THIÊN HẠ QUYỀN LỰC TIỀN TỆ CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH - phần 9

CẢI CÁCH TIỀN TỆ: NGÒI NỔ DẪN ĐẾN CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC TRUNG QUỐC CỦA NHẬT BẢN

Do "ăn chia không đều" nên suốt bấy lâu nay, "tứ đại gia tộc" liên tục nảy sinh mâu thuẫn, trong khi đó cơn bão bạc trên thị trường vẫn tiếp tục lan rộng. Sau khi chính phủ quốc dân áp thuế xuất khẩu bạc, nạn buôn lậu bạc ngày càng lan tràn. Lúc này Tưởng Giới Thạch mới nhận ra rằng chính sách bạc của Mỹ nhắm trực tiếp vào Trung Quốc. Trung Quốc áp dụng bản vị bạc, nhưng sức mạnh định giá của bạc lại bị người Mỹ siết chặt trong tay. Giá bạc tăng vọt đã gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, buộc Tưởng Giới Thạch phải xem xét tiến hành cải cách tiền tệ.

Lúc này, Mỹ, Anh và Nhật Bản đã bắt đầu một màn đọ sức khốc liệt để giành quyền kiểm soát tiền tệ Trung Quốc.

Nhật Bản đã xâm chiếm khu vực Đông Bắc Trung Quốc và đang mở rộng ảnh hưởng ở Bắc Trung Quốc. Trong "Tuyên bố Thiên Vũ (Amau Doctrine)", Nhật Bản đề xuất rằng họ có "trách nhiệm đặc biệt" đối với Đông Á và Trung Quốc, các quốc gia khác không được can thiệp vào các vấn đề của Trung Quốc mà không có sự đồng ý của Nhật Bản. Trung Quốc đã trở thành một món ngon trên bàn tiệc của Nhật Bản. Vương quốc Anh thì đầu tư nhiều nhất và lợi ích thương mại lớn nhất ở Trung Quốc. Đối mặt với sự hung hăng của một "tiểu đệ giang hồ" như Nhật Bản, Đế quốc Anh há có thể nuốt cục tức này? Tuy nhiên Đức Quốc xã ở châu Âu đang ngày gia tăng áp lực nên dù rất muốn dạy Nhật Bản một bài học, nhưng rõ ràng lại không đủ thực lực.

Thế lực duy nhất có sức mạnh, động lực và thủ đoạn để "xử lý Nhật Bản là Mỹ. Đây cũng là quốc gia khiến Nhật Bản cảm thấy lo lắng, sợ hãi và bất lực nhất. Mỹ kiểm soát huyết mạch dầu và thép của Nhật Bản, thế nên họ chỉ cần khẽ "siết tay" là Nhật Bản sẽ ngay lập tức "khó thở". Nguyên nhân chủ yếu trong việc Mỹ vẫn chưa có động thái gì là bởi họ muốn "tọa sơn quan hổ đấu". Một mặt, họ muốn lợi dụng bàn tay của Đức để loại bỏ hai trở ngại lớn nhất trên con đường bá quyền của mình, đó là Anh và Liên Xô. Nhưng đồng thời cũng không muốn trở thành một kẻ xấu, đợi đến khi ba cường quốc Anh, Đức, Liên Xô đánh nhau đến mức "tam bại câu thường" thì họ mới ra tay để "định càn khôn". Mặt khác, Mỹ hi vọng rằng Nhật Bản sẽ chìm vào vũng lầy Trung Quốc, đến khi Nhật Bản sẽ bị hao tổn thực lực nghiêm trọng, lúc đó họ sẽ giáng một đòn chí mạng. Đến lúc đó, nhìn quanh các cường quốc trên thế giới, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản và Liên Xô đều bị ảnh hưởng nặng nề. Ai có thể thách thức Mỹ đây?

Chính phủ quốc dân kiệt quệ trước áp lực từ cuộc suy thoái kinh tế, đã phải nói với Mỹ rằng họ sẵn sàng bán bạc cho Mỹ và từ bỏ bản vị bạc, nhưng thái độ của người Mỹ tương đối thờ ơ. Họ đang chờ đợi thời cơ tốt hơn để mặc cả. Chính phủ quốc dân phải xin Ngân hàng Hội Phong và Ngân hàng Standard Chartered cho Trung Quốc vay tiền. Tống Tử Văn đã chủ trì việc vay nợ nước ngoài và đề xuất khoản vay 20 triệu bảng với Ngân hàng Hội Phong. Được thúc đẩy bởi giới tài chính Anh – những người ủng hộ chính sách đối ngoại "tích cực" với Trung Quốc, Anh đã đồng ý khoản vay "có điều kiện" đối với Trung Quốc. Trong lượt tỉ thí này, Mỹ đã tỏ ra "già dơ" hơn so với Anh.

Chính phủ Anh đã chỉ đạo George – tham tán thương mại của đại sứ quán Anh tại Bắc Kinh truyền đạt các điều kiện của Anh cho Khổng Tường Hy và Tống Tử Văn: Trung Quốc có thể vay tiền, nhưng đồng tiền pháp định trong tương lai của Trung Quốc phải thoát ly khỏi bản vị bạc và liên kết tỷ giá hối đoái với đồng bản Anh.

Đồng thời, Anh đề nghị Nhật Bản, Mỹ, Pháp cùng nhau tổ chức một hội nghị tài chính quốc tế để thảo luận về "hỗ trợ tập thể" cho chính phủ Trung Quốc. Người Anh hiểu rằng nếu không có sự tham gia của Mỹ và Nhật Bản, e rằng hai quốc gia này sẽ ngấm ngầm phá hoại thương vụ này của Anh. Viễn cảnh đẹp đẽ nhất và dưới sự chủ trì của Vương quốc Anh, các quốc gia khác sẽ lắng nghe sự sắp xếp. Sau khi đồng tiền pháp định của Trung Quốc liên kết với đồng bảng Anh thì các nước sẽ nhất tề ủng hộ. Về vấn đề này, người Anh rõ ràng là quá ngây thơ.

Mặc dù Pháp đã bày tỏ sẵn sàng hợp tác với Anh, nhưng đó là vì Pháp bất đắc dĩ phải dựa vào sự hỗ trợ của Anh để tìm cách trả món nợ "thâm thù huyết hải" đối với Đức Quốc xã. Phía Nhật Bản đã thẳng thừng từ chối sáng kiến này, còn Mỹ thì áp dụng thái độ "chờ xem". Mỹ sợ rằng một khi Anh lãnh đạo cuộc cải cách tiền tệ của Trung Quốc, họ sẽ kiểm soát tài chính của Trung Quốc, nên cuối cùng quyết định không cử đại diện đến hội nghị để thảo luận. Không có được sự ủng hộ, Anh bèn tuyên bố rằng sẽ đặc phái cố vấn tài chính của chính phủ, Liz Ross, đến Trung Quốc để "hiến kế sách" cho công cuộc cải cách tiền tệ của nước này.

Trước khi lên đường, Ross muốn tới "giao lưu" với người Mỹ một chút, nhưng chính phủ Mỹ không sẵn lòng mời ông ta tới Washington, vì vậy ông ta đành đến Nhật Bản. Ross đến Nhật Bản với hi vọng thúc đẩy hợp tác Anh-Nhật. Trong cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Nhật Bản Hirota, ông đã đề xuất rằng nếu "Nhà nước Mãn Châu" có thể trả thuế hải quan cho chính phủ quốc dân, thì Anh có thể vận động hành lang để chính phủ quốc dân công nhận "Nhà nước Mãn Châu". Và nếu vấn đề Mãn Châu được giải quyết, tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc về vấn đề khu vực phía Bắc Trung Quốc sẽ tự khắc được giải quyết. Nếu như hệ thống thuế quan của chính phủ quốc dân có thêm nguồn thuế quan Mãn Châu, vậy thì khả năng bảo lãnh của các khoản vay của chính phủ quốc dân cũng sẽ được tăng cường. Điều này sẽ không chỉ ổn định tiền tệ Trung Quốc, mà còn bảo vệ hiệu quả thương mại Anh-Nhật với Trung Quốc. Đây chẳng phải là kết quả mà tất cả các bên đều có lợi hay sao? Nếu cải cách tiền tệ thành công, thương mại sẽ phát triển tương ứng, đến lúc đó Nhật Bản sẽ là quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất.

Người Nhật rất tức giận khi thấy Ross coi thường họ. "Nhà nước Mãn Châu" vốn đã nằm gọn trong tay họ, vậy mà Ross lại dám đòi cái gọi là thuế quan Mãn Châu – thứ khiến cho Nhật Bản tổn thất, để giúp người Anh lấy lòng Tưởng Giới Thạch? Điều khó chịu hơn nữa là Ross thậm chí chỉ dùng những ưu đãi nhỏ liên quan đến thương mại mậu dịch để đổi lấy lợi ích khổng lồ của Nhật Bản trong việc từ bỏ quyền kiểm soát phát hành tiền tệ của Trung Quốc. Người Nhật khó có thể nuốt trôi cục tức này.

Cuối cùng, Nhật Bản và Mỹ đều không chịu hợp tác, người Anh đành phải tự mình lâm trận. Ross đến Trung Quốc vào tháng 9 năm 1935 với tư cách là một nhà tư vấn cao cấp, nói rằng một trong những "nhiệm vụ quan trọng" của việc đến Trung Quốc là điều tra tính khả thi của việc quản lý tiền tệ.

Ngày 4 tháng 11 năm 1935, chính phủ quốc dân ban hành chính sách tiền tệ pháp định, quy định rằng tiền giấy do ngân hàng trung ương, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông phát hành là "tiền tệ pháp định", nghĩa là họ có năng lực đấu thầu hợp pháp không giới hạn. Đồng bạc chính thức bị cấm lưu hành trên thị trường, và tất cả những loại bạc đồng, bạc thỏi mà các tổ chức tài chính và cá nhân tư nhân nắm giữ đều phải mang tới ngân hàng trung ương để thu hồi. Khổng Tường Hy và Liz Ross sau nhiều lần "bí mật lên kế hoạch", cuối cùng đã xác định ra tỷ giá hối đoái của đồng tiền pháp định với bảng Anh. 1 đồng tiền pháp định có thể đổi được 1 shilling và 2 xu rưỡi. Như vậy, đồng tiền pháp định đã được liên kết tỷ giá hối đoái với đồng bảng Anh.

Kể từ ngày này, tiền pháp định của Trung Quốc đã trở thành một chư hầu của ngoại tệ.

Trong "sự đồng thuận tiền tệ" đạt được giữa Tưởng Giới Thạch và Vương quốc Anh, Ngân hàng Hội Phong là nhân tố chính. Khi cơn bão bạc bùng nổ ở Trung Quốc, chỉ có Ngân hàng Hội Phong có thực lực duy trì cục diện cho thị trường Thượng Hải. Vị thế quan trọng trên thị trường tài chính Trung Quốc và sức mạnh tài chính khổng lồ của nó đã khiến các tác giả của Lịch sử Ngân hàng Hội Phong phải cảm thán rằng: "Ngân hàng Hội Phong có thể giúp cho hệ thống tiền tệ của một nước lớn duy trì được sự ổn định trong hầu hết khoảng thời gian trong năm, đó là điều khó có thể tin được."

Sau cải cách tiền tệ, Ngân hàng Hội Phong đã đi đầu trong việc trao lại hàng chục triệu đồng bạc đang tồn kho cho ngân hàng trung ương của chính phủ quốc gia để đổi lấy tiền giấy pháp định của Trung Quốc. Standard Chartered và các ngân hàng khác ngay lập tức đồng ý bàn giao lại bạc vô điều kiện, đồng thời bày tỏ sự ủng hộ cải cách tiền tệ.

Đại sứ Anh tại Trung Quốc đã đưa ra một thông báo cho các kiều dân Anh rằng: "Phàm là pháp nhân hoặc cá nhân người Anh sống ở Trung Quốc, nếu tự ý dùng bạc để thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ của mình, thì đều coi là hành vi phạm pháp." Việc "quốc hữu hóa" bạc đã giúp chính phủ thu được khoảng 300 triệu đồng bạc, sau đó chính phủ Nam Kinh đã vận chuyển một lượng lớn bạc đến London để bán và đổi lấy đồng bảng Anh để làm nguồn tiền dự trữ, nhằm duy trì sự ổn định của đồng tiền pháp định. Ban đầu, lượng tiền dự trữ pháp định mà chính phủ quốc dân cất giữ ở Ngân hàng Anh ước khoảng 25 triệu bảng.

Việc "bảng Anh hóa" của tiền tệ pháp định đã động chạm đến Nhật Bản. Anh đã công khai thách thức phạm vi thế lực của Nhật Bản. "Bảng Anh hóa" của tiền tệ pháp định có nghĩa là Trung Quốc và Anh đã hoàn thành việc thiết lập liên minh ở khía cạnh tiền tệ, và mâu thuẫn kịch liệt giữa Nhật Bản và Anh sẽ là điều không thể tránh khỏi. Ngay lập tức, Nhật Bản đã đẩy mạnh việc mở rộng xâm lược ở phía Bắc Trung Quốc. Việc "đồng Yên hóa" tiền tệ pháp định đã tan thành mây khói.

Để vỗ về cơn giận của Nhật Bản, Tưởng Giới Thạch cũng phải đưa ra một "lời giải thích". Ngay trong ngày Bộ Tài chính tuyên bố cải cách tiền tệ, Viện Hành chính của chính phủ quốc dân đã chính thức đồng ý Viên Lương "chủ động" từ chức thị trưởng Bắc Bình, đồng thời bãi bỏ phân hội của Ủy ban Quân sự Bắc Bình. Cả hai sự kiện này đều là yêu cầu mà lực lượng quân Nhật đồn trú ở phía Bắc Trung Quốc đề xuất với quan chức của Trung Quốc ở khu vực này. Tưởng Giới Thạch đáp ứng yêu cầu của Nhật Bản với một thái độ nhún nhường, với hi vọng có thể hóa giải đôi chút áp lực từ phía Nhật Bản. Tuy nhiên, Nhật Bản không dừng lại ở đó, quân Quan Đông và quân đồn trú phía Bắc Trung Quốc của Nhật Bản tin rằng, việc thực hiện cải cách tiền tệ sẽ làm cạn kiệt kinh tế Bắc Trung Quốc, và Anh sẽ kiểm soát toàn bộ kinh tế. Điều này đã thúc đẩy Doihara Kenji đưa ra phương châm: "Cắt đứt sợi dây kết nối kinh tế giữa Bắc Trung Quốc với chính quyền Nam Kinh".

Đồng thời, Rensuke Isogai – tùy viên quân sự của đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố từ chối vận chuyển bạc từ khu vực phía Bắc Trung Quốc xuống phía nam và phản đối cải cách tiền tệ. Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã đưa ra tuyên bố chỉ trích rằng "mũi dao" của cuộc cải cách tiền tệ này trực tiếp nhắm vào Nhật Bản. Khi sự kiện ngày 7 tháng 7 nổ ra, Nhật Bản bắt đầu động thủ, tung ra loại tiền tệ pháp định giả mà họ đã tự làm, biến tiền giả đó thành ngoại hối, sau đó thu mua vật tư, nguyên liệu.

Việc Nhật Bản in tiền giả là do Yamamoto Kenzo – một nhân vật thuộc Bộ Tham mưu của Nhật Bản, phụ trách. Người này ngay khi còn trẻ đã mơ ước được tạo ra tiền giả, và cuối cùng ông đã "thỏa mộng ước hồi trai trẻ" của mình bằng tiền pháp định của chính phủ quốc dân. Lúc đầu, Yamamoto đã chọn loại tiền tệ pháp định mệnh giá 5 đồng, cho in với số lượng lên tới hàng trăm nghìn. Tuy nhiên, khi lô tiền giả này được chuyển đến Trung Quốc, một "tin dữ" đã xuất hiện, loại tiền pháp định mệnh giá 5 đồng này đã bị bãi bỏ. Lần hành động đầu tiên của Yamamoto đã thất bại thảm hại, có lẽ là do ông ta đã quá hấp tấp và phấn khích nên chưa dò hỏi cặn kẽ trước khi ra tay.

Sau đó, cuối cùng ông ta làm giả thành công đồng tiền với mệnh giá thấp của Ngân hàng Nông thôn Trung Quốc và mua được một lượng lớn vật tư, nguyên liệu. Trong thời kỳ Thế chiến II, Hải quân Đức đã chặn một tàu buôn của Mỹ trên Thái Bình Dương và thu giữ một lô bán thành phẩm 1 tỷ đồng tiền pháp định mà Công ty Đúc tiền Mỹ in cho Ngân hàng Giao thông Trung Quốc, trên các tờ tiền chỉ còn thiếu số và phù hiệu. Sau khi Nhật Bản mua lô bán thành phẩm này, cuối cùng họ cũng nắm được tất cả các bí mật của việc in ấn tiền pháp định, và họ đã sản xuất tổng cộng 4 tỷ đồng tiền pháp định giả.

Tưởng Giới Thạch đã cố gắng lợi dụng Anh và Mỹ để kiềm tỏa Nhật Bản, và thành lập Ủy ban Thiết kế Quốc phòng để nghiên cứu cải cách tiền tệ của Trung Quốc, kết hợp vấn đề cải cách tiền tệ của Trung Quốc vào phạm trù "thiết kế quốc phòng". Điều này cho thấy ngay trong quá trình xem xét kế hoạch cải cách tiền tệ pháp định, Tưởng Giới Thạch đã có ý định nghiêng về Anh và Mỹ để chống lại Nhật Bản.

Chính trong cuộc tranh giành quyền kiểm soát tiền tệ đối với Trung Quốc, do liên tiếp gặp bất lợi nên người Nhật đã "cực kỳ tức giận", từ đó đã đẩy nhanh cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện đối với Trung Quốc. Có thể nói rằng cải cách tiền tệ pháp định đã trở thành ngòi nổ cho sự xâm lược toàn diện của Nhật Bản đối với Trung Quốc!

Trích "Chương 5, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét