Bí mật cốt lõi
![]() |
| Victor Rothschild |
Tận dụng mạng lưới quan hệ từ thời còn học ở Đại học Cambridge, Victor đã thiết lập cho mình một vị trí quan trọng trong bộ phận nghiên cứu tại phòng thí nghiệm công nghệ quốc phòng của Anh, Porton Down. Công việc mà phòng thí nghiệm Porton Down thực hiện đều là những dự án thuộc hàng tuyệt mật, chủ yếu nghiên cứu vũ khí sinh học. Những kết quả nghiên cứu này cuối cùng sẽ được áp dụng để sản xuất vũ khí vi khuẩn trong chiến tranh. Mục tiêu của chương trình nghiên cứu vũ khí sinh hóa là chế tạo được một loại vũ khí hóa học và sản xuất hàng loạt trong vòng ba năm, nó sẽ được sử dụng làm vũ khí cuối cùng để đối phó với quân Đức. Một khi Hitler thực sự hình thành được khả năng tác chiến đổ bộ lên lục địa nước Anh, Anh sẽ không ngần ngại sử dụng vũ khí sinh hóa để đối phó với Đức.
Tất nhiên,
đặc thù của công tác nghiên cứu này là trong quá trình phát minh ra thuốc độc
thì thuốc giải độc cũng sẽ được phát triển. Victor dành sự chú ý đến hai mảng dữ
liệu quan trọng này và lặng lẽ thu thập dữ liệu từ Viện nghiên cứu chiến tranh
vì khuẩn ở Maryland, Hoa Kỳ và các kết quả thử nghiệm thực tế ở Mississippi,
Hoa Kỳ. Công việc được phòng thí nghiệm Porton Down tiến hành là một trong những
dự án tuyệt mật nhất trong suốt cuộc chiến. Trong vòng bốn tháng kể từ khi
Victor đến phòng thí nghiệm Porton Down, tổ chức KGB của Liên Xô đã nhận được một
khối lượng lớn dữ liệu thử nghiệm, nhờ vậy mà tốc độ nghiên cứu vũ khí sinh hóa
của Liễn Xô cũng theo rất sát Anh và Hoa Kỳ. Các “tài sản tình báo” của Victor
đã nhanh chóng nhận được sự đánh giá rất cao ở Liễn Xô.
Trong giai
đoạn chiến tranh, hứng thú trong nghiên cứu của Victor chủ yếu tập trung vào
lĩnh vực vũ khí hủy diệt hàng loạt. Loại vũ khí càng có khả năng sát thương quy
mô lớn thì càng khó nghiên cứu sức ảnh hưởng tiềm tàng. Các quốc gia sẽ sẵn
sàng bằng mọi giá để có được thông tin. Những thông tin đó trở thành một dạng
“tài sản đặc biệt” có tiềm năng cực lớn. Victor không bao giờ thiếu tiền và lợi
ích kinh tế không phải là điều ông theo đuổi. Tính toán sâu xa của ông là biến
những “tài sản đặc biệt” này thành những lá bài địa chính trị quốc tế quan trọng,
cái giá để tiến hành giao dịch là phải hỗ trợ cho việc thành lập nhà nước
Israel ở Palestine.
So với vũ
khí hóa học, bom nguyên tử hẳn là một loại “tài sản đặc biệt” đắt giá hơn và
Victor chắc chắn sẽ không bỏ qua giá trị của nó.
Trong những
ngày đầu của Thế chiến II, Victor phát hiện ra giá trị chiến lược của bom
nguyên tử với các cuộc chiến trong tương lai. Thời điểm đó, ông đã đặc biệt
khuyến nghị Churchill cần tăng cường các chương trình nghiên cứu về bom nguyên
tử. Vì lẽ đó, Churchill đã xác lập danh sách ưu tiên trong các nguyên cứu khoa
học của Anh lúc bấy giờ là: Đầu tiên, phát triển radar để giải quyết nhu cầu cấp
thiết cho cảnh báo không kích của Đức, tiếp theo là nghiên cứu chế tạo bom
nguyên tử.
Trong quá
trình phát triển bom nguyên tử, Victor là người đóng vai trò quan trọng trong
toàn bộ dự án.
Việc phát
triển bí mật bom nguyên tử ở Anh chủ yếu được thực hiện bởi Sir William Axe và
nghiên cứu được thực hiện tại Công ty Hóa chất Đế quốc (ICI) với mã dự án “Ống
hợp kim” (Tube Alloys).
