CẢI TỔ VÀ NHÚNG TAY
Sau khi
ngân hàng trung ương của chính phủ Nam Kinh được thành lập, về mặt danh nghĩa
đã xác định được vị thế của "chân mệnh thiên tử", hai đại gia ban đầu
là Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông, được chỉ định là ngân hàng
chuyên dụng dành cho việc phát triển công nghiệp và hối đoái quốc tế. Tuy nhiên
đến năm 1935, lượng tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành chỉ ngang bằng với
Ngân hàng Giao thông, nhưng vẫn thua xa Ngân hàng Trung Quốc. Điều này khiến
cho ngân hàng trung ương – một đơn vị đường đường chính chính có chức năng chủ
yếu là phát hành tiền tệ, sao có thể chịu đựng nổi?
Sở dĩ tiền
giấy của Ngân hàng Trung Quốc có uy tín cao trên thị trường là bởi nguồn gốc lịch
sử của nó.
Có ba nhân
vật quan trọng trong giới tài phiệt Giang-Chiết, Trần Quang Phủ, tổng giám đốc
của Ngân hàng Thương mại và Tiết kiệm Thượng Hải, Lý Phục Tôn, tổng giám đốc của
Ngân hàng Công nghiệp địa phương Chiết Giang, và Trương Gia Ngạo của Ngân hàng
Trung Quốc, họ được mệnh danh là "tam đỉnh giáp" của giới tài phiệt
Giang-Chiết. Ở tuổi 28, Trương Gia Ngạo đã trở thành phó giám đốc Ngân hàng
Trung Quốc chi nhánh Thượng Hải. Trong thời kỳ của chính phủ Bắc Dương, hai
ngân hàng "bán tự trị" là Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao
thông là hai ngân hàng quan trọng nhất có vốn đầu tư của Trung Quốc, và ở một mức
độ nào đó đã phát huy tác dụng như ngân hàng trung ương. Vào thời điểm đó,
chính phủ Bắc Dương đang phải vật lộn để đối phó với chiến tranh và đang bị thiếu
hụt tài chính nghiêm trọng. Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Giao thông chịu
trách nhiệm in và phát hành "Ngân nguyên khoán", chỉ tính riêng khối
lượng in của riêng Ngân hàng Trung Quốc đã tăng 7-8 lần trong vòng hai năm. Khi
tiền được in quá nhiều thì tự khắc sẽ gây ra lạm phát.
Vào thời điểm
đó, Lương Sĩ Di là tổng thư ký của phủ tổng thống Viên Thế Khải. Thấy vật giá tằng
cao, ông ta đã nảy ra một ý tưởng tồi tệ: Sáp nhập hai ngân hàng Trung Quốc và
Giao thông lại với nhau. Ý tưởng có lẽ là tạo ra một vụ "sáp nhập thu gọn
cổ phần" để thuận tiện cho việc phát hành thêm tiền giấy. Ngay khi tin tức
được lan truyền, nó lập tức gây ra một cuộc khủng hoảng đột biến rút tiền gửi.
Trong cơn tuyệt vọng, chính phủ Bắc Dương đã ra lệnh cho hai ngân hàng, Trung
Quốc và Giao thông, ngừng trao đổi tiền mặt.
Vào thời điểm
đó, Trương Gia Ngạo – vị phó giám đốc trẻ tuổi của Ngân hàng Trung Quốc chi
nhánh Thượng Hải, cho rằng "nếu tuân theo mệnh lệnh đó thì Ngân hàng Trung
Quốc sẽ hoàn toàn đánh mất tín dụng và không bao giờ có hi vọng phục hồi".
