CHIẾN TRANH TIỀN TỆ: SỰ TÁI SINH CỦA LỊCH SỬ
![]() |
| Trang bìa với chủ đề Chiến tranh tiền tệ của tạp chí The Economist |
Trang bìa cả
tạp chí The Economist của Anh tháng 10 năm 2010 cho thấy làn khói của
“chiến tranh tiền tệ” trên thế giới, như thể một cuộc chiến tranh thế giới mới
đã bắt đầu. Ngay lập tức, các phương tiện truyền thông khắp nơi theo dõi và đưa
tin về tình hình chiến sự của “chiến tranh tiền tệ”. Các nhân vật chính trị,
nhà kinh tế, tổ chức quốc tế và diễn đàn cao cấp đều lũ lượt xông vào “chiến
trường”. Công luận phương Tây mặc định hai bên giao chiến chính là Trung Quốc
và Mỹ, vũ khí là tiền tệ. Nguyên nhân bùng nổ chiến tranh là do “tỷ giá hối
đoái của nhân dân tệ” bị hạ xuống mức thấp.
Vậy là bỗng
nhiên, lời kêu gọi “bao vây và đàn áp” tỷ giá đồng nhân dân tệ vàng lên khắp
phương Tây. Áp lực dư luận mạnh mẽ tựa như một đám mây đen. Như thể nếu tỷ giá
giữa đồng nhân dân tệ và đồng đô-la không tăng lên thì tình trạng mất cân đối
trong nền kinh tế thế giới sẽ không có lối thoát, và sự phục hồi kinh tế của
các nước cũng thất bại. Chiến tranh thương mại sẽ càn quét thế giới và bi kịch
của cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930 sẽ lặp lại.
Một số nhà
kinh tế Mỹ cũng chỉ ra rằng, cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra ở Mỹ là lỗi của đồng
nhân dân tệ. Việc phá giá đồng nhân dân tệ gây ra tình trạng thặng dư thương mại
ở mức cao tại Trung Quốc. Người Trung Quốc – vốn ưa tiết kiệm và không thích
tiêu tiền – đã liên tục thu mua trái phiếu kho bạc của Mỹ, khiến Mỹ phải hứng
chịu nhiều thiệt hại từ “tiền nóng” giá rẻ của Trung Quốc, lãi suất dài hạn của
Mỹ ngày càng thấp hơn, cuối cùng gây ra bong bóng tài sản và khủng hoảng kinh tế.
Sử dụng
tình trạng mất cân bằng thương mại như một cái cớ và trấn áp hệ thống tiền tệ
Trung Quốc như một bước đột phá, sau đó tạo ra sự hỗn loạn trong nền kinh tế,
nhúng tay vào hệ thống tài chính, cuối cùng là kiểm soát các biên giới tài
chính của nước này. Tất cả những nước cờ này đã xuất hiện quá nhiều lần trong lịch
sử cận đại của Trung Quốc.
Khi người
Anh đặt chân đến đất nước Trung Quốc giàu có vào thế kỷ XIX, họ đã chinh phục
thành công hơn 20 quốc gia trên lục địa châu Phi, nắm quyền kiểm soát các quốc
gia của Khối thịnh vượng chung như Úc và New Zealand ở châu Đại Dương, khống chế
Canada, Guyana, Jamaica, Bahamas và các khu vực khác ở châu Mỹ.
Ở châu Á, họ
cai trị các khu vực rộng lớn từ Ấn Độ (bao gồm Pakistan), Malaysia (bao gồm cả
Singapore) đến Myanmar. Theo phương châm chiến lược thực dân toàn cầu hóa của Đế
quốc Anh, họ muốn chinh phục Trung Quốc bằng vũ lực, nhưng lại phải đối mặt với
một quốc gia lớn với dân số 400 triệu người, nên đành lực bất tòng tâm. Do đó,
nếu muốn chinh phục Trung Quốc, trước tiên phải chinh phục tiền tệ của đất nước
này. Sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ sẽ dẫn tới sự tan rã của biên giới tài
chính, khiến cho năng lực tài chính của đất nước bị giải thể. Quyền lực chính
trị và sức mạnh quân sự cũng theo đó mà sụp đổ, cuối cùng sẽ cho phép họ biến
Trung Quốc thành thuộc địa của mình.
