"TÚI TIỀN" HỖ TRỢ "NÒNG SÚNG"
Trong những
ngày đầu khu vực Xô Viết được thành lập, nền kinh tế vẫn chưa phục hồi và phát
triển, thế nên huy động vốn là nguồn cung chủ yếu cho chi phí quân sự và thu nhập
tài chính. Chi tiêu quân sự cho ba lần chống "vây tiễu" đều dựa vào
lượng tài sản thu thập được từ những lần quân đội tiến hành đánh địa chủ cường
hào và tịch thu vật tư của Quốc dân Đảng.
![]() |
| Công trái chiến tranh cách mạng của khu vực Xô Viết |
Để hỗ trợ
cho "nòng súng" của mình, chính phủ khu vực Xô Viết đã xây dựng chính
sách "bảo đảm nguồn cung cho chiến tranh cách mạng, bảo đảm chi tiêu cho tất
cả các chi phí cách mạng của khu vực Xô Viết", áp dụng các biện pháp để thống
nhất tài chính, gia tăng tích trữ, gia tăng thuế và phát hành nợ công để giải
quyết các khoản chi tiêu của quân đội và chính phủ.
Trong những
ngày đầu thành lập khu vực Xô Viết, chính quyền các cấp đều có những chính sách
riêng, không có bất cứ chính sách tài khóa nào đáng kể, thu dùng tùy ý, lãng
phí tùy tiện, cũng chẳng có kế hoạch hay dự toán. Nguồn thu tài chính luôn bắt
nguồn từ việc tịch thu tài sản của địa chủ cường hào. Do thiếu kinh nghiệm về
thuế, nên một số nơi thu thuế tùy ý bất kể tầng lớp, một số chính quyền địa
phương thì thu bao nhiêu dùng bấy nhiêu, không nộp một đồng lên trung ương. Chi
tiêu của chính phủ ở tất cả các cấp vô cùng mất cân đối, thu nhập ít, tối đa
cũng chỉ đạt vài ngàn tệ.
Để thống nhất
tài chính và khắc phục hiện tượng tham nhũng lãng phí, tự tung tự tác, chính
quyền trung ương đã quy định rằng tất cả các khoản thu của chính quyền các cấp
đều phải gửi đến Bộ Tài chính. Các khoản chi tiêu phải dựa theo ngân sách được
phê duyệt, và bảng quyết toán cuối cùng phải được nộp cho cơ quan cấp cao hơn.
Mao Trạch Dân chỉ ra rằng tham nhũng và lãng phí là "những tội ác lớn"
để cảnh cáo cho các nhân viên chính phủ. Đồng thời, để đối phó với hiện tượng
chính quyền các cấp không phân định rõ ràng thu tiền, quản lý tiền và dùng tiền,
không chế ước lẫn nhau trong hệ thống kế toán, ngân hàng quốc gia – với tư cách
là đại lý của kho bạc chính phủ, đã hình thành một hệ thống quản lý vốn thống
nhất gồm bốn liên (bốn đơn vị) để đảm bảo rằng bên thu tiền, bên quản lý (kho bạc
nhà nước), bên sử dụng và bên chi phối đều có biên bản nghiêm ngặt của riêng
mình, ngăn ngừa tham nhũng lãng phí.
Sau khi thống
nhất tài chính, chính phủ trung ương có thể tiết kiệm hiệu quả và tập trung nguồn
lực tài chính hỗ trợ chiến tranh.
Sự phát triển
vượt bậc của nền kinh tế nông thôn ở khu vực Xô Viết đã tạo điều kiện thuận lợi
cho chính phủ triển khai đánh thuế đất và thuế thương mại đối với nông dân. Thuế
suất được chia thành ba loại: nông dân nghèo, nông dân trung lưu và nông dân
giàu. Ngoài ra còn có một loạt các quy định về miễn giảm thuế. Khi cơ quan thuế
vụ tiến hành trưng thu thuế đất, họ phải sử dụng biên lai thu thuế và giấy chứng
nhận miễn thuế thống nhất. Vào thời điểm đó, rất nhiều nông dân đã coi biên lai
thu thuế và giấy chứng nhận miễn thuế của cơ quan thuế vụ khu vực Xô Viết làm bằng
chứng về quyền sở hữu đất đai.
Tháng 3 năm
1933, khu vực Xô Viết trung ương cũng đã thiết lập một hệ thống thuế quan thống
nhất. 15 khu vực Xô Viết lần lượt thiết lập gần 30 cơ quan hải quan, qua đó khu
vực Xô Viết đã viết có bộ phận "hải quan đỏ" độc lập, tự chủ.
Những loại
thuế này đã trở thành một phần quan trọng trong doanh thu của chính phủ. Đồng
thời, ngân hàng quốc gia cũng phát động phong trào tiết kiệm, "thông báo
cho các cơ quan thuộc đảng chính phủ và quân sự, và các xí nghiệp nhà nước rằng
họ bắt buộc phải mở tài khoản tiền gửi với ngân hàng, và việc vay được xử lý
theo thủ tục thấu chi." "Phong trào tiết kiệm có thể khuyến khích
đông đảo quần chúng công nhân và nông dân tham gia tiết kiệm trong cuộc sống hằng
ngày của họ. Mọi người gửi những khoản tiền nhỏ lẻ mà mình tiết kiệm được vào
ngân hàng, tích tiểu thành đại. Các ngân hàng thường sử dụng một cách linh hoạt
hoặc tập trung các quỹ thặng dư xã hội này để đầu tư cho các hợp tác xã khác
nhau, đặc biệt là hợp tác xã tín dụng, cũng như các đơn vị sản xuất do công
nhân và nông dân điều hành, đốc toàn lực để phát triển sản xuất khu vực Xô Viết,
mở rộng ngoại thương và nhanh chóng giải quyết các vấn đề về suy giảm muối ăn,
vải vóc và tiền mặt."
Phát hành
công trái (nợ công) là một cách khác để chính phủ huy động vốn. Nó không chỉ
tránh được việc phát hành tiền tệ quá mức mà còn cung cấp cơ hội đầu tư cho người
dân. Chính phủ Xô Viết đã phát hành tổng cộng ba đợt trái phiếu, đợt đầu tiên
và đợt thứ hai là trái phiếu chiến tranh, số tiền lần lượt là 600.000 nhân dân
tệ và 1,2 triệu nhân dân tệ, còn đợt thứ ba là trái phiếu xây dựng kinh tế, số
tiền là 3 triệu nhân dân tệ. Những người mua đợt đầu tiên có thể sử dụng trái
phiếu để trả thuế đất và thuế kinh doanh. Kết quả là trái phiếu đã nhanh chóng
quay trở về tay của chính phủ, trên thực tế đã gây ra tổn thất tài chính. Sau
đó, chính phủ ý thức được rằng không được để trái phiếu trở về tay minh trước
thời hạn mua lại, nên họ đã cấm thanh toán trực tiếp trái phiếu.
Việc khu vực
Xô Viết phát hành công trái không hề giống với việc Thượng Hải bán toàn bộ nợ
công cho ngân hàng – ngân hàng sẽ tiến hành mua bán đầu cơ chứng khoán, mà thay
vào đó họ đã huy động quần chúng, đi theo con đường bán trực tiếp. Việc phát
hành công trái đã làm phong phú thêm doanh thu tài chính của khu vực Xô Viết và
hỗ trợ cuộc chiến chống lại chiến lược "vây tiễu".
Những biện
pháp này đã giúp gia tăng hiệu quả chi tiêu quân sự của Hồng quân mà không tạo
ra gánh nặng quá lớn cho người dân.
Và tất cả
điều này đều dựa trên một loại tiền tệ thống nhất!
Nếu không
có tiền tệ thống nhất, tất cả các loại tiền tạp nham sẽ được thu vào kho bạc quốc
gia, điều đó sẽ gây rắc rối cực lớn cho vấn đề quản lý và chi tiêu. Chỉ riêng
việc chuyển đổi giữa các loại tiền khác nhau, loại tiền nào được sử dụng để tài
trợ, đếm tiền hoặc viết bảng biểu kế toán mỗi ngày thôi cũng quá đủ phiền phức
rồi. Khi phát hành công trái sẽ dùng loại tiền nào để mua, rồi lại dùng loại tiền
nào để trả lãi và chuộc lại công trái? Đó sẽ là một cơn ác mộng! Sự thống nhất
về mặt tiền tệ quả thực đã cung cấp một "vật truyền tải" thống nhất
cho những chính sách và chế tài này.
Trong giai
đoạn hậu kỳ của khu vực Xô Viết, dưới tác động của tư tưởng "cánh tả",
ngân hàng quốc gia đã vi phạm nguyên tắc quan trọng là "Ngân hàng quốc gia
phát hành tiền giấy về cơ bản phải dựa trên nhu cầu phát triển kinh tế quốc
gia, và chỉ được phép đặt nhu cầu tài chính ở vị trí thứ yếu", dẫn đến số
lượng tiền tệ phát hành quá mức lên tới 8 triệu nhân dân tệ.
Dưới sự
lãnh đạo quân sự nghiêng về "cánh tả", Hồng quân liên tiếp thua trận
và các khu căn cứ địa không ngừng thu hẹp. Trong khi đó, lưu thông tiền tệ tiếp
tục mở rộng, gây ra lạm phát nghiêm trọng và tín dụng tiền giấy giảm mạnh, khiến
cho niềm tin của người dân khu vực Xô Viết dành cho chính quyền cách mạng bị tổn
hại nghiêm trọng.

Nhận xét
Đăng nhận xét