TIỀN TỆ CỦA NHÂN DÂN, PHỤC VỤ CHO NHÂN DÂN
60% diện
tích đất đai của Trung Quốc cao hơn 2.000 mét so với mực nước biển, không phù hợp
cho trồng trọt. Đồng thời, phần lớn các khu vực có lượng mưa rất ít. Tồi tệ hơn
là, lũ lụt do những đợt gió mùa bất thường luôn gây ra mất mùa nghiêm trọng, dẫn
đến nạn đói với quy mô lớn.
So với Mỹ,
vào năm 1945, 6,5 triệu nông dân Mỹ đã nuôi sống 140 triệu người và diện tích
trồng trọt lên tới 365 triệu mẫu Anh. Còn ở Trung Quốc vào thời điểm đó, 65 triệu
nông dân đang nuôi sống 400 triệu người, nhưng diện tích trồng trọt chỉ là 217 triệu
mẫu Anh.
Áp lực đất
đai và thuế khóa ngày càng nặng nề khiến cho tầng lớp nông dân của xã hội Trung
Quốc cũ khó có thể đảm bảo được một đời sống no ấm ngay cả trong những năm
tháng bình thường. Nông dân bất đắc dĩ phải tận dụng mọi nguồn lực sẵn có để
duy trì đất đai đang ngày càng khô kiệt. Họ nhặt từng chiếc lá, từng ngọn cỏ
khô và từng cọng lúa mì rơi vãi để làm nhiên liệu. Phân bón được sử dụng cẩn thận
để khôi phục độ phì nhiều của đất.
Ở Trung Quốc,
mục tiêu của nông nghiệp có sự khác biệt cơ bản với các quốc gia thuộc địa mới
như Mỹ, Úc và New Zealand. Thừa đất và thiếu lao động là tình trạng phổ biến ở
các nước này, trong khi ở Trung Quốc thì hoàn toàn ngược lại. Do đó, mục tiêu
mà ngành nông nghiệp Trung Quốc theo đuổi là sản lượng tối đa trên một đơn vị đất
đai, trong khi Mỹ thì theo đuổi sản lượng tối đa trên một đơn vị dân số. Trung
Quốc có thể tập trung một lượng lớn sức lao động để cấy cày, canh tác một cách
chuyên sâu, tỉ mẩn trên một vùng đất chật hẹp, trong khi nông dân Mỹ thì ưu
tiên sử dụng các biện pháp tiết kiệm lao động như cơ giới hóa nông nghiệp và
phân bón hóa học. Sau khi sự đầu tư này được chia sẻ bởi hệ số đất nông nghiệp
bình quân đầu người, chi phí trở nên tương đối rẻ. Tuy nhiên, với bối cảnh tỷ lệ
đất đai bình quân đầu người rất ít của Trung Quốc, khoản đầu tư này đắt đỏ đến
mức khó chấp nhận được.
Tình trạng
dư thừa lao động nông nghiệp và tối đa hóa sản lượng đất đai ở xã hội Trung Quốc
cũ chắc chắn sẽ tạo ra nghèo đói quy mô lớn và thiếu việc làm. Trong thời kỳ
nông nhàn, dân số nông nghiệp bất đắc dĩ phải tham gia vào các ngành thủ công
khác nhau để bổ sung cho thu nhập nông nghiệp vốn hết sức ít ỏi của mình. Nếu
đánh giá hệ thống kinh tế nông nghiệp của Trung Quốc cũ, chúng ta có thể thấy rằng
nó luôn trong trạng thái cân bằng khá mong manh, nguồn lực của cải để kháng chịu
thiên tai địch họa của nó "mỏng như cánh ve", thu nhập của ngành thủ
công mỹ nghệ nông thôn đã trở thành "chiếc van giảm áp" chính cho hệ
thống kinh tế rủi ro cao-cân bằng yếu này.
Lúc này,
các lực lượng kinh tế phương Tây đã ập tới với sức mạnh không gì cản nổi.
Trong thời
đại của cuộc cách mạng công nghiệp, tất cả các loại hàng hóa được sản xuất bằng
máy móc giá rẻ, quy mô lớn đã đổ vào Trung Quốc như sóng triều, và các sản phẩm
dệt thủ công địa phương, sản phẩm gỗ, sản phẩm gốm sứ, quần áo, giày dép của
Trung Quốc ngày càng khó cạnh tranh với các sản phẩm phương Tây tại thị trường
địa phương. Sau khi đánh mất thu nhập từ ngành nghề thủ công, hệ thống kinh tế
nông thôn đã đứng trên bờ vực sụp đổ. Trung Quốc vốn dĩ có thể sử dụng thuế
quan cao để giảm thiểu tác động mang tính phá hủy của các lực lượng kinh tế
phương Tây, nhưng các cường quốc phương Tây sẽ không bao giờ cho phép các nước
lạc hậu áp dụng các chính sách tự bảo vệ. Khi cần thiết, họ sẽ không ngần ngại
sử dụng vũ lực. Trung Quốc đã buộc phải chấp nhận mức thuế cực thấp 5% và bị
các cường quốc phương Tây kiểm soát đối với các vấn đề hải quan và hệ thống tài
chính.
Từ năm 1900
đến năm 1940, tình hình kinh tế nông thôn ở Trung Quốc ngày càng xấu đi, 10%
người giàu sở hữu 53% đất canh tác, và đất đai xuất hiện tình trạng lũng đoạn
cao độ. Tuyệt đại đa số nông dân đã trở thành nông dân làm mướn (lĩnh canh) và
phải trả 1/3-1/2 số nông sản như tiền thuê mỗi năm. Do đó, việc thiếu thốn thu
nhập khiến hơn một nửa số nông dân phải đi chạy vạy vay tiền để sống sót qua
ngày. Vào thời điểm đó, lãi suất hàng năm của các khoản vay mùa vụ của Trung Quốc
là 85%, và lãi suất hàng năm của các khoản vay tiền tệ cao tới 20% đến 50%!
![]() |
| Di tích lịch sử: Tòa nhà Chính phủ trung ương lâm thời Cộng hòa Xô Viết Trung Quốc |
Dưới bối cảnh đất đai bị lũng đoạn cao độ, tiền thuê bị bốc lột cực độ, lãi suất vắt kiệt ở mức khủng khiếp như vậy, hệ thống kinh tế nông nghiệp đã bị phá hủy hoàn toàn, và giai cấp nông dân đã mất đi hi vọng sống sót, cách mạng đã trở thành điều không thể tránh khỏi.
Ở đâu có áp
bức, ở đó có phản kháng! Điều kỳ lạ không phải là tại sao cuộc cách mạng nổ ra ở
vùng nông thôn Trung Quốc, mà tại sao cuộc cách mạng nổ ra muộn đến vậy!
Mao Trạch
Đông đã nhìn thấu tấm bản đồ của nền kinh tế nông thôn Trung Quốc và nhận thấy
rằng nền kinh tế nông thôn ở nhiều nơi đang đứng trước bờ vực sụp đổ. Ông biết
rằng đó là vùng đất màu mỡ cho cách mạng "một đốm lửa nhỏ có thể bừng lên
một đám cháy lớn", rất có tiềm năng để xây dựng một thế lực "cát cứ
vũ trang công-nông", đặc biệt là "trong quá trình diễn ra cuộc cách mạng
dân chủ tư sản từ 1926 đến 1927, những địa phương mà đội quân của giai cấp
công-nông đã ồ ạt vùng dậy như Hồ Nam, Quảng Đông, Hồ Bắc, Giang Tây và các tỉnh
khác. Ở nhiều nơi trong các tỉnh này, đã từng có một số lượng lớn các tổ chức
đoàn thể nông dân và công đoàn, những tổ chức này đã tiến hành rất nhiều cuộc đấu
tranh kinh tế và chính trị giữa giai cấp công-nông chống lại giai cấp địa chủ
cường hào và giai cấp tư sản." Ý tưởng hình thành thế lực "cát cứ đỏ"
mà ông đề xuất hoàn toàn không phải là lý thuyết suông mà dựa trên thực tiễn cuộc
sống. Ông đã bắt đầu thực hiện xây dựng khu vực Xô Viết tại Hồ Nam và Giang Tây
– hai nơi mà hệ thống kinh tế nông thôn yếu nhất.
Trước tiên
căn cứ địa thực hiện chiến dịch cải cách ruộng đất "đánh cường hào, chia
ruộng đất", và quyền sở hữu đất thay đổi từ tập trung thành "bình
quân đại thể". Ban đầu 80-90% đất đai nằm trong tay địa chủ. Bây giờ, giai
cấp địa chủ ngoài phần điền sản được chia theo nhân khẩu ra, những phần đất còn
lại sẽ chia đều vào tay giai cấp nông dân – những người trực tiếp sản xuất.
Đồng thời,
chính phủ cũng tích cực thực hiện chiến dịch xóa nợ để xóa bỏ các khoản nợ khác
nhau áp đặt lên người nông dân. Đầu tiên là chế độ bóc lột cho vay nặng lãi,
"tất cả những khoản nợ của công nhân nông dân Điền Đông đều sẽ được xóa bỏ."
Ngoài ra, việc xóa bỏ các hiệu đương phố (hiệu cầm đồ thời xưa) cũng là một
thành tố quan trọng của phong trào xóa nợ. Trước đây, các hiệu đương phố chủ yếu
sử dụng quần áo của nông dân làm tài sản thế chấp để phát hành các khoản vay
lãi suất cực cao. Số tiền cho vay chưa bằng một nửa giá trị của tải sản thế chấp.
Sự bóc lột mà nông dân phải chịu đựng là cực kỳ nghiêm trọng. Các hiệu đương phố
đã bị chính quyền Xô Viết tịch thu, nông dân không cần bỏ tiền ra chuộc lại các
tài sản thế chấp, chúng sẽ được trả lại cho nông dân một cách miễn phí.
Trong khi đảm
bảo rằng nông dân có đất để trồng, họ cũng được miễn thuế nông nghiệp, để nông
dân có thể tận hưởng đầy đủ thành quả lao động của họ. Những biện pháp này đã
thúc đẩy và đảm bảo sự phát triển thuận lợi của cuộc cách mạng nông nghiệp, sự
nhiệt tình của nông dân đối với sản xuất nông nghiệp đã tăng lên, và họ cũng ủng
hộ mạnh mẽ chính phủ. Nông dân không hiểu những điều cao siêu như Chủ nghĩa
Mác-Lênin, nhưng họ biết rất rõ rằng chính quyền Xô Viết đã mang lại cho họ những
lợi ích thiết thực, to lớn. Bất kỳ chính phủ nào cũng phải mang lại lợi ích hữu
hình cho người dân thì mới có thể cai trị ổn định.
Mặt khác,
tình hình kinh tế ở khu vực nông thôn thời đó rất hỗn loạn. Đầu tiên là dòng tiền
mặt bị chảy ra nước ngoài và thị trường nông thôn rất thiếu tiền mặt để giao dịch.
Những người nắm giữ tiền mặt chủ yếu là giới thương nhân, cường hào và địa chủ
giàu có. Tuy nhiên vì lo sợ cách mạng nên họ đã mang theo tiền mặt bỏ trốn, gây
ra tình trạng thiếu tiền mặt nghiêm trọng trên thị trường. Việc thực hiện các
giao dịch dù lớn hay nhỏ đều rất khó tiến hành. Một số địa chủ thì sợ bị phát
giác nên đã giấu kỹ tiền mặt của mình, không cho nông dân vay mượn. Và như vậy
nông dân vừa không thể bán được các sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm phụ trợ để
đổi lấy tiền mặt, vừa chẳng thể vay được tiền. Đôi khi, ngay cả các nhu yếu phẩm
hằng ngày cũng chẳng có tiền mặt để mua, sản xuất và cuộc sống gặp phải muôn
trùng khó khăn. Thứ hai, việc thiếu thốn sản xuất thủ công mỹ nghệ và thương mại
khiến cho các hoạt động mua bán và tái sản xuất khó có thể tiến hành một cách
bình thường. Rất nhiều nhà buôn công thương nghiệp đã trốn quỹ, dẫn đến việc
các gia đình thủ công nghiệp bị đình chỉ sản xuất, công nhân và tiểu thương
cùng thất nghiệp. Thứ ba, thị trường tài chính rơi vào tình trạng hỗn loạn
nghiêm trọng, trên thị trường lưu hành cùng lúc trên 10 loại tiền tệ. Tiền kim
loại bao gồm các loại tiền bạc, tiền đồng, tiền giấy thì được phát hành bởi
ngân hàng của Quốc dân Đảng, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng Hoa Thương.
Bên cạnh đó còn có "thị phiếu" do các thương hiệu, cửa tiệm phát
hành, và cả những loại tiền tạp nham khác của các phe phái quân phiệt và thổ
hào. Trong đó, tiền kim loại thường bị giảm màu sắc và trọng lượng trong quá
trình lưu thông. Tiền giấy thì có quá nhiều loại khác nhau, giá trị cũng bất nhất.
Tỷ giá hối đoái giữa các loại tiền tệ thay đổi theo từng ngày, và thường xuyên
xảy ra hiện tượng tiền giấy mất giá đến mức chẳng khác gì giấy vụn. Lại cộng
thêm việc những kẻ gian thương luôn bày trò "ngư ông đắc lợi" trong quá
trình trao đổi tiền tệ, khiến cho nông dân bị hớ nặng, thành quả lao động của họ
chẳng còn lại là bao sau vài lần bị chiết giá bốc lột.
Giai cấp
nông dân đang cực kỳ khao khát một ngân hàng của chính mình và một loại tiền tệ
công bằng.
Ngân hàng
quốc gia ở khu vực Xô Viết, thông qua việc phát hành một loại tiền tệ thống nhất,
đã thay đổi triệt để cục diện hỗn loạn của tiền tệ, bảo vệ người nông dân trước
mánh lới của những kẻ đổi tiền, cung cấp đầy đủ phương thức giao dịch cho thị
trường mậu dịch nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Để phục hồi
và phát triển sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, ngân hàng quốc gia đã hỗ trợ
mạnh mẽ cho nông dân và thợ thủ công, chủ yếu giải quyết nhu cầu vốn cho hoạt động
sản xuất và kinh doanh khác nhau, phát hành các khoản vay với lãi suất thấp hoặc
không lãi suất như khoản vay giống, gia súc, phân bón, v.v.. Nông dân được vay
tiền để mua phân bón và nông cụ để sản xuất, nhờ đó mà sản lượng nông nghiệp đã
tăng lên rất nhiều.
Để ngăn chặn
tác động của biến động giá ngũ cốc đối với sự nhiệt tình của nông dân đối với sản
xuất, ngân hàng nhà nước đã phối hợp với Cục Điều tễ Ngũ cốc để tích cực điều
chỉnh giá. "Để ổn định thị trường và ngăn ngừa hiện tượng giá lương thực
tăng giảm thất thường, ngân hàng quốc gia cũng đã phát hành các khoản vay cho Cục
Điều tễ Ngũ cốc. Trong vụ thu hoạch mùa Thu, họ sẽ mua vào với giá hợp lý. Khi
nông dân thiếu lương thực, họ sẽ bán ra với giá hợp lý, vừa bảo vệ sự phát triển
kinh tế của vùng nông thôn, vừa đảm bảo quyền lợi của quần chúng nông
dân."
Những biện
pháp tài chính này đã giải quyết những khó khăn của nông dân về đất đai, nợ nần
và tiêu thụ ngũ cốc, giúp cho sản xuất nông nghiệp được khôi phục chỉ sau một
thời gian ngắn, cuộc sống của người nông dân được cải thiện đáng kể.
Trong giai
đoạn hậu kỳ của khu vực Xô Viết, do sự gia tăng chi tiêu cho quân sự và chi
tiêu của chính phủ, "mặc dù gánh nặng của nông dân (bao gồm thuế nông nghiệp,
nợ công và các khoản vay giống, v.v.) không ngừng tăng cao, nhưng với nền tảng
sản xuất phát triển, cuộc sống của họ vẫn được cải thiện rất nhiều, Năm 1933,
cuộc sống của nông dân ít nhất được cải thiện gấp đôi so với thời kỳ Quốc dân Đảng.
Đại đa số nông dân trong quá khứ có rất nhiều lúc không đủ ăn, giờ đây không chỉ
hết cảnh đói khát mà cuộc sống của họ ngày càng sung túc hơn, nhiều người có đời
sống được cải thiện gấp đôi so với trước."
Sự thành lập
và ổn định của chính quyền, thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng không thể
tách rời khỏi căn cứ địa. Mao Trạch Đông đã sử dụng một phép ẩn dụ hài hước như
sau: "Cách mạng thì phải có căn cứ địa, như thể con người có mông vậy. Nếu
con người không có mông, họ sẽ không thể ngồi xuống, Nếu cứ đi hoặc đứng mãi
thì sẽ không ổn, vì đến lúc chân cẳng mỏi mệt thì toàn thân sẽ tự khắc ngã
nhào. Chỉ khi có căn cứ địa thì cách mạng mới có nơi để nghỉ ngơi, phục hồi và
bổ sung sức mạnh, rồi tiếp tục chiến đấu, mở rộng phát triển và đi đến thắng lợi
cuối cùng."
Trong khi
đó, sự tồn tại của căn cứ địa thì không thể tách rời với sự phát triển kinh tế
của căn cứ địa, không thể tách rời sự hỗ trợ của nông dân, công nhân trong các
khu vực cơ sở và không thể tách rời sự đảm bảo tiền tệ và tài chính.
Đúng như lời
Mao Trạch Đông đã nói: "Chỉ khi chính quyền Xô Viết tận dụng mọi nỗ lực để
giải quyết vấn đề của quần chúng và cải thiện cuộc sống của nhân dân một cách
thiết thực, từ đó giành được niềm tin của quần chúng đối với chính quyền Xô Viết,
chúng ta mới có thể huy động họ gia nhập Hồng quân và tiến hành chiến
tranh." "Muốn giành được sự ủng hộ của quần chúng ư? Muốn quần chúng
dốc toàn lực tham gia tiền tuyến sao? Vậy thì phải kề vai sát cánh với họ, động
viện, quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của họ, phải thật lòng thật dạ tìm
kiếm lợi ích, giải quyết các vấn đề sản xuất và sinh hoạt của họ."
Dưới sự chỉ
dẫn của tư tưởng trên, việc thiết lập hệ thống tài chính ở khu vực Xô Viết luôn
xoay quanh việc phục vụ cho người nông dân. Xuất phát từ thực tế giải quyết nền
kinh tế nông thôn, các biện pháp của ngân hàng quốc gia đã tạo điều kiện thuận
lợi tối đa cho cuộc sống của nông dân và thiết lập tín dụng tiền tệ ở khu vực
Xô Viết, chính phủ đã giành được sự ủng hộ và yêu thương chân thành của đông đảo
nông dân. Chính nhờ "đắc dân tâm" nên khi Hồng quân tuyển binh trên
quy mô lớn để chống lại chiến lược "vây tiễu", có thể nhìn thấy những
cảnh tượng xúc động trong khu vực Xô Viết như cha mẹ tiễn con, vợ tiễn chồng,
huynh đệ tranh nhau gia nhập Hồng quân.

Nhận xét
Đăng nhận xét