CHÍNH BIẾN NGÀY 12 THÁNG 4: TƯỞNG GIỚI THẠCH LẬP "CÔNG ĐẦU" - phần 2

TIẾN QUÂN VỀ THƯỢNG HẢI – NAM KINH, NỖI DO DỰ CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH

Tháng 11 năm 1926, một đêm thu muộn với lá phong xào xạc bên ngoài, Tưởng Giới Thạch vẫn đang đi đi lại lại trong văn phòng của Bộ Tổng tư lệnh quân Bắc phạt ở Nam Xương. Lúc này, tâm trạng ông ta hết sức lo lắng và rối bời.

Tưởng Giới Thạch trong giai đoạn Bắc phạt
Tưởng Giới Thạch trong giai đoạn Bắc phạt

Về mặt quân sự, Tưởng Giới Thạch tự thấy thuận buồm xuôi gió. Kể từ lúc tuyên thệ Bắc phạt ở Quảng Châu vào tháng 7 năm 1926 đến này, đại quân đánh đâu thắng đấy. Giai điệu hùng tráng của bài ca cách mạng "Đả đảo liệt cường, trừ quân phiệt" vang lên khắp đất Trung Quốc, và sóng triều của cách mạng quốc dân nhanh chóng quét qua hầu khắp các thành trấn dọc hai bờ Trường Giang. Quân đội Bắc Dương tưởng chừng hùng mạnh nhưng cuối cùng binh bại như núi đổ. Quân Bắc phạt chỉ mất ba tháng để đánh tới Vũ Hán, đập tan lực lượng vũ trang của thế lực quân phiệt Ngô Bội Phu. Sau đó, trung ương Quốc dân Đảng và chính phủ Quốc dân cũng chuyển từ Quảng Châu về Vũ Hán. Ngay sau đó, vào tháng 11, Tưởng Giới Thạch – Tổng tư lệnh quân Bắc phạt, dẫn quân từ khu vực bình nguyên lưỡng Hồ(38) tấn công vào Giang Tây, đánh bại một thế lực quân phiệt khác là Tông Truyền Phương, tiếp đà chiếm đóng Cửu Giang và Nam Xương, trực tiếp uy hiếp Nam Kinh và Thượng Hải.

Chú thích:

(38) Chỉ khu vực bình nguyên giao giữa hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam.

Uông Tinh Vệ
Uông Tinh Vệ

Về mặt chính trị, tình hình hết sức bất lợi cho Tưởng Giới Thạch. Uông Tinh Vệ - đối thủ chính trị chính của ông ta, đã đến Vũ Hán. Kể từ sau cái chết của Tôn Trung Sơn năm 1925, Uông Tinh Vệ đã tự nhận mình là người thừa kế của Thủ tướng và có quyền lực chính trị mạnh mẽ trong đảng. Cùng với sự ủng hộ cả về mặt chính trị, quân sự lẫn tiền bạc của Liên Xô, ông nghiễm nhiên trở thành lãnh đạo chính của Quốc dân Đảng.

Ở Vũ Hán, Uông Tinh Vệ đã thành lập một liên minh với phe quyền lực địa phương Đương Sinh Trí. Ông lại kết hợp với cố vấn Liên Xô, Borodin – người luôn có thái độ thù địch với Tưởng Giới Thạch. Vũ Hán đã trở thành địa điểm nòng cốt của phe "phản Tưởng" trong nội bộ Quốc dân Đảng. Tại thời điểm này, hầu hết các thành viên của Ủy ban Trung ương Quốc dân Đảng đã đến Vũ Hán, và quyền lực chính trị đã được Uông Tinh Vệ nắm chắc trong tay. Uông Tinh Vệ liên tục hối thúc Tưởng Giới Thạch nhanh chóng đến Vũ Hán, khiến cho Tưởng Giới Thạch rơi vào tình trạng hết sức khó xử. Nếu đến Vũ Hán thì rất có thể sẽ bị khống chế, nếu không đến thì chẳng khác nào tự tuyệt đường sống của mình trong đảng. Huống hồ đội quân Bắc phạt của ông ta tiêu tốn rất nhiều lương hưởng(39) mỗi ngày và quyền lực tài chính không nằm trong tay ông ta. Cho dù trên chiến trường đánh trận có thuận lợi đến mấy nếu như Vũ Hán cắt đứt nguồn tài chính thì đại quân Bắc phạt của ông ta sẽ ngay lập tức mất sức chiến đấu.