Vì vậy, Trương Gia Ngạo đã cùng với Tống Hán Chương – giám đốc của Ngân hàng
Trung Quốc chi nhánh Thượng Hải đưa ra một quyết định táo bạo: Kháng lệnh! Thế
nhưng kháng lệnh đâu có dễ dàng như vậy! Bất chấp mệnh lệnh của chính phủ,
ngang nhiên đối đầu với chính phủ, chính phủ Bắc Dương có thể ngay lập tức cho
họ "về vườn". Đồng thơi, dẫu có dốc hết cả ngân khố của Ngân hàng
Trung Quốc để trao đổi thì chi nhánh Thượng Hải không có đủ thực lực để thực hiện
điều này. Vào thời điểm đó ngân khố chỉ có hơn 2 triệu tiền mặt, nếu dốc hết ra
để đổi thì sẽ cần bao nhiều bạc, bắt buộc phải đưa ra một dự đoán chính xác.
Nhưng lúc này trong đầu Trương Gia Ngạo đã lên kế hoạch, ông chuẩn bị tung một
cú ngoạn mục!
Cặp bài
trùng Trương Gia Ngạo và Tống Hán Chương không để lộ chút manh mối nào, đầu
tiên họ tìm gặp những vị "đại chưởng quỹ" trong giới tài phiệt
Giang-Chiết: Trần Quang Phủ, tổng giám đốc của Ngân hàng Thương mại và Tiết kiệm
Thượng Hải, Tưởng Hồng Lâm, giám đốc điều hành của Ngân hàng Công nghiệp Chiết
Giang, và Lý Phục Tôn, tổng giám đốc của Ngân hàng Công nghiệp địa phương Chiết
Giang. Họ là những nhân vật thủ quỹ của ba ngân hàng tư nhân nổi tiếng nhất
phía nam Trung Quốc (còn gọi là "nam tam hàng") trong thời kỳ Bắc
Dương. Trương Gia Ngạo yêu cầu họ thay mặt cho các cổ đông và người gửi tiền
tương ứng đâm đơn kiện ông ra tòa!
Theo pháp
luật tại thời điểm đó, trong thời gian tố tụng, chính quyền không có quyền bắt
giữ và thay thế giám đốc và phó giám đốc hiện tại, vậy là họ đã nhanh tay điểm
trước "huyệt đạo" của chính phủ Bắc Dương. Ngay sau đó, Trương Gia Ngạo
đã mời hai nhân vật là Gubo người Anh và Murakami người Nhật Bản đứng ra thay
ông "diễn" một vở kịch đặc sắc. Gubo và Murakami thay mặt cho các cổ
đông tiếp nhận Ngân hàng Trung Quốc, sau đó, họ lại thay mặt các cổ đông phát
hành tài liệu cổ đông cho Trương Gia Ngạo và Tống Hán Chương, lệnh cho họ tiếp
tục chủ trì các nghiệp vụ của chi nhánh và tiếp tục kinh doanh như thường.
(Trong thời kỳ Bắc Dương, mối quan hệ giữa người Anh và người Nhật Bản vẫn hết
sức khắng khít, mãi tới những năm 1930 họ mới dần dần tách ra).
Còn vấn đề
liên quan đến bạc, Trương Gia Ngạo đã liên hệ với "nam tam hàng" và
các ngân hàng nước ngoài để hỗ trợ Ngân hàng Trung Quốc. "Nam tam
hàng" đa số đều là cổ đông của Ngân hàng Trung Quốc, lợi ích của họ có
liên quan chặt chẽ với nhau. Đồng thời, các ngân hàng nước ngoài biết rõ rằng Ngân
hàng Trung Quốc chính là trụ cột của ngành tài chính Trung Quốc. Một khi ngân
hàng này sụp đổ thì cục diện sẽ chẳng thể cứu vãn, và điều đó cũng rất bất lợi,
thế nên họ đã nhanh chóng ký hợp đồng thấu chi 2 triệu đồng với ngân hàng này.
