CÔNG XÃ PARIS, CHỊU CẢNH ĐÓI KHÁT DÙ NẮM TRONG TAY CHIẾC BÁT VÀNG
Cuối tháng
5 năm 1871, trong nghĩa trang Père-Lachaise ở Paris, một vài tiếng súng vang
lên, những người lính cuối cùng của Công xã Paris đã gục ngã trước "Bức tường
Công xã"(49). Chế độ vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người - Công xã
Paris, đã bị đàn áp dã man chỉ hai tháng sau khi ra đời. Điều gì đã khiến cho
ngọn lửa hỏa diệm của cuộc cách mạng bị dập tắt nhanh đến vậy?
Chú
thích:
(49) Bức
tường Công xã tại nghĩa trang Père Lachaise là nơi, vào ngày 28 tháng 5 năm
1871, 147 chiến binh của Công xã Paris, đã bị bắn.
Một yếu tố
quan trọng chính là tiền, tiền của Ngân hàng Pháp!
"Ngân
hàng Pháp được thành lập năm 1800, 200 cổ đông có quyền biểu quyết đủ điều kiện
để bầu 12 thành viên hội đồng quản trị. Nếu phân tích chi tiết hơn, bạn có thể
thấy rằng 200 cổ đông này về cơ bản thuộc cùng một nhóm, đó chính là 44 gia tộc
cốt lõi đang nắm quyền kiểm soát Ngân hàng Pháp. Không những vậy, những vị trí
do các gia tộc này nắm giữ có thể được thừa kế. Trong số đó, có ba gia tộc mà vị
trí của họ chưa hề thay đổi trong suốt 100 năm, họ là gia tộc Malite, gia tộc
Mirabo và gia tộc Rothschild. Malite và Mirabo là hai gia tộc nắm Ngân hàng Thụy
Sĩ, do đã bí mật tài trợ cho cuộc đảo chính tháng Sương Mù của Napoléon nên họ
được Napoléon ủy quyền thành lập Ngân hàng Pháp. Rothschild là đại diện của các
gia tộc ngân hàng Do Thái sau này đã trỗi dậy. Thông qua việc tiến hành hàng loạt
các hoạt động tài chính với quy mô "dời non lấp bể" đối với chính phủ
Pháp qua các triều đại như chính phủ Napoléon, triều đại Bourbon và Công tước xứ
Orleans, gia tộc Rothschild đã mở ra "vương triều tháng 7" với thế lực
vô tiền khoán hậu tại nước Pháp, từ đó trở thành thành viên cốt lõi của Ngân
hàng Pháp."
Ngân hàng
Pháp do gia tộc Rothschild kiểm soát là cốt lõi của ngành tài chính ở Paris.
Vào thời điểm đó, Paris không chỉ là trung tâm kinh tế và tài chính của Pháp,
mà còn là trung tâm tài chính của toàn lục địa châu Âu. Đồng franc là loại tiền
tệ pháp định của Pháp. Ngoại hối và vàng mà nó nắm giữ là sự đảm bảo cho sức
mua quốc tế của đồng franc. Trái phiếu mà nó bán ra có mức tín dụng cao nhất và
là kênh chính để chính phủ Pháp có được nguồn tiền.
Các chủ
ngân hàng kiểm soát Ngân hàng Pháp tin rằng mục tiêu của chế độ vô sản do Công
xã Paris đại diện là chống lại giai cấp tư sản và triệt phá cơ bản lợi ích cốt
lõi của giai cấp tư sản. Mặt khác, điều mà chế độ vô sản quan tâm là việc thu xếp
tài chính và bồi thường chiến tranh cho nước Phổ. Ngay cả khi Công xã Paris lên
nắm quyền, họ không hề đụng chạm gì tới Ngân hàng Pháp. Nhưng đối với vấn đề bồi
thường và huy động tài chính, chính phủ vô sản chắc chắn sẽ theo đuổi một thái
độ cứng rắn. Đến lúc đó, không chỉ số tiền bổi thường có thể giảm bớt, mà việc
huy động vốn cũng chưa chắc sẽ do các chủ ngân hàng này đảm trách. Nhiều khả
năng chính phủ sẽ trực tiếp vay từ các công dân của mình, và như vậy chiếc bánh
trái phiếu chiến tranh mà các chủ ngân hang thèm khát bấy lâu sẽ tan thành mây
khói. Tiền bạc thì không có tổ quốc, trong mắt các chủ ngân hàng thì chỉ có lợi
ích mà thôi! Nếu có thể dễ dàng điều khiển chính phủ Versailles, vậy thì sự lựa
chọn của các chủ ngân hàng là hiển nhiên.
Các nhà
lãnh đạo chính sách kinh tế của Công xã Paris thật quá đỗi ngây thơ nghĩ rằng mục
tiêu của Công xã Paris là tạo ra một khu tự trị địa phương của Paris, chứ không
phải trở thành chính quyền trung ương của Pháp. Do đó, họ không có quyền hoặc
nhất thiết phải tiếp quản Ngân hàng Pháp – với vai trò là một ngân hàng trung
ương. Việc phó mặc ngân hàng này trong tay các nhà quản lý cũ – những kẻ có mối
quan hệ mật thiết với chính quyền Versailles, chính là một sai lầm chết người.