Chú thích:

(39) Lương thực, đạn dược.

Lý tưởng của Tưởng Giới Thạch là thống nhất đất nước thông qua cuộc Bắc phạt, và sau đó trở thành "Caesar của Trung Quốc". Nhưng điểm yếu chí mạng là ông bất đắc dĩ phải dựa vào tiền của Liên Xô để thực hiện lý tưởng của mình, và kẻ đang nắm giữ huyết mạch tài chính của ông ta chính là "cánh tay mặt" của Stalin ở Trung Quốc – Borodin. Sau "Sự cố tàu Trung Sơn", mặc dù ở một mức độ nào đó ông đã làm suy yếu sức mạnh của Đảng Cộng sản ở Quảng Châu, nhưng vì vũ khí và tiền bạc của Liên Xô, và vì đại nghiệp thống nhất Trung Quốc, ông ta bất đắc dĩ phải tạm thời ẩn nhẫn.

Khi Phong trào Ngũ Tứ (ngày 4 tháng 5) nổ ra, Tưởng Giới Thạch đã cực kỳ phấn chấn. Ông viết trong nhật ký: "Đây là cuộc biểu tình thị uy đầu tiên của quốc dân Trung Quốc, khí thế dời non lấp biển, vô cùng hùng tráng… Qua sự kiện này có thể thấy rằng nhân tâm chưa mất, nhân khí chưa tan, Trung Hoa dân quốc tới ngày phục hưng." Ngày 23 tháng 6 năm 1925, khi quần chúng ở Quảng Châu ủng hộ cuộc bãi công của công nhân Hồng Kông và đoàn người tuần hành trên đường Sa Cơ gần khu tô giới của Anh, quân đội Anh đã bất ngờ ra tay tàn sát hơn 500 người và làm bị thương hơn 170 người, sự kiện này được gọi là "Thảm sát Sa Cơ".

Tưởng Giới Thạch nghe tin và viết trong nhật ký của mình: "Vận mệnh đất nước đã xuống đến nông nỗi này, tính mạng người Trung Quốc giờ chẳng khác gì cỏ rác, phó mặc cho lũ Anh tặc và bè lũ chủ nghĩa đế quốc thảm sát, tôi nghe tin mà lòng đau như cắt, thực sự không biết phải sống kiếp người ra sao nữa! Từ khi cha sinh mẹ đẻ tới nay, chưa bao giờ cảm thấy đau buồn tới vậy!" Trong cơn lửa hận, Tưởng Giới Thạch ngày nào cũng viết một khẩu hiệu chất chứa sự căm hờn, tổng cộng dài tới cả trăm câu:

"Tưởng Giới Thạch không chỉ chống Anh, mà còn có thái độ cảnh giác đối với Mỹ, Pháp và các nước khác." "Lũ giặc Anh đáng phải chết, nhưng Mỹ, Pháp cũng không thể lơ là." Năm 1926, ông ta từng chỉ trích nặng nề chính sách đối ngoại của Mỹ, "Tôi căm ghét những sai lằm của chính sách đối ngoại của Mỹ."

Tưởng Giới Thạch không chỉ chất chưa sự phẫn nộ với các cường quốc thế giới, mà còn căm ghét tầng lớp dương mại bản, và cực lực lên án hành vi giúp thế lực nước ngoài kiểm soát huyết mạch của nền kinh tế Trung Quốc của họ.

Những điều kỳ quặc chất chứa trong lịch sử lại nằm ở chỗ, ai có thể nghĩ rằng Tưởng Giới Thạch – người đứng đầu giai cấp mại bản-quan liêu lớn nhất Trung Quốc lại không ưa những thế lực mà ông ta dựa vào! Một điều phi lý nhưng cũng hợp lý là: Với tư cách một chính trị gia đặt quyền lực cá nhân lên hàng đầu, lý tưởng là điều phụ thuộc vào thực tế, và ông ta ý thức rất rõ về việc ai có thể mang lại cho mình quyền lực. Ông ta tự coi mình là hiện thân của cách mạng và là người diễn giải cuối cùng của chân lý. Đối lập với ông ta tức là chống lại cách mạng và chống lại chân lý!

Theo quan điểm của Tưởng Giới Thạch thì mọi quần hùng trong thiên hạ đều nhỏ bé. Trương Tác Lâm – quân phiệt vùng Phụng Hệ(40) thì không có lý tưởng và niềm tin, chỉ biết dựa dẫm vào Nhật Bản để chiếm cứ phía đông bắc, tuy thế lực khá lớn nhưng không nhiều mưu lược. Những kẻ như Ngô Bội Phu, Tôn Truyền Hương thì chỉ mải miết đấu đá, nội bộ mâu thuẫn, khu vực chiếm đóng của họ tuy rộng lớn nhưng chỉ cần đánh bại từng tên thì chẳng khó diệt gọn? Thế lực khiến ông ta đau đầu nhất là Đảng Cộng sản.

Chú thích:

(40) Các phe phái Phụng Hệ là một trong một số phe phái quân sự đối lập tạo thành Cộng hòa đầu tiên của Trung Quốc, hoạt động từ một căn cứ lãnh thổ bao gồm ba tỉnh phía đông bắc tạo nên Mãn Châu.

Tưởng Giới Thạch từng đến thăm Liên Xô và tận mắt chứng kiến một đảng chính trị với hệ thống tín ngưỡng và học thuyết chuyên chính giai cấp vô sản được tổ chức rất tốt và ăn sâu bắt rễ vào quân đội. Hiệu lệnh của Hồng quân Liên Xô hết sức thông nhất và hành động cũng rất nhất quán. Hiệu quả chiến đấu của họ rất khác so với những thế lực quân phiệt của Trung Quốc. Được tiếp thêm nguồn cảm hứng lớn, Tưởng Giới Thạch trở về Trung Quốc đã lập tức thúc đẩy mạnh mẽ "một chủ nghĩa, một chính đảng".

Về vấn đề Bắc phạt, Tưởng Giới Thạch đề xuất đẩy nhanh tốc độ, nhưng Borodin dường như nhìn thấu âm mưu cá nhân của ông ta, và đề nghị cần "chậm mà chắc", củng cố chế độ cách mạng Quảng Đông trước, huy động quần chúng và chờ đợi thời cơ chín muồi. Tưởng Giới Thạch biết rất rõ rằng "thời gian chín muồi" của Borodin cũng là lúc ông ta bị đuổi đi. Vì vậy, ông ta bắt buộc phải nắm bắt cơ hội để củng cố thực lực của mình. Sau những nỗ lực thương thuyết của ông ta, Borodin cuối cùng đã nhượng bộ, và cuộc Bắc phạt của Tưởng Giới Thạch đã bắt đầu.

Công cuộc Bắc phạt của Tưởng Giới Thạch tiến triển thần tốc, phần lớn nhờ vào sự cung cấp vũ khí hỗ trợ tài chính liên tục từ phía Liên Xô. Vậy tại sao Liên Xô lại ủng hộ Quốc dân Đảng? Để hiểu được điều này, chúng ta cần phải bắt đầu với hoàn cảnh của Liên Xô trên trường quốc tế tại thời điểm đó.

Trích "Chương 3, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét