"HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ" TÀI PHIỆT SA THẢI VỊ "GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH" CẬY CÔNG LÀM BỪA
Đối với giới
tài phiệt Giang-Chiết, tội lỗi ban đầu của Tưởng Giới Thạch là "ăn"
quá nhiều và "dáng ăn" quá xấu.
Sau cuộc đảo
chính "12 tháng 4", Tưởng Giới Thạch không hề cảm thấy nhẹ nhõm, việc
săn lùng những người cộng sản không vũ trang chỉ là mở đầu trước khi vào mục
chính. Sau khi thành lập chính phủ Quốc dân Nam Kinh, ông ta không chỉ phải duy
trì hoạt động của bộ máy nhà nước, mà còn phải đối phó với Chính phủ Quốc dân
Vũ Hán. Ngoài ra còn phải đề phòng thế lực quân phiệt Bắc Dương ở phương Bắc,
muốn đối phó với bất cứ thế lực nào cũng không thể thiếu yếu tố cốt lõi – tiền
bạc.
Tuy nhiên,
với tư cách là một nhà tư bản, giới tài phiệt Giang-Chiết phải tính toán thu nhập
đầu tư. Họ buộc phải chi ra khoản đầu tư tài chính ban đầu do khí thế hung mãnh
của Đảng Cộng sản. Không "chịu chi" một chút thì "toi mạng"
cả đám. Bây giờ khó khăn lắm mới thở phào được một chút, thế nhưng Tưởng Giới
Thạch ngày càng "tham ăn tục uống", và điều đó đã vượt quá dự toán của
các tài phiệt, từ vị trí ủng hộ Tưởng Giới Thạch, họ bắt đầu manh nha những
toan tính khác.
Cánh tài
phiệt Giang-Chiết vừa định rút vốn thì Tưởng Giới Thạch lập tức trừng mắt phẫn
nộ, như vậy chẳng phải định bóp cổ ta sao? Rượu mời không uống thì uống rượu phạt,
nói ngọt không nghe thì phải ăn đòn! Thế là Tưởng Giới Thạch ngay lập tức đối
phó với các nhà tư bản bằng chính cách thức mà ông ta đã dùng để đối phó Đảng Cộng
sản.
Ngay 14
tháng 5 năm 1927, con trai của một nhà buôn sơn trong khu tô giới của Pháp đã bị
bắt vì tội phản cách mạng. Sau khi nhà buôn sơn đó hứa sẽ "quyên góp"
200.000 đồng bạc cho đất nước, con trai ông được thả ra vào ngày 19 tháng 5.
"Ông vua sợi bông và bột mì" Vinh Tông Kính đã bị bắt với tội danh
"gian thương và hỗ trợ tài chính cho quân phiệt", Tưởng Giới Thạch đã
ra lệnh tịch thu nhà máy bột mì của gia tộc Vinh ở Vô Tích. Sau khi Vinh Tông
Kính quyên tặng 250.000 đồng bạc cho chế độ Tưởng Giới Thạch, tội danh trên đã
được xóa bỏ. Con trai 3 tuổi của Âu Bính Quang – giám đốc của Công ty Tiên Thi,
đã bị bắt cóc và những kẻ bắt cóc yêu cầu ông "quyên góp" 500.000 đồng
bạc cho nhà nước. Tưởng Giới Thạch đã sử dụng kết hợp thủ đoạn "bắt
cóc" và "dự định bắt cóc" này để tống tiền các nhà tư bản. Theo
lãnh sự Mỹ tại Thượng Hãi, đây "thực sự là một hành vi thống trị khủng bố
trong giai cấp giàu có… thái độ của giai cấp thương nhân và nhân sĩ trí thức
đang không ngừng phát triển thành một lực lượng phản đối Quốc dân Đảng – thế lực
ngang tàng bạo ngược đang gây ra muôn vàn khổ nạn cho họ." Chapman, một
nhà quan sát người Úc ở Trung Quốc, đã báo cáo: "Những người Trung Quốc
giàu có có thể bị bắt ngay tại nhà riêng của họ hoặc biến mất một cách bí ẩn
trên đường. Giờ đây những gia đình giàu có có thể bị bắt với tội danh "đảng
viên Cộng sản"! Người ta ước tính rằng Tưởng Giới Thạch đã sử dụng thủ đoạn
này để huy động tổng số vốn 500.000 đô-la và Thượng Hải thời cận đại chưa bao
giờ trải qua một sự thống trị khủng bố như vậy dưới bất kỳ chế độ nào."
Thủ đoạn của
Tưởng Giới Thạch gần như giống hệt như thủ đoạn của Hitler sau này. Vài năm
sau, Hitler cũng đã nhận được "vốn đầu tư mạo hiểm" của Phố Wall để
tiến hành "khởi nghiệp". Sau khi thống nhất nước Đức, ông ta quay lại
và tiến hành một cuộc chiến chống lại Anh và Pháp, chĩa họng súng về phía các
chủ ngân hàng quốc tế. Những thành viên của gia tộc Rothschild cũng bị giam
trong ngục tù tăm tối của Gestapo. Đối với Tưởng Giới Thạch và Hitler, củng cố
quyền lực là nguyên tắc hành động tối cao, mọi thứ khác là thứ yếu. Bất luận là
chủ ngân hàng hay công nhân, chỉ cần có giá trị lợi dụng thì chẳng tội gì
"làm thuê" cho họ một chút để đôi bên cùng có lợi. Nhưng một khi tình
thế thay đổi thì trở mặt còn nhanh hơn trở bàn tay.
Các ông
trùm tài chính ở Bến Thượng Hải thực sự rất tức giận, và hậu quả thực sự nghiêm
trọng. Các ông trùm tài chính nghĩ rằng Tưởng Giới Thạch thực sự đã không đặt
mình vào đúng chỗ, họ cho ông ta tiền là vì muốn ông ta "làm thuê"
cho mình. Bây giờ ông ta vẫn chưa "đủ lông đủ cánh" mà đã dám ngang
ngược lộng hành, không "chơi" theo luật như vậy, đến khi có đủ thực lực
rồi, ông ta còn bá đạo đến mức nào đây?
Một phần tử
nguy hiểm như vậy phải được loại bỏ. Sở dĩ họ mãi chưa động thủ đó là bởi ở
ngay sát Bến Thượng Hải đang tồn tại một chính phủ Vũ Hán thân cộng. Áp lực bên
ngoài vẫn chưa được giải tỏa hoàn toàn, thế nên bất đắc dĩ phải nhẫn nhịn Tưởng
Giới Thạch. Đợi đến khi Uông Tinh Vệ ở Vũ Hán cũng chĩa nòng súng về phía Đảng
Cộng sản thì lúc đó chẳng cần phải kiêng dè gì nữa.
Và thế là,
thời điểm Tưởng Giới Thạch bị hạ bệ bắt đầu đếm ngược.
Trên thực tế,
Chính phủ Quốc dân Nam Kinh cũng chỉ là một chính thể đầy sự chắp vá và chia rẽ.
Giữa phe Quế hệ do Lý Tông Nhân và Bạch Sùng Hỷ lãnh đạo tồn tại sự xung đột lợi
ích rõ ràng với phe Hoàng Phố hệ của Tưởng Giới Thạch. Ngay cả sự ủng hộ của Hà
Ứng Khâm đối với Tưởng Giới Thạch cũng không đáng tin cậy. Sự kiêu ngạo lộng
hành của Tưởng Giới Thạch đã tạo ra quá nhiều kẻ thù chính trị cho chính ông
ta, nhưng bản thân ông ta vẫn đang mải mê chìm đắm trong niềm vui chiến thắng.
Chính trong
thời điểm nhạy cảm này, quân đội của Tưởng Giới Thạch đã bị đánh bại bởi thế lực
quân phiệt Phụng hệ trong cuộc Bắc phạt lần thứ hai. Ngay cả Từ Châu – một trọng
trấn then chốt ở khu vực Hoa Đông cũng đã bị mất. Thượng Hải và Nam Kinh bị uy
hiếp, và uy tín của Tưởng Giới Thạch cũng lập tức giảm mạnh. Thế lực Quế hệ
trong nội bộ chính quyền Nam Kinh đã nhân cơ hội này để dồn ép, Uông Tinh Vệ -
người toàn quyền đàm phán mọi sự vụ liên quan đến việc sáp nhập hai chính phủ,
đã nhiều lần khẳng định rằng tiền đề của việc chính quyền Vũ Hán chuyển đến Nam
Kinh là Tưởng Giới Thạch phải từ chức. Trong nội bộ Quốc dân Đảng, phe
"nguyên lão" ở Quảng Đông và phe "Thái tử" ủng hộ Tôn Khoa
– con trai của Tôn Trung Sơn, cũng bắt tay liên thủ để ép Tưởng Giới Thạch từ
chức. Hơn nữa, mặc dù Tưởng Giới Thạch cố gắng huy động vốn theo kiểu "xã
hội đen tống tiền" ở Thượng Hải, nhưng do chi phí quân sự quá lớn, chính
quyền Nam Kinh vẫn rơi vào cảnh thu không đủ chi. Không có sự hỗ trợ của giới
tài phiệt Giang-Chiết, Tưởng Giới Thạch chỉ còn nước trân trân nhìn mớ hỗn độn
trước mắt mà bó tay chịu trận.
Chỉ khi đó,
Tưởng Giới Thạch mới hiểu rằng có một sự khác biệt giữa cai trị một quốc gia và
lật đổ một chế độ. Ông ta không thể tiếp tục giở những thủ đoạn như trước nữa.
Xét cho
cùng Tưởng Giới Thạch cũng là một người khá thông minh, thay vì tiếp tục cắn rằng
chịu đựng, chẳng thà lựa nước đẩy thuyền, đẩy người khác lên dàn thiêu chịu trận,
đợi đến khi kẻ đó không chịu được nữa thì sẽ đường hoàng đứng ra để tiếp quản.
Và thế là
vào ngày 12 tháng 8 năm 1927, tại một cuộc họp của Quân ủy Trung ương Quốc dân
Đảng, Tưởng Giới Thạch đã đệ đơn từ chức vị trí Tổng tư lệnh và giao lại quốc
phòng Nam Kinh cho các tướng lĩnh khác, sau đó rời Nam Kinh về Thượng Hải.
Tuyên bố rút lui của Tưởng Giới Thạch được đưa ra vào ngày 13 tháng 8, và đến
ngày 14 tháng 8 thì ông ta chính thức lui vào hậu trường. Ngay sau đó, chính phủ
Vũ Hán tuyên bố di dời đến Nam Kinh vào ngày 19 tháng 8 và Uông Tinh Vệ cũng đã
đến Nam Kinh vào đầu tháng 9, chính phủ Ninh-Hán chính thức hợp nhất, sự kiện
này được gọi là "Ninh-Hán hợp lưu".
Nhận xét
Đăng nhận xét