Các nhà
lãnh đạo của Công xã Paris đã không ý thức được rằng ai nắm quyền kiểm soát
Ngân hàng Pháp thì kẻ đó sẽ nắm quyền kiểm soát huyết mạch kinh tế của Pháp.
Huyết mạch đó sẽ quyết định ai là người phân bổ tài nguyên, và cũng quyết định
bộ máy nhà nước sẽ vì ai mà phục vụ. Vì lẽ đó, đây không chỉ là một sai lầm về
kinh tế mà còn là một sai lầm về chính trị. Như Engels đã nói, nếu như Công xã
Paris tiếp quản Ngân hàng Pháp, "điều đó sẽ có ý nghĩa hơn cả việc nắm giữ
trong tay 10.000 con tin".
Trong khoảng
thời gian dài hơn hai tháng tồn tại của Công xã Paris, chỉ tính riêng bằng tiền
mặt, Ngân hàng Pháp đã có hàng tỷ franc, vậy mà Công xã Paris chỉ nộp đơn xin
và nhận khoản vay nghèo nàn trị giá 16 triệu franc từ ngân hàng này. Công xã
Paris đã không tiếp quản Ngân hàng Pháp. Kết quả là, nó đã phải chịu cảnh đói
khát dù nắm trong tay chiếc bát vàng, và nó không thể khiến cho các chủ ngân
hàng do gia tộc Rothschild lãnh đạo gây áp lực cho chính phủ Versailles để đàm
phán với Công xã Paris. Thay vào đó, họ đã cho các chủ ngân hàng cơ hội để chuyển
hơn 200 triệu franc!
Nhờ số tiền
khổng lồ này, chính phủ Versailles mới có thể "Chỉ cần trọng thưởng, ắt có
dũng sĩ". Từ hơn 10.000 tàn binh bại tướng ban đầu, họ chỉ mất một thời
gian rất ngắn đã tập kết được đại quân lên tới 110.000 người để tiến hành phản
công Công xã Paris.
Vào thời điểm
hệ trọng này, để đảm bảo quyền lợi của các chủ ngân hàng, Rothschild đã trực tiếp
tham gia vào các cuộc đàm phán liên quan đến việc bồi thường giữa Versailles và
Bismarck sau khi Chiến tranh Pháp-Phổ kết thúc.
"Quân
đội của Bismarck đã bắt đầu chỉnh đốn lại, nhưng các chủ ngân hàng quốc tế thậm
chí còn bận rộn hơn. Nghiệp vụ bồi thường chiến tranh lên tới 5 tỷ franc là một
khối lượng khổng lồ. Nếu tính 1% phí quản lý thì chỉ riêng nghiệp vụ đó đã là một
chiếc bánh lớn trị giá 50 triệu franc!"
Về số tiền
bồi thường chiến tranh, Chính phủ Thiers của Pháp ước tính rằng khoảng 5 tỷ
franc, nhưng Bismarck đã lấy một tờ giấy và nhanh chóng viết ra 6 tỷ franc!
Thiers đứng bật dậy. Hai người bắt đầu một cuộc tranh cãi nảy lửa.
Cuối cùng,
Thiers đã mời Rothschild đứng ra dàn xếp. Khi Rothschild xuất hiện, Bismarck đã
trút tất cả sự tức giận của mình lên đầu Rothschild, và tất cả những người có mặt
đều bị sốc. Rothschild vẫn hết sức bình thản, khăng khăng rằng 5 tỷ franc là 'mức
bồi thường có thể gia tăng'. Dẫu Thiers có phẫn nộ thế nào chăng nữa, vị trí của
Rothschild trên thị trường tài chính quốc tế là không thể lay chuyển. Nếu không
chấp nhận điều kiện của ông ta thì chớ hi vọng rằng sẽ huy động được đủ tiền bồi
thường chiến tranh trên thị trường tài chính châu Âu. Sau khi cân nhắc những ưu
và khuyết điểm, Bismarck đành phải chấp nhận mức "báo giá" 5 tỷ franc
của Rothschild. Những việc mà Chính phủ Thiers của Pháp không thể làm được, gia
tộc Rothschild chỉ cần xuất đầu lộ diện là đã dàn xếp xong xuôi.
Thủ tướng Bismarck
đã hứa sẽ hồi hương chục ngàn tù binh Pháp và duy trì thế "trung lập",
thậm chí cho phép Versailles vượt qua tuyến phòng thủ của Phổ để tấn công
Paris.
Một điều
đáng kinh ngạc đó là khi Chính phủ Versailles, Bismarck và các chủ ngân hàng quốc
tế bắt tay hợp sức để quét sạch kẻ thù chung Công xã Paris và cố gắng giành lại
chính quyền, các nhà cách mạng lại dành thời gian và sức lực của họ cho các vấn
đề vặt vãnh tầm thường như làm thế nào để cải thiện đãi ngộ đối với giáo viên.
Vì vậy, bi kịch không thể tránh khỏi đã xảy ra.
Sức mạnh của
ngân hàng bắt nguồn từ loại hàng hóa mà nó kinh doanh – tiền tệ, trong khi sức
mạnh của một ngân hàng trung ương bắt nguồn từ nguồn tiền mà nó kiểm soát. Cách
hiệu quả nhất để kiểm soát một nền kinh tế là kiểm soát tiền tệ của nền kinh tế
đó. Để kiểm soát tiền tệ của nền kinh tế, điều quan trọng nhất là kiểm soát hệ
thông ngân hàng tạo ra tiền tệ, đặc biệt là ngân hàng trung ương.
Bài học của
Công xã Paris cho thấy, một chế độ cách mạng sẽ trở nên yếu đuối và mong manh
như thế nào nếu họ không nắm được huyết mạch kinh tế của chính mình. Trong xã hội
hiện đại, các ngân hàng, đặc biệt là hệ thống tài chính với ngân hàng trung
ương là cốt lõi, là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với một chế độ và một nền kinh
tế. Ngay từ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, Marx và Engels đã
tuyên bố rõ ràng rằng giai cấp vô sản, sau khi trở thành giai cấp thống trị thì
"phải tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua ngân hàng nhà nước –
chủ thể sẽ nắm độc quyền và kiểm soát nguồn vốn quốc gia".
Nửa thế kỷ
sau thất bại của Công xã Paris, chính Lê-nin đã biến những chủ trương của Marx
và Engels thành hiện thực. Những kiến thức và thực tiễn của Lê-nin đối với hệ
thống ngân hàng là hết sức sâu sát. Ông chỉ ra rằng ngân hàng là "trung
tâm của đời sống kinh tế hiện đại, và là thần kinh trung ương của toàn bộ hệ thống
kinh tế quốc gia tư bản chủ nghĩa". "Các ngân hàng hiện đại sẽ liên kết
chặt chẽ với lĩnh vực thương mại (lương thực và tất cả các lĩnh vực thương mại
khác) và các ngành công nghiệp khác đến mức chúng ta sẽ chẳng thể thực hiện bất
cứ điều gì quan trọng hay bất kỳ 'nền dân chủ cách mạng' nào mà không 'nhúng
tay' vào ngân hàng."
Chính vì
Liên Xô kiểm soát chặt chẽ hệ thống ngân hàng nên họ mới có thể sống sót một
cách kỳ diệu qua vô số thời khắc khó khăn. Chỉ trong vòng 15 năm, từ một quốc
gia lạc hậu, họ đã lột xác để trở thành một trong những siêu cường thế giới.
Kể từ khi
Chiến tranh Nga-Nhật năm 1905 kết thúc với kết quả là sự thảm bại của Nga. Nga
đã trở thành một kẻ ăn xin đáng thương trong số các cường quốc. Vào giai đoạn hậu
kỳ của Thế chiến I năm 1917, Cách mạng Tháng Mười đã nổ ra ở Nga. Để bảo toàn
xây dựng và bảo toàn thực lực của Xô Viết, Nga đã rút khỏi Thế chiến I và chấp
nhận ký Hiệp ước Hòa bình Brest-Litovsk với Đức – một hiệp ước bị coi là
"làm nhục quốc thể", đồng ý cắt nhượng 1 triệu kilômét vuông, mất đi
90% than đá, 73% quặng sắt, 54% công nghiệp và 33% đường sắt và Đức được bồi
thường 6 tỷ mark. Tiếp theo đó là cuộc nội chiến kéo dài nhiều năm ở Nga, và
tình hình mãi đến năm 1923 mới dần dần ổn định trở lại.
Sau khi nhà
nước Liên Xô được thành lập, kinh tế dần đi vào quỹ đạo, và hệ thống ngân hàng
dưới sự kiểm soát của nhà nước ngay lập tức đã phát huy "uy lực" khổng
lồ trong việc phục hồi kinh tế và sự phát triển của ngành công nghiệp nặng. Chỉ
sau vỏn vẹn 15 năm, sản xuất công nghiệp của Liên Xô đã nhảy lên vị trí thứ hai
trên thế giới, trở thành một trong những quốc gia hùng mạng nhất thế giới. Năm
1939, khi quân Nhật và Liên Xô đối đầu trực diện ở Khalkhyn Gol, trên chiến trường
chính diện trải dài 7km2 và chỉ rộng khoảng vài trăm mét, xe tăng của
Liên Xô đã tràn ngập chiến địa và tiếng hỏa pháo long trời lở đất. Đội quân
Quang Đông tinh nhuệ của Nhật Bản phải hứng chịu tổn thất nghiêm trọng. Trong
Chiến tranh Vệ Quốc, năng lực sản xuất mạnh mẽ của ngành công nghiệp nặng đã đảm
bảo nguồn cung ứng thiết bị quân sự liên tục cho Liên Xô cho đến khi chinh phục
được Berlin.
Không có sức
mạnh tài chính thì không thể có ngành công nghiệp và quốc phòng mạnh mẽ.
Nhận xét
Đăng nhận xét