Dựa vào cái
cớ là sự bất bình đẳng thương mại để tiến hanh buôn bán thuốc phiện và phát động
chiến tranh nha phiến, hướng chính diện là tấn công tiền tệ của Trung Quốc – bạc.
Buôn bán thuốc phiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phát hủy hệ thống tiền tệ của
Trung Quốc, dẫn đến một lượng lớn bạc ở Trung Quốc chảy ra nước ngoài. Trong nước
xuất hiện tình trạng giảm phát “bạc đắt, tiền tẻ”, kinh tế suy giảm, sản xuất
thu hẹp, dân chúng khốn khổ oán than, xung đột xã hội ngày càng kịch liệt, mậu
dịch thương mại thâm hụt nghiêm trọng qua từng năm, tài chính quốc gia thu
không đủ bù chi, sưu thuế nặng nề gây nên tình trạng phản kháng của người dân.
Những cuộc
chiến cả trong lẫn ngoài nước buộc chính quyền nhà Thanh phải vay nợ lớn từ các
cường quốc phương Tây, thế chấp các nguồn thu chính của chính quyền trung ương
như các loại thuế. Họ đánh mất vị thế không chế tài chính của ngân hàng trung
ương, không còn quyền tự chủ trong định giá thương mại, đường sắt, vận chuyển,
dệt may, thép và các hoạt động ngoại hối khác. Quyền huy động vốn từ các hoạt động
quân sự như “Hải phòng”, “Trại phòng”… cũng lần lượt thất thủ. Cả nước rơi vào
tình trạng nửa thuộc địa hết sức bi thảm, trở thành mảnh đất cho các thế lực
phương Tây thỏa sức vơ vét.
Đầu những
năm 1930, khi Chính phủ chuẩn bị hoàn thành công cuộc “phế lạng cải nguyên”, chế
độ tiền tệ bản vị bạc, “tứ hàng lưỡng cục”, thống nhất quyền lực tiền tệ nhằm
đoạt lại biên giới tài chính, người Mỹ lại “bổn cũ soạn lại”, một lần nữa tiến
hành tấn công hệ thống tiền tệ (đồng bạc) của Trung Quốc. Roosevelt đơn phương
tuyên bố thu mua số lượng lớn bạc trên thế giới, nói rằng Mỹ sẽ thúc đẩy tăng
giá bạc và tăng sức mua của các quốc gia áp dụng bản vị bạc như Trung Quốc bằng
cách mua bạc trên thị trường. Trên thực tế là ép tiền tệ của Trung Quốc phải
tăng giá, để họ có thể bán tháo hàng hóa dư thừa của mình và làm suy giảm sự ổn
định tiền tệ của Trung Quốc. Chiến lược bạc của Mỹ khiến cho giá bạc quốc tế
tăng vọt, nên một lượng lớn bạc Trung Quốc đã “được xuất khẩu”. Trung Quốc
không phải là một quốc gia sản xuất bạc lớn, ngay cả nguồn bạc dùng để đúc tiền
vẫn cần phải nhập khẩu, vậy mà lúc này tiền kim loại của Trung Quốc lại cuồn cuộn
chảy ra nước ngoài như thác lũ.
Năm 1934, tức
là chỉ sau ba tháng rưỡi, lượng bạc chảy ra hải ngoại đã đạt mức 200 triệu nhân
dân tệ. Mỹ liên tục thu mua bạc. Giá bạc trên thị trường bạc London đã tăng gấp
đôi! Kết quả chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bạc chảy sạch ra nước ngoài, tiền tệ
Trung Quốc “bị tăng giá”, thâm hụt ngoại thương mại tăng cao, hàng hóa nước
ngoài tràn vào thị trường, tình hình xuất khẩu ngày càng khó khăn. Đồng thời,
tình trạng thất thoát bạc còn gây ra giảm phát, tín dụng ngân hàng giảm mạnh và
lãi suất tăng vọt. Vào thời điểm đó ở Thượng Hải, cho dù chấp nhận trả mức lãi
suất cao đến mấy cũng chẳng vay được tiền. Đồng bạc khan hiếm, thị trường không
đủ phương tiện giao dịch, vật giá giảm mạnh dẫn đến sự phá sản của ngành công
nghiệp và thương mại. Đến cuối năm 1934, giá nhà lao dốc không phanh, thậm chí
giá nhà ở Khu tô giới Thượng Hải giảm tới 90%! Trên thị trường ai nấy đều nhớn
nhác lo ngại, hiện tượng đột ngột rút tiền gửi xuất hiện trên diện rộng, các
ngân hàng và tiền trang thi nhau phá sản. Cuối cùng, chính phủ quốc dân buộc phải
từ bỏ bản vị bạc – cơ sở của tiền tệ, thay vào đó là dựa vào đồng bàng Anh và đồng
đô-la Mỹ để phát hành tiền pháp định dựa trên tỷ giá hối đoái.
Khi cuộc
kháng chiến toàn diện bùng nổ, để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, Quỹ
Bình ổn Ngoại hối đã được thành lập, Ngân hàng Trung ương và quyền quản lý ngoại
hối nằm trong tay Vương quốc Anh và Mỹ. Trung Quốc một lần nữa mất đi biên giới
tài chính.
Khi cuộc
kháng chiến toàn diện bùng nổ, để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, Quỹ
Bình ổn Ngoại hối đã được thành lập, Ngân hàng Trung ương và quyền quản lý ngoại
hối nằm trong tay Vương quốc Anh và Mỹ. Trung Quốc một lần nữa mất đi biên giới
tài chính.
Lần này, nếu
Mỹ buộc đồng nhân dân tệ tăng giá, liệu điều đó có thể giải quyết tình trạng
thâm hụt thương mại và thất nghiệp của Mỹ hay chăng? Nguyên nhân dẫn đến tình
trạng thâm hụt thương mại của Mỹ là do thiết kế hệ thống đồng đô-la quốc tế vốn
đã tồn tại những điểm yếu chết người. Tiền tệ của Mỹ không thể đảm nhận chức
năng của một loại tiền tệ thế giới trong một thời gian dài. Thực tế, bất cứ loại
tiền nào cũng không thể làm được điều này. Tiền tệ thế giới chủ yếu mang chức
năng giao dịch của thương mại quốc tế. Nếu Mỹ có thặng dư thương mại dài hạn,
chắc chắn sẽ chỉ xuất khẩu hàng hóa, và nguồn đô-la trên thế giới sẽ quay trở lại.
Do đó, thương mại quốc tế sẽ bị thu hẹp do thiếu tiền tệ giao dịch, nền kinh tế
của tất cả các quốc gia sẽ suy thoái. Tương tự như vậy, muốn thương mại quốc tế
phát triển bền vững, Mỹ phải xuất khẩu tiền tệ và nhập khẩu hàng hóa một cách
khách quan. Do đó, tình trạng thâm hụt thương mại của nước này là điều tất yếu,
sự khác biệt chỉ nằm ở đối tượng thâm hụt thương mại mà thôi.
Đồng nhân
dân tệ tăng giá khó có thể thay đổi các vấn đề mang tính kết cấu trong tình trạng
thâm hụt thương mại của Mỹ. Nó chỉ chuyển đối tượng thâm hụt từ Trung Quốc sang
Ấn Độ, Mexico hoặc các nước khác mà thôi.
Sự tăng giá
đó cũng không thể giải quyết vấn đề thất nghiệp ở Mỹ. Chưa cần nói đến việc đồng
nhân dân tệ tăng giá 20%, mà kể cả tăng 200%, người Mỹ cũng hoàn toàn không thể
tiến hánh sản xuất đồ chơi, quần áo, phần cứng và các sản phẩm khác trên lãnh
thổ của mình, vì chi phí lao động trung bình ở Mỹ cao hơn 10 lần so với Trung
Quốc!
Tất nhiên,
các nhà hoạch định chính sách và chiến lược tài chính Mỹ biết rất rõ điều này.
Mục tiêu chiến lược của việc gây áp lực tăng giá đồng nhân dân tệ chắc chắn
không phải là vấn đề thương mại và việc làm!
Nếu tham khảo
kinh nghiệm lịch sử, thì hành động lần này hẳn là có mối quan hệ với những tiền
lệ trong quá khứ. Năm 1840, Đế quốc Anh sử dụng việc buôn bán thuốc phiện để tấn
công hệ thống tiền bạc của chính quyền nhà Thanh. Năm 1935, Mỹ sử dụng “sóng
gió bạc” để trấn áp tiền pháp định của Chính phủ quốc dân. Vậy thì lần này, Mỹ
sẽ dùng cái cớ mang tên thương mại và thất nghiệp nhằm phát động cuộc chiến chống
đồng nhân dân tệ của Trung Quốc!

Nhận xét
Đăng nhận xét