SỰ RA ĐỜI CỦA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ - phần 8

TRẬN CHIẾN BÔNG SỢI

Ai có thể giải thích những thành tựu của Trung Quốc trong việc kiểm soát lạm phát trong những ngày đầu nhà nước này mới được thành lập, thì người đó hoàn toàn đủ tư cách để giành giải thưởng Nobel về kinh tế.

-Friedman-

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố long trọng trên thành lâu của Thiên An Môn: “Người dân Trung Quốc đã đứng lên!” Chỉ nửa tháng sau, với hai tỉnh thành dẫn đầu là Thượng Hải và Thiên Tân, vật giá trên toàn quốc bắt đầu tăng vọt. Vật giá tháng 11 tăng gấp đôi so với cuối tháng 7. Người dân chưa kịp đứng thẳng lưng thì đã bị lạm phát đè chặt xuống.

Trần Vân cũng dự liệu đến cục diện này từ lâu. Một mặt, chiến tranh vẫn đang diễn ra, chi tiêu quân sự là rất lớn và chính phủ phải dựa vào việc tăng lượng phát hành tiền tệ để bù đắp cho chi tiêu quân sự. Mặt khác, những kẻ đầu cơ bị nắm đấm sắt của Trần Vân đè bẹp trong Trận chiến đồng bạc vẫn không cam chịu thất bại. Họ đặt cược vào các nhu yếu phẩm hằng ngày của người dân thường. Toan tính của họ là Đảng Cộng sản có thể tịch thu đồng bạc, nhưng liệu có thể cấm bán ngũ cốc và bông gạc không? Nếu không thể thu mua thực phẩm thì chắc chắn dân chúng sẽ làm loạn với Đảng Cộng sản. Đến lúc đó, Đảng Cộng sản sẽ phải tìm đến các nhà đầu cơ để mua thực phẩm và bông gạc.

Nhưng họ đâu biết rằng, Trần Vân từ lâu đã tìm ra chìa khóa để ổn định giá cả. Đó là, chính phủ kiểm soát số lượng các vật tư chủ đạo, “lòng người hỗn loạn hay không, thực phẩm nằm ở trung tâm thành phố.” Chiến lược đối phó với các nhà đầu cơ là: một mặt, cạnh tranh với những kẻ đầu cơ để tích trữ vật tư; mặt khác, thực hiện chiến lược “rút củi đấy nồi” đối với nguồn vốn của họ, nghĩa là thắt chặt nguồn lực tài chính.

Những kẻ đầu cơ phạm sai lầm chết người của Hồ Tuyết Nham năm xưa: Dồn sức thu mua tích trữ nhằm gây sức ép với chính phủ. Nhưng nếu không nắm được quyền phát hành tiền tệ thì hành động đó chẳng khác gì tự tìm chỗ chết!

Ủy ban Tài chính Trung Quốc tổ chức điều động ngũ cốc, bông và vải quy mô lớn trên toàn quốc và thực hiện quản lý tập trung. Trần Vân phái Tào Cúc Như – nhân vật gạo cội năm xưa từng lãnh đạo Ngân hàng Quốc gia Khu vực Xô Viết, đến phía đông bắc để điều động ngũ cốc. Ông đích thân dặn dò Tào Cúc Như “tọa trấn” ở Thẩm Dương, mỗi ngày gửi một xe ngũ cốc đến Bắc Kinh và tích trữ trong khu Thiên Đàn. Không những vậy, còn phải cho những người buôn bán ngũ cốc thấy rằng việc tích trữ ngũ cốc đang ngày một tăng lên, để họ hiểu rằng trong tay chính phủ quả thực có rất nhiều lương thực, việc tăng giá là lợi bất cập hại. Ông cũng ra chỉ thị yêu cầu Tiền Chi Quang – Cục trưởng Cục Thương mại Khu vực Xô Viết năm xưa, đến Thượng Hải, Tây An, Quảng Châu và các nơi khác nhằm điều chỉnh lượng vải tồn để có hành động thống nhất.

Đồng thời, nhiều biện pháp khác được thực hiện nhằm thắt chặt nguồn tài chính: một là thu thuế, hai là phát hành nợ công. Ngoài ra, các nhà tư bản bắt buộc phải trả lương cho công nhân đúng hạn, không được phép ngừng sản xuất để chuyển dịch các hoạt động đầu cơ. Ông cũng yêu cầu các đơn vị nhà nước phải gửi tiền mặt vào ngân hàng quốc gia chứ không phải ngân hàng tư nhân. Tiến hành quản lý tài chính nghiêm ngặt với các ngân hàng tư nhân. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cũng giới thiệu dịch vụ “tiết kiệm Chiết thực” để thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Bằng cách này, những nguồn vốn phân tán trong xã hội đã bị hút cạn mà các nhà đầu cơ vẫn không hề hay biết, họ vẫn tiếp tục vay tiền với lãi xuất cao để thu mua ngũ cốc và bông gạc.

Tính đến ngày 13 tháng 11, số lượng lương thực mà chính phủ có thể điều động là trên 2,5 tỷ kg. Tập đoàn Dệt may Quốc gia Trung Quốc nắm giữ một nửa số sợi bông và vải bông của cả nước. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc huy động 800 tỷ nhân dân tệ nguồn vốn phân tán trong xã hội. Những kẻ đầu cơ đã rơi sâu vào chiếc bẫy mà không hay biết.

Lúc này, Trần vân tin rằng đã có đủ các điều kiện cơ bản để ổn định vật giá, ông lập tức đưa ra 12 chỉ thị, thiết đặt các quy tắc theo dõi chặt chẽ mục tiêu vật giá, tập trung vật tư, trấn áp các nhà đầu cơ để triển khai các khâu cuối cùng cho cuộc chiến.

Từ ngày 20 tháng 11, các công ty thương mại nhà nước ở các thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân và Hán Khẩu bắt đầu tung hàng ra thị trường. Các nhà đầu cơ thấy vật tư đang bán ra, bèn đổ xô mua vào bất cứ giá nào. Trong quá trình bán vật tư, các công ty thương mại nhà nước từng bước tăng giá và tiến gần đến mức giá trên thị trường chợ đen. Tóm lại chuyện gì đang xảy ra vậy? Lẽ nào chính phủ cũng muốn lợi dụng tình trạng chênh lệch giá để kiếm lời? Họ không ngờ rằng đó là chiến lược “dụ rắn ra khỏi hang” của Trần Vân, khiến cho những kẻ đầu cơ trút hết số vốn trong tay.

Bằng kinh nghiệm, những kẻ đầu cơ đánh giá rằng hàng hóa có thể tăng giá vài lần một ngày, không chỉ có thể đối phó với lãi suất của các khoản vay, mà còn kiếm được lợi nhuận khổng lồ. Họ cũng chẳng có tâm trí nào mà dò xét động cơ tăng giá của các công ty nhà nước. Cứ thế, họ điên cuồng thu mua, chẳng mấy chốc tiền trong túi đã cạn sạch. Nếu không thể vay ngân hàng thì có thể đi vay nặng lãi, thậm chí chấp nhận trả lãi suất kinh hoàng lên tới 50% hoặc thậm chí 100% mỗi ngày!

Ngày 24 tháng 11, mức sàn vật giá tổng thể đã tăng 2,2 lần so với cuối tháng 7. Đây chính xác là mục tiêu mà Trần Vân đặt ra. Ở cấp độ này, lượng hàng hóa trong nước và lượng tiền lưu thông trên thị trường là tương đương. Thời khắc chính phủ tập trung toàn bộ sức mạnh quyết chiến với những kẻ đầu cơ đã đến!

Ngày 25 tháng 11, cùng lúc, ở nhiều nơi, các công ty thương mại nhà nước bắt đầu bán ra đầy đủ bông vải và liên tục hạ giá.

Các nhà đầu cơ ban đầu vẫn dám “tiếp chiêu”, tiếp tục thu mua. Tuy nhiên, nguồn cung của các công ty nhà nước là quá nhiều, còn nguồn tiền của các nhà đầu cơ chẳng bao lâu đã cạn. Lúc này, những kẻ đầu cơ mới nhận ra tình thế bất ổn, vội vàng “cắt thịt” bán tống bán tháo số lượng bông gạc họ đã thu mua tích trữ với giá cao. Họ càng bán tháo thì càng thua lỗ, thị trường sợi bông bỗng chốc suy sụp như tuyết lỡ.

