
pháp định đã trở thành ngòi nổ cho sự xâm lược toàn diện của Nhật Bản đối với
Trung Quốc!
Nhận xét
Đăng nhận xét