SỰ RA ĐỜI CỦA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ - phần 9 - hết

NHÂN DÂN TỆ: TIỀN TỆ PHỤC VỤ CHO NGƯỜI DÂN

Năm 1953, chính phủ cơ bản hoàn thành việc thống nhất và ổn định tài chính và vật giá quốc gia, Trần Vân đưa ra đề xuất phát hành đồng nhân dân tệ mới. Cuối năm 1954, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản chỉ thị rằng “Đồng nhân dân tệ hiện tại đã mất đi tác dụng ban đầu, và về mặt nhận thức quốc tế, nó đang gây ra tác động tiêu cực đối với tâm lý người dân trong nước. Để tiếp tục cải thiện và củng cố hệ thống tiền tệ của Trung Quốc, chúng ta cần sắp xếp lại tình trạng lưu thông tiền tệ, giảm thiểu mệnh giá để thuận tiện cho việc tính toán và sử dụng.” Chính phủ trung ương phê duyệt việc phát hành đồng nhân dân tệ mới vào năm 1955. Để tránh hai tháng đầu năm đúng vào dịp nghỉ lễ của người dân, nên đồng nhân dân tệ mới sẽ được phát hành từ ngày 1 tháng 3.

Sự xuất hiện của đồng nhân dân tệ mới bắt buộc phải giải quyết hai vấn đề chính. Thứ nhất, liệu đồng nhân dân tệ có được liên kết với vàng hay không? Và thứ hai, làm thế nào để hoán đổi tiền cũ và mới.

Trong thời đại mà “tiền tệ quy định hàm lượng vàng” đang phổ biến trên thế giới, Trần Vân đề xuất rằng đồng nhân dân tệ không nên liên kết với vàng và không quy định hàm lượng vàng của nhân dân tệ.

Tại sao Trần Vân lại cân nhắc thận trọng đến vậy khi thiết lập hàm lượng vàng cho đồng nhân dân tệ? Điều này cũng liên quan đến việc mất chức của Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô, Gromyko.

Ngày 30 tháng 4 năm 1951, Stalin đích thân đề nghị Cục Chính trị của Ủy ban Trung ương Liên Xô quyết định thu hồi quy định về tỷ giá của đồng rúp và đồng nhân dân tệ do Ngân hàng Quốc gia Liên Xô ban hành ngày 5 tháng 4, và đưa ra cảnh cáo xử lý đối với Chủ tịch Ngân hàng Quốc gia và Bộ trưởng Bộ Tài chính, còn Bộ trưởng Ngoại giao Gromyko đã bị giáng cấp bậc xuống làm Đại sứ Anh. Nguyên nhân là vì Stalin cực kỳ phẫn nộ với vấn đề thiết lập tỷ giá hối đoái của Gromyko.

Khi nhà nước Trung Quốc mới thành lập, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lần lượt công du Mat-xcơ-va, đàm phán và ký kết “Hiệp ước hữu nghị liên minh hữu nghị Xô – Trung” với Stalin và các nhà lãnh đạo Liên Xô khác, xác định liên minh chiến lược về mặt pháp lý giữa Trung Quốc và Liên Xô. Cuộc tranh cãi gay gắt nhất giữa hai bên là về tỷ giá hối đoái giữa đồng rúp và đồng nhân dân tệ. Chính phủ Liên Xô đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về vấn đề này.

Bộ nhân dân tệ thứ 2
Bộ nhân dân tệ thứ 2

Phía Liên Xô không muốn dựa theo thông lệ quốc tế - xác định tỷ giá của đồng rúp với đồng nhân dân tệ theo chỉ số giá chung của các sản phẩm chủ đạo. Thay vào đó, họ áp dụng phương pháp nâng đồng rúp và giảm giá đồng nhân dân tệ.

Đầu tiên, Liên Xô xem xét với Trung Quốc rằng tỷ lệ của đồng rúp so với đồng nhân dân tệ phải được tính bằng đô-la Mỹ. Sau khi Mao Trạch Đông đàm phán xong khuôn khổ Hiệp ước và rời khỏi Liên Xô, họ ngay lập tức tuyên bố tăng tỷ giá của đồng rúp so với tất cả các ngoại tệ, bao gồm cả đồng đô-la, tăng 30% sức mua của đồng rúp. Điều này càng khiến vấn đề đàm phán thương mại Trung – Xô trở nên nan giải. Đại diện Trung Quốc rất không hài lòng và đưa ra ý kiến bất đồng. Tuy nhiên, vì Trung Quốc lúc đó rất mong muốn thu mua hàng hóa và công nghệ của Liên Xô, nên đành nhượng bộ, thỏa hiệp, xác định tỷ giá hối đoái theo một điều kiện bất bình đẳng, 1 rúp: 9.500 nhân dân tệ.

Sau đó, Trung Quốc cố gắng làm mọi cách để thay đổi tỷ giá này, áp dụng phương thức tương tự như Liên Xô, “gậy ông đập lưng ông”. Theo một báo cáo của đại sứ Liên Xô vào tháng 2 năm 1951, chính phủ Trung Quốc bốn lần giảm tỷ giá của đồng đô-la kể từ cuối năm 1950. Bởi vì tỷ giá của đồng rúp và nhân dân tệ được tính bằng đô-la, nên tỷ giá đồng rúp chỉ còn đổi được 5.720 nhân dân tệ. Báo cáo ước tính rằng tỷ giá hối đoái của đồng rúp với vàng tính theo giá chính thức của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Do đó, việc đồng đô-la giảm tỷ giá ở Trung Quốc tự động làm giảm tỷ giá giữa đồng rúp và nhân dân tệ là điều bình thường. Điều này gây ra bất lợi chính trị và kinh tế đối với Liên Xô. Đặc biệt là giao dịch thanh toán giữa hai nước này vào năm 1951 còn tăng trưởng hơn nữa, tình hình này sẽ gây ra bất lợi lớn cho Liên Xô.

“Đại sứ quán Liên Xô khuyến nghị Bộ Tài chính Liên Xô và Ngân hàng Nhà nước nên đàm phán với Trung Quốc để xác định tỷ giá hối đoái giữa đồng rúp và nhân dân tệ dựa trên giá vàng. Ngày 5 tháng 4, Ngân hàng Nhà nước Liên Xô thảo ra một văn kiện về tỷ giá hối đoái giữa đồng rúp và nhân dân tệ. Chưa rõ nội dung cụ thể, nhưng theo Đại sứ Mỹ lúc đó là Dobrynin, văn kiện này rõ ràng có lợi hơn cho phía Trung Quốc. Thứ trưởng Ngoại giao Zorin đệ trình tài liệu lên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Gromyko để xem xét. Một mặt, do tấm lý thận trọng nên Gromyko không dám tự quyết; mặt khác, ông ta cho rằng tỷ giá hối đoái không phải vấn đề lớn, không tiện làm phiền Stalin nên cứ tạm treo ở đó. Sau đó, chính phủ Trung Quốc và Đại sứ quán Trung Quốc ở Liễn Xô lại tiếp tục thúc giục, và Zorin cũng bày tỏ sự ủng hộ. Thế là Gromyko đã phê duyệt văn kiện mà không thỉnh thị Stalin. Stalin nổi cơn thịnh nộ khi hay biết việc đó.”(63)

Chú thích:

(63) Shen Zhihua, The status of Soviet economic assistance to China from 1950 to 1953.

Hiển nhiên là Gromyko không hoàn toàn lý giải được dụng ý sâu sắc của Stalin, để cuối cùng “sai một ly, đi một dặm”.

Stalin đưa các nước Đông Âu vào “gia đình xã hội chủ nghĩa” của Liên Xô, ông đã chuẩn bị sẵn chiến lược kiểm soát họ về kinh tế. Vì các nước Đông Âu khăng khăng tự mình phát