Tháng 10
năm 1941, Victor tham gia theo dõi sự phát triển bom nguyên tử của ủy ban nòng
cốt. Ông tận dụng tầm ảnh hưởng rộng rãi của mình ở Anh giúp Sir William Axe
tìm kiếm nguồn tài trợ của Chính phủ để tiến hành nghiên cứu. Trong suốt Thế
chiến II, Victor là chuyên gia nắm vững nhất, có kiến thức uyên bác nhất và hiểu
biết sâu sắc nhất về bom nguyên tử trong hệ thống tình báo Anh – Mỹ.
Cuối năm
1941, ngay sau sự kiện Trân Châu Cảng, hai nhà khoa học hàng đầu của Đại học
Columbia đã đến Vương quốc Anh để đề xuất Anh và Hoa Kỳ nên tích hợp các nguồn
lực trong dự án nghiên cứu vũ khí hạt nhân của cả hai nước. Mọi người đều nhất
trí rằng cần phải phát triển bom nguyên tử thành công trước Đức Quốc xã. Thủ tướng
Churchill rất quan tâm đến tiến trình nghiên cứu bom nguyên tử. Ông lắng nghe
tiến trình nghiên cứu bom nguyên tử của Victor gần như mỗi ngày.
Tại thời điểm
này, Victor đang ở một vị trí đặc biệt và thuận lợi. Ông được phép truy cập tất
cả các giấy tờ bí mật và dữ liệu thử nghiệm. Khi học tập tại Đại học Cambridge,
ông đã rất tích cực nghiên cứu về lĩnh vực vật lý hạt nhân. Khi đọc kỹ các tài
liệu mật, ông liên tục hỏi ý kiến một số nhà khoa học nổi tiếng để đảm bảo rằng
tất cả các chi tiết đều được hiểu đầy đủ. Victor nhanh chóng trở thành một
chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu bom nguyên tử. Sau khi hiểu được
tất cả các chi tiết, ông thậm chí còn bắt đầu đề xuất sửa đổi các vấn đề thử
nghiệm khác nhau trong quá trình phát triển bom nguyên tử.
Victor
không chỉ nhận thức rõ các chi tiết của nghiên cứu, mà còn nắm bắt toàn diện và
có hệ thống các tiến trình và từng mắt xích liên kết của dự án bom nguyên tử của
Anh và Hoa Kỳ. Điều này đặt ông vào một vị trí rất thuận lợi để nghiên cứu bom
nguyên tử, tiến hành phân tích và tích hợp các thông tin khác nhau để tạo nên một
báo cáo toàn diện chi tiết về tiến trình chung của bom nguyên tử. Lúc này, “tài
sản tình báo” mà Victor nắm trong tay đủ để tạo nên sức ảnh hưởng cực kỳ quan
trọng đến toàn bộ quá trình chiến tranh.
![]() |
| Rudolf Peierls |
Rudolf Peierls, một nhà vật lý hạt nhân người Do Thái di cư đến Vương quốc Anh năm 1933, về mặt lý thuyết đã chứng mình rằng phản ứng dây chuyền hạt nhân là hoàn toàn có thể. Do đó, việc xây dựng lò phản ứng để tạo nhiên liệu cho bom nguyên tử cũng rất khả thi. Đầu tiên, Pierce đề xuất khoảng 1kg U235 bị phân tách là đủ để chế tạo bom nguyên tử. Đến năm 1940, tất cả các nhà khoa học đều nghĩ rằng để chế tạo bom nguyên tử phải sử dụng tới hàng tấn U235, nhưng tính toán của Pierce đã phá vỡ dự đoán của mọi người.
Sau đó,
Pierce và Sir Marc Orifen của Đại học Birmingham đã cùng nhau xác minh tính khả
thi của công nghệ và đề xuất một bộ thiết kế hoàn chỉnh. Chương trình này nhanh
chóng được Victor chấp nhận, sau đó ông đã tiến hành phân tích và nghiên cứu
chi tiết chương trình.
Kế hoạch
nhanh chóng được chuyển sang tay Liên Xô. Liên Xô thể hiện sự quan tâm và hứng
thú cao độ đối với tiến trình chế tạo bom nguyên tử. Thời điểm đó, áp lực của
Hitler đối với Liên Xô không ngừng gia tăng. Sau trận Stalingrad, chiến trường
Xô-Đức rơi vào thế bế tắc và thông tin về sự phát triển của bom nguyên tử đã tạo
ra sự thu hút cực độ đối với Liên Xô.
Các nhà vật
lý của Liên Xô như Kapitsa vẫn chưa có bước tiến nào đáng kể trong nghiên cứu
bom nguyên tử. Thời điểm này, những ý tưởng mới từ Victor chẳng khác gì mưa rào
sau đại hạn, lan truyền cảm hứng cho Kapitsa và những người này, ngay lập tức
thúc đẩy tiến trình phát triển bom nguyên tử ở Liên Xô. Tại Hoa Kỳ, Fermi đã đề
xuất trong cuộc thí nghiệm Chicago năm 1942. Dựa trên lý thuyết phản ứng dây
chuyền của Peierls, bom nguyên tử có thể sử dụng plutonium và tạo nên lò phản ứng
hạt nhân đầu tiên trên thế giới.
Tư duy của
Fermi ở Anh đã bị Peierls và những người khác nghi ngờ. Trong hoàn cảnh như vậy,
để hiểu đầy đủ liệu plutonium có thể trở thành nhiên liệu cho lò phản ứng hay
không, Victor phải đến rất nhiều phòng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học
và công nghệ quốc phòng. Đồng thời, ông tham khảo rộng rãi với các nhà nghiên cứu
từ mọi lĩnh vực thì mới có thể hiểu toàn bộ các mắt xích kỹ thuật cốt lõi của
lò phản ứng nguyên tử. Việc điều tra theo kiểu khoa trương về những chi tiết
liên quan bom nguyên tử như vậy chắc chắn gây ra sự nghi ngờ.
Victor là ai kia
chứ? Ông nhanh chóng và bình tĩnh thiết kế một giải pháp hoàn hảo.
Đầu tiên, Victor
viết một báo cáo cho Guy Liddell, Phó phòng Thông tin thuộc MI-5. Trong báo
cáo, Victor nói rằng toàn bộ các phòng thí nghiệm quốc gia và sự hợp tác trong
lĩnh vực thương mại đều thiếu ý thức đảm bảo an toàn thông tin, do đó không thể
ngăn chặn một cách hiệu quả sự xâm nhập của gián điệp Đức. Ông đề nghị khẩn
trương tăng cường quản lý an ninh và thiết lập nhận thức bảo mật lâu dài đối với
các phòng ban. Liddell nhận thấy báo cáo của Victor rất hợp lý và đồng ý cho
Victor chịu trách nhiệm về sự an toàn của toàn bộ dự án nghiên cứu khoa học quốc
phòng. Vị trí này chính là điều mà Victor mong muốn. Có được sự đồng ý đó, ông
hoàn toàn có thể kiểm tra một cách đầy đủ và hợp pháp "tình trạng an
toàn" của tất cả các dự án mà mình quan tâm. Victor trở thành một "thanh tra an
ninh" các dự án nhạy cảm ở Anh.
Năm 1942,
ông đã đến thăm Đại học Birmingham và trực tiếp kiểm tra tiến độ công việc
trong phòng thí nghiệm của Peierls và Forrick. Sau đó, ông lại đến một văn
phòng khác để kiểm trả công việc của Orifen. Vào thời điểm đó, Orifen đang thực
hiện nghiên cứu về radar. Trong hồi ký năm 1994, Orifen đã đề cập: "Đó là
lần duy nhất tôi gặp anh ấy (Victor). Victor muốn biết tất cả tiến trình dự án.
Anh ấy đã đến thăm toàn bộ phòng thí nghiệm và đọc từng bản báo cáo nghiên cứu.
Nghiên cứu toàn bộ các thông tin chi tiết trong các báo cáo này. Dù không phải
là một chuyên gia, nhưng ánh ấy liên tục đặt ra rất nhiều câu hỏi, ghi chú và
thảo luận rất dài với tôi. Nội dung thảo luận thường xoay quanh các vấn đề khác
nhau mà chúng tôi phải đối mặt trong quá trình thí nghiệm khoa học. Anh ấy là một
người rất thông minh, tôi thực sự thích Sir Rothschild này."
Trên thực tế,
dạng kiểm tra an ninh này của MI-5 đã vượt xa phạm vi bảo vệ an ninh thông thường.
Victor thực ra đang tìm hiểu tình hình cụ thể của tất cả các dự án, đặc biệt là
các chi tiết liên quan đến kỹ thuật. Nhân lúc Orifen không chú ý, ông đã lấy đi
một ống điện tử nam châm (ống Magnetron) có đường kính 3 inch. Magnetron có ba
cực từ để tạo ra sóng ngắn và là một thiết bị tiên tiến chuyên dành cho radar.
Tối hôm đó, trong ngôi nhà của mình ở Cambridge, Victor đã lập bản vẽ chính xác
tất cả chi tiết và thành phần của thiết bị này. Kỹ năng hội họa của Victor khá
tốt. Bản vẽ ba chiều dựa trên sự quan sát và lý giải của chính ông dễ hiểu hơn
nhiều so với những bức ảnh được chụp bởi máy ảnh. Chẳng mấy chóc, bức vẽ ba chiều
tuyệt đẹp này đã xuất hiện trên bàn của KGB.
Sáng hôm
sau, Victor lại nhờ người gửi trả ống Magnetron cho Orifen và đính kèm một ghi
chú: "Có lẽ anh nên tằng cường quản lý an toàn. Rất vui được nói chuyện với
anh. Người bạn trung thực của anh, Victor Rothschild."
Sau khi nhận
được tờ giấy nhắn, Orifen toát mồ hôi lạnh, vì ống Magnetron bị mất mà ông
không hề hay biết. Orifen hoàn toàn không nghi ngờ gì về hành động này của
Victor. Theo một nghĩa nào đó, ông còn cảm thấy rất biết ơn, vì với vị trí và
trách nhiệm của Victor, ông hoàn toàn có thể lập báo cáo phê bình về những lỗ hổng
bảo mật của đội ngũ Orifen. Điều này sẽ gây ra nhiều rắc rối cho phòng thí nghiệm,
nhưng Victor chỉ viết một tờ giấy nhắc nhở thiện chí. Điều này thực sự là một
nghĩa cử cao thượng. Orifen không dám bê trễ, hồi âm ngay lập tức và tăng cường
quản lý an ninh để đảm bảo rằng tất cả các thiết bị thử nghiệm sẽ không được
mang đi nếu như chưa đăng ký.
Đầu năm
1943, Victor một lần nữa ghé thăm phong thí nghiệm của giáo sư Thomson của Đại
học Đế quốc London, cũng với danh nghĩa kiểm tra an ninh. Giáo sư Thomson giải
thích tỉ mỉ cho Victor cách dùng plutonium để chế tạo bom nguyên tử. Tuy nhiên,
dù nhóm của Thomson hiểu đúng nguyên tắc, nhưng họ lại sử dụng sai nước nặng
làm chất điều tiết neutron trong lò phản ứng, dẫn đến sự thất bại của thí nghiệm.
Victor
nhanh chóng vẽ lại các tiến trình trong nghiên cứu của nhóm Thomson thành một bản
vẽ ba chiều tinh vi, và sau đó trao lại cho Blunt – người sẽ gửi nó cho KGB.
Sau đó, các nhà vật lý Liên Xô phản ánh rằng dữ liệu này chính là thứ mà họ
đang hao tâm tổn trí để tìm kiếm, và thông tin tình báo của Victor đã giúp họ
rút ngắn đáng kể thời gian nghiên cứu. Nhiều năm sau, Liên Xô thừa nhận rằng quả
bom nguyên tử đầu tiên phát nổ vào năm 1949 chỉ là một phiên bản theo thiết kế
của Mỹ. Thiết kế này là một ý tưởng mới chưa từng có đối với họ, giúp các nhà vật
ký hạt nhân Liên Xô hiểu được những nguyên lý cơ bản nhất của lò phản ứng hạt
nhân. Vào thời điểm đó, ở cả Vương quốc Anh lẫn Hoa Kỳ, và thậm chí các nhà
khoa học hàng đầu cùng các quan chức cốt lõi của chính phủ, bao gồm Churchill,
chỉ e chẳng có được hiểu biết toàn diện và chi tiết như Victor về mọi phương diện
liên quan đến bom nguyên tử.
Victor trở
thành một nguồn thông tin tình báo chiến lược không thể thiếu cho Liên Xô tại
thời điểm này. Cuối cùng, ông đã báo giá đối cho Liên Xô.
Trích "Chương 7, Chiến tranh tiền tệ - phần 2 - Sự thống trị của quyền lực tài chính, Song Hong Bing"
Đọc tiếp:
.jpg)

Nhận xét
Đăng nhận xét