Sau khi chính phủ bán ra 10 ngày liên tiếp, giá các mặt hàng như ngũ cốc và bông gạc giảm mạnh từ 30% đến 40%.

Rất nhiều nhà đầu cơ không thể chống đỡ nổi rồi lần lượt phá sản. Các nhà đầu cơ của Thiên Tân còn nhảy lầu tự sát. Hàng chục nhà bán buôn tư nhân ở Thượng Hải sập tiệm ngay lập tức và những kẻ đầu cơ bông mất trắng hơn 25 tỷ đồng.

Ba tháng sau, Trần Vân áp dụng chiến thuật tương tự. Trong cuộc đại chiến lương thực, ông giáng một đòn chí tử cuối cùng vào những kẻ đầu cơ ngoan cố. Kể từ đó, thế lực đầu cơ sụp đổ tan tành, suốt 50 năm sau đó không thể gượng dậy nữa, mãi cho đến năm 2010 khi tình trạng đầu cơ tỏi, đậu và gừng xảy ra.

Vật giá dần đi vào quỹ đạo ổn định và siêu lạm phát ở Trung Quốc cuối cùng đã được kiểm soát sau hơn một thập kỷ!

Thế lực đầu cơ ở Thượng Hải thất bại thảm hại, mất cả chì lẫn chài, chỉ biết cảm thán: “Đảng Cộng sản thực sự toàn những bậc kỳ tài, chúng tôi chẳng thể đấu lại gã thấp bé đó (ý chỉ Trần Vân)!” Điều duy nhất khiến họ cảm thấy an ủi phần nào, đó là họ chịu thua tâm phục khẩu phục trước một người đồng hương Thượng Hải giỏi bày mưu tính kế và biết cách xoay vần thị trường hơn hẳn.

Cú đánh trời giáng vào thế lực đầu cơ làm dịu các doanh nghiệp công thương ở Thượng Hải. Vinh Nghị Nhân nói rằng trong “cơn bão bạc” hồi tháng 6, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sử dụng sức mạnh chính trị để trấn áp, còn cuộc chiến lương thực và bông sợi này thì hoàn toàn dùng sức mạnh kinh tế mà trấn áp. Điều đó dạy cho cộng đồng doanh nghiệp Thượng Hải một bài học.

Trong trận chiến ngũ cốc và bông sợi này, chính phủ không chỉ phản ứng một cách chủ động mà còn đạt được mục tiêu theo kế hoạch từng bước. Cả chỉ số giá chung lẫn giá của các mặt hàng chính điều ở trong mức dự kiến. Tình trạng siêu lạm phát mà Tưởng Giới Thạch không thể giải quyết và tình trạng vật giá mà người Mỹ nghĩ rằng không thể làm dịu – tất cả đã được Trần Vân và các đồng nghiệp của ông giải quyết triệt để thông qua những tính toán chính xác và thực hiện nghiêm ngặt.

Trương Nãi Khí – một nhà tài chính nổi tiếng kiêm cố vấn cho Ủy ban Tài chính Trung Quốc thời điểm đó, rất thán phục khả năng nắm bắt thời cơ phản công các lực lượng đầu cơ của Trần Vân: “Thời khắc quan trọng đó, những người trí thức như chúng tôi khó tránh khỏi việc mắc căn bệnh sốt ruột của chủ nghĩa chủ quan. Lúc đó, tôi liên tục đề nghị rằng hãy mau chóng ra tay, tạo áp lực lên thị trường. Tuy nhiên, người phụ trách công tác tài chính (tức Trần Vân) lại rất bình tĩnh, kiên định và cho rằng thời gian chưa chín muồi, dựa trên việc so sánh số lượng tiền tệ và số lượng vật tư, cần phải chuẩn bị nhiều nguồn lực hơn nữa. Đồng thời, có thể tốt hơn là rút lui khỏi thị trường thêm một vài bước nữa để chuẩn bị cho sự chủ động và phản công.

Thực tế cho chúng ta biết rằng chiến lược này là hoàn toàn chính xác. Cuộc phản công kinh tế bắt đầu vào giữa tháng 11. Lấy Ngũ Phúc Bố làm điển phạm, giá vải trên thị trường ngày 13 tháng 11 là 126.000 nhân dân tệ/cuộn, tăng hơn gấp đôi so với 55.000 nhân dân tệ vào ngày 31 tháng 10. Điều đó có nghĩa là, nếu cuộc phản công được tiến hành sớm hơn nửa tháng, khả năng thu hồi tiền tệ của hai cuộn vải sẽ không bằng một cuộn của nửa tháng sau. Ví dụ trong việc dụng binh, sau khi chúng ta hành quân đến địa hình hoàn toàn có lợi cho mình, một sư đoàn có thể phát huy sức mạnh tương đương với hai sư đoàn, và chắc chắn rằng có thể đánh bại kẻ thù.”

Trương Nãi Khí là nhân vật tầm cỡ ra sao? Năm 1948, có một dạo Trần Thành từng đề nghị với Tưởng Giới Thạch cho Trương Nãi Khí đảm nhận chức Bộ trưởng Bộ Tài chính để giải cứu khủng hoảng. Tưởng Giới Thạch thở dài và nói: “Tôi rất muốn dùng Trương Nãi Khí, nhưng ông ta không chịu dưới trướng tôi!” Qua đó, chúng ta đánh giá được trình độ của Trương Nãi Khí, và có thể thấy Trần Vân là cao thủ tuyệt đỉnh trong số những cao thủ.

Mao Trạch Đông tin rằng thắng lợi của trận chiến bảo vệ vật giá này có ý nghĩa rất lớn, “không thua gì Chiến dịch Hoài Hải”. Một lần, khi báo cáo công tác với Mao Trạch Đông, Bạc Nhất Ba đã nhắc tới Trần Vân: “Đồng chí Trần Vân rất hiệu quả trong việc chủ trì công việc của Ủy ban Tài chính Trung Quốc, phàm là những việc đã đánh giá chuẩn xác thì anh ấy làm rất cương quyết và dũng cảm.” Nghe xong, Mao Trạch Đông trả lời: “Trước kia, tôi vẫn chưa nhận ra năng lực của cậu ấy.” Sau đó, ông tiện tay cầm lấy cây bút và viết chữ “Năng” lên giấy. Bạc Nhất Ba hỏi: “Chủ tịch viết chứ “Năng” này, có phải lấy từ điển tích Thừa tướng Gia Cát Lượng xuất quân đến Hán Trung, chuẩn bị Bắc phạt? Trước khi đi, Gia Cát Lượng dâng Xuất ư biểu trần thuật tâm sự, trong đó có đoạn tiến cử Hướng Sủng: ‘Tướng quân Hướng Sủng, tính tình đức hạnh, hiểu rõ việc quân, được mài giũa qua việc ngày trước, Tiên đế khen là có năng lực, mọi người tiến cử Sủng làm đốc. Thần cho rằng việc trong quân doanh, nên cùng hắn bàn bạc, nhất định khiến quân đội hòa thuận, phối trí thích đáng’?” Mao Trạch Đông mỉm cười gật đầu.

Từ việc Trần Vân chỉ đạo toàn bộ Trận chiến ngũ cốc và bông sợi, chúng ta có thể thấy ông có hiểu biết sâu sắc của một nhà kinh tế thiên tài, năng lực nắm bắt thời cơ thị trường và phẩm chất của một giao dịch viên siêu hạng. Đó là sự kết hợp hoàn hảo của Friedman và Soros.

Không có gì ngạc nhiên khi một số người nói rằng những người đã giành giải Nobel về kinh tế không cùng đẳng cấp với Trần Vân, Tiết Mộ Kiều và Nam Hán Thần, v.v. bởi vì họ không có cơ hội sinh sống ở quốc gia có dân số lớn nhất thế giới này để nghiệm chứng thực tế các lý luận của mình. Friedman, Samuelson và những người khác chú trọng vào thị trường tự do, Stiglitz thì nhấn mạnh vào việc chính phủ phải điều tiết theo kế hoạch. Còn Trần Vân, ngay từ khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ông đã đề xuất tư tưởng chỉ đạo công tác kinh tế là “kế hoạch lớn, tự do nhỏ”, vừa nhấn mạnh việc điều tiết và kiểm soát của chính phủ, vừa chú trọng vào sự tự do của thị trường.

Trích "Chương 8, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét