Nhóm Milner
Nhóm Cecile
tiếp tục tồn tại trong một khoảng thời gian dài sau cái chết của Hầu tước
Salisbury – lãnh đạo của gia tộc Cecil vào năm 1903, nhưng nhà lãnh đạo mới của
nó, Balfour lại tỏ ra thiếu tham vọng và quyết tâm, khiến cho tổ chức này dần
trở nên lỏng lẻo và dần bị thay thế bởi nhóm Milner. Milner không thiếu tham vọng
và sự quyết đoán. Ông đã hy sinh hạnh phúc cá nhân và đời sống xã hội của mình
để đạt được mục tiêu chính trị. Điều này là không thể chấp nhận được đối với
Balfour – một người vốn thích hưởng lạc. Milner nhận thức sau sắc rằng không thể
tiếp tục dựa vào các mối quan hệ gia tộc để củng cố nhóm, thế nên ông quyết định
chuyển sang ý thức hệ. Salisbury tìm cách xây dựng một nhóm bao gồm bạn bè và
người thân, chơi trò chơi chính trị để duy trì nước Anh cũ mà họ thích. Milner
không phải là một người bảo thủ. Ông có lý tưởng riêng của mình. Mở rộng và
tích hợp hệ thống phúc lợi xã hội của Đế quốc Anh, điều này là vô cùng cần thiết
cho lối sống của người dân Anh. Tiếp theo đó, quảng bá ra toàn thế giới
"phương thức sống kiểu Anh – thể hiện sự tốt đẹp nhất và năng lực cao của
con người". Tuy nhiên, vật đổi sao dời, sau này ông chỉ còn nhấn mạnh đến
việc thúc đẩy thống nhất lý luận và các hoạt động tuyên truyền trong nội bộ
nhóm Milner.
Ảnh hưởng về
mặt tư tưởng của Arnold Toynbee đối với nhóm Milner có ba khía cạnh. Thứ nhất,
lịch sử Anh đại diện cho tư tưởng đạo đức vĩ đại – tự do tư tưởng, có lợi nhất
đối với sự thống nhất hoàn toàn của Đế quốc Anh. Thứ hai, điều mà bất cứ ai
cũng phải dành sự quan tâm hàng đầu đối với trách nhiệm và nghĩa vụ phục vụ đất
nước. Thứ ba, giai cấp lao động sẽ đảm nhận công tác dịch vụ trong xã hội Anh,
đặc biệt công tác giáo dục là hết sức thiết yếu.
Thời báo Times
là một mắt xích quan trọng tạo nên sức ảnh hưởng của nhóm Milner đối với giới
thượng lưu. Tờ báo này nhắm đến một nhóm nhỏ giới tinh hoa có sức ảnh hưởng hơn
là số đông quần chúng. Nó hợp tác chặt chẽ với các chi nhánh độc lập khác của
nhóm Milner để ảnh hưởng đến độc giả và tăng cường khả năng ảnh hưởng của từng
chi nhánh. Thế giới bên ngoài trông giống như những mặt khác nhau của cùng một
sự vật. Ví dụ, một thành viên của Quốc hội (cũng là thành viên của nhóm) công bố
chính sách. Gần như cùng lúc đó, Sở Nghiên cứu Sự vụ Quốc tế Hoàng gia đã xuất
bản một báo cáo nghiên cứu về cùng một chủ đề. Một nhà nghiên cứu (thành viên của
nhóm) tại Đại học All Souls cũng cho ra mắt một cuốn sách về cùng một chủ đề
(thông qua một nhà xuất bản có liên quan đến nhóm). Những chuyên đề xã luận
trên thời báo Times ban đầu phân tích chính sách của các nghị sĩ theo giọng
điệu phê phán, sau đó sẽ tán thành với chính sách đó. Trong cùng thời gian, hai
ấn phẩm được bình thẩm theo cách đồng nhất trên tờ Phụ san văn học (diễn
đàn bình luận văn học có ảnh hưởng nhất ở Anh). Những bài bình phẩm này đều do
các thành viên của nhóm viết dưới dạng nặc danh. Cuối cùng, một bài viết nặc
danh trên tờ Round Table sẽ lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ chính sách này. Mặc
dù mỗi chiến lược và bước đi chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận công chúng, nhưng hiệu
ứng tích lũy của các chiến lược này là rất đáng kể. Nếu cần thiết, viên thư ký
mà Rhodes tin tưởng có thể đến Hoa Kỳ để thực hiện một loạt các cuộc phỏng vấn
không chính thức với những người từng giành học bổng Rhodes, đồng thời thuyết
phục một chính trị gia nổi tiếng đã nghỉ hưu (như cựu Tổng đốc Ấn Độ) phát biểu
đôi lời trong buổi tưởng niệm một vị lãnh đạo nào đó đã qua đời của trường Đại
học All Souls hoặc Đại học New School. "Sự trùng hợp" dễ khiến dân tình
thắc mắc là cả các cuộc phỏng vấn ở Mỹ và bài phát biểu trong buổi tưởng niệm của
Oxford đều nhấn mạnh cùng một chủ đề.
Số đầu tiên
của tạp chí Round Table được xuất bản vào ngày 15 tháng 11 năm 1910,
không có chữ ký của nhà xuất bản và tác giả của năm bài báo trong đó. Truyền thống
này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Tạp chí đã biện giải rằng sự ẩn danh là để đảm
bảo tính độc lập và tự do. Nhưng nguyên nhân thực sự lại "thực tế"
hơn nhiều. Các biên tập viên và tác giả trong giai đoạn đầu thành lập tạp chí đều
vô danh tiểu tốt, nếu để họ ký tên lên đó thì sẽ khiến độc giả chê cười. Khi một
số tác giả sau này trở thành những "nhân vật lớn", các biên tập viên
sẽ cho rằng cần phải bảo vệ danh tiếng chính trị của họ. Ẩn danh các tác giả là
thông lệ của họ. Round Table là công cụ tuyên truyền chính trị cho xã hội
Rhodes hoặc nhóm Milner. Biên tập viên và tác giả của Round Table gọi là
"Nhóm bàn tròn". Niềm tin kiên định của họ là tự do, văn minh và phẩm
giá của nhân loại chỉ có thể được phát triển tốt nhất thông qua Đế quốc Anh.
Quan điểm của
các thành viên của nhóm thường mang tính nhất quán. Sự khác biệt lớn nhất luôn
bắt nguồn từ kinh tế - lĩnh vực mà nhóm luôn thể hiện sự mỏng yếu và bảo thủ.
Cho đến trước năm 1931, quan điểm tài chính của nhóm đến từ Robert Brand, một đối
tác của công ty Lange Brothers. Anh em nhà Lange cũng là một trong số "17
gia tộc ngân hàng quốc tế lớn nhất trên thế giới". Đại diện cho quan điểm
của các gia tộc ngân hàng quốc tế cuối thế kỷ XIX, họ tin rằng chìa khóa cho sự
thịnh vượng kinh tế là ngân hàng và tài chính. Một loại tiền tệ mang tính kiện
toàn, một dự toán cân bằng và tiêu chuẩn kim bản vị quốc tế sẽ mang lại sự thịnh
vượng kinh tế và cải thiện mức sống. Điều này trái với quan điểm của Milner. Milner
khẳng định rằng tài chính nên phụ thuộc vào nền kinh tế và nền kinh tế nên phụ
thuộc vào chính trị. Nếu các chính sách giảm phát kinh tế (bắt nguồn từ nguyên
nhân liên quan đến tài chính) gây ra những hậu quả khó lường về mặt kinh tế hoặc
chính trị, vậy thì chúng nên được bãi bỏ. Milner tin rằng chính sách tài chính
12 năm do Brand chủ trương vào năm 1919 là một thảm họa đối với Đế quốc Anh, vì
nó gây ra thất nghiệp, suy thoái và hủy hoại xuất khẩu. Ông chủ trương tách Đế
quốc Anh khỏi thế giới thông qua thuế quan và các rào cản khác, đồng thời khuyến
khích phát triển kinh tế thông qua việc tự điều chỉnh chi tiêu của chính phủ,
nguồn vốn, lao động và phúc lợi xã hội.
Trên thực tế,
quan điểm của nhóm Milner đại diện cho một sự thay đổi lớn lao trong tư duy của
các chủ ngân hàng quốc tế chính thống đối với vàng và tiền. Các mặt hạn chế của
vàng đối với vấn đề chi tiêu của chính phủ và huy động tài chính cho chiến
tranh đã không thể đáp ứng được nhu cầu của các chủ ngân hàng, tư tưởng về tiền
tệ định giá thấp với quy mô lớn đã dần trở thành một xu hướng mới.
Quan điểm của
Milner dựa trên "chủ nghĩa tư bản độc quyền", thậm chí là "chủ
nghĩa tư bản quốc gia", chứ không phải là "chủ nghĩa tư bản tài
chính" đã lỗi thời mà Brand từng đề xướng. Quan điểm này từ sau năm 1931
đã được hầu hết các thành viên của nhóm Milner chấp nhận. Cùng năm đó, việc bãi
bỏ tiêu chuẩn kim bản vị đã chứng minh rằng chính sách tài chính do Brand chủ
trường năm 1919 đã hoàn toàn thất bại. Kết quả là, sau năm 1931, chủ nghĩa tư bản
độc quyền mà nhóm Milner đề xướng đã chiếm thế thượng phong. Trên thực tế, Milner
và Toynbee chưa bao giờ tin vào chủ nghĩa cá nhân trong lĩnh vực kinh tế.
Sự khác biệt
giữa Milner và Brand không mấy quan trọng. Điều quan trọng là ý kiến của Brand
đã trở thành tư tưởng từ năm 1919 đến 1931, còn quan điểm của Milner thì chiếm
thế thượng phong từ sau năm 1931. Những sự thật này chứng minh rằng chính sách
tài chính do Đế quốc Anh thực hiện từ năm 1919 đến năm 1945 hoàn toàn phù hợp với
chính sách của nhóm Milner trong cùng thời kỳ. Nhóm Milner đã nắm địa vị thống
trị trong hội đồng của Đảng Bảo thủ từ Thế chiến I. Có thể thấy rằng, nhóm Milner
có ảnh hưởng lớn đến chính sách đối nội của Đế quốc Anh.
Từ 1919 đến
1939, các thành viên của nhóm Milner chiếm 1/5 đến 1/3 thành viên trong nội
các. Điều này cũng giải thích lý do tại sao chính phủ Anh áp dụng chính sách
nhân nhượng (mà nhóm Milner đề xướng) đối với Đức.
Trích "Chương 8, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"
Đọc tiếp:
Nhận xét
Đăng nhận xét