"Lệnh
ngừng đổi tiền" của chính phủ chính thức có hiệu lực, ngay lập tức hình
thành nên tình trạng đột biến rút tiền gửi khủng khiếp. Cả một biển người chen
chúc trước cửa ngân hàng, họ "dẫm đạp lên nhau, trèo qua tường chui vào cửa,
không màng đến sống chết". Ngân hàng Trung Quốc chi nhánh Thượng Hải tuy
đã chuẩn bị đầy đủ từ trước đó, ai muốn rút bao nhiều cũng được, thế những dòng
người vẫn cuồn cuộn đổ về như thác lũ. Vào thứ Bảy, theo thường lệ ngân hàng chỉ
mở trong nửa ngày, nhưng Trương Gia Ngạo quyết định tiếp tục kinh doanh vào buổi
chiều, và đăng báo để công cáo.
Vào Chủ nhật,
ngân hàng tiếp tục thông báo rằng vẫn sẽ mở cửa để khách hàng tới rút tiền. Người
dân nhận thấy Ngân hàng Trung Quốc là một ngân hàng "đáng tin cậy",
không nhất thiết phải đến tranh nhau rút tiền nữa. Vì vậy tâm trí của mọi người
đã ổn định và cơn sóng gió đột biến rút tiền gửi đã hoàn toàn tan biến. Sau khi
giông bão trôi qua, danh tiếng của Ngân hàng Trung Quốc đột nhiên tăng lên, còn
Trương Gia Ngạo và Tống Hán Chương được giới truyền thông xưng tụng là "những
chủ ngân hàng đầy can đảm và giàu mưu lược". Nếu không có các cường quốc
"chống lưng" phía sau, một nhân vật giết người không gớm tay như Viên
Thế Khải há lại tha cho hai vị chủ ngân hàng "gan to bằng trời" này.
Sau đó, Trương
Gia Ngạo trở thành phó chủ tịch của Ngân hàng Trung Quốc, trên thực tế ông là
người chủ trì mọi nghiệp vụ của Ngân hàng Trung Quốc. Ngay khi nhậm chức, ông
đã đề xuất rằng Ngân hàng Trung Quốc nên gia tăng cổ phần thương mại, giảm thiểu
cổ phần chính phủ để thoát khỏi sự kiểm soát của chính phủ. Truong Gia Ngạo dựa
vào mối quan hệ thân mật với những nhân vật có tiếng nói trong giới tài phiệt
Giang-Chiết như Trần Quang Phủ, Lý Phục Tôn, Ngô Cáp Khanh, Tống Hán Chương, Tưởng
Hồng Lâm, Tiền Tân Chi… để đứng ra khởi xướng "bữa tiệc tối thứ Sáu"
tại biệt phủ nhà họ Trương. Sau đó, "bàn tiệc nhỏ nhà họ Trương" dần
dần được mở rộng và diễn biến thành Hiệp hội Ngân hàng Thượng Hải. Giới tài phiệt
Giang-Chiết kiểm soát 14 trong số 22 ngân hàng thành viên của Hiệp hội Ngân
hàng Thượng Hải. Đến năm 1925, 14 ngân hàng này nắm giữ 84% tổng số vốn của tất
cả các ngân hàng thành viên.
Ngân hàng
Trung Quốc đã nhiều lần mở rộng cổ phần thương mại và gia tăng sức ảnh hưởng của
cổ phần thương mại. Giới tài phiệt Giang-Chiết đã huy động được 6 triệu đồng cổ
phần. Sau đó, chính phủ Bắc Dương bị mất cân đối tài chính, nên đành rao bán 5
triệu đồng cổ phiếu chính thức. Tỉ lệ cổ phần thương mại dần tăng lên 97,47%
vào năm 1923, lúc đó Ngân hàng Trung Quốc đã nằm dưới sự kiểm soát của cổ phần
thương mại.
Khi Tưởng
Giới Thạch tiến quân vào Thượng Hải, Ngân hàng Trung ương được thành lập vào
năm 1928, chính phủ quốc dân đã tiến hành cải tổ Ngân hàng Trung Quốc, Ngân
hàng Giao thông và buộc họ phải tăng vốn và cổ phần. Cho dù là một cổ đông nhỏ,
nhưng xét cho cùng chính phủ vẫn chiếm một ghế trong hai ngân hàng chủ lực này,
là một thế lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Nhận xét
Đăng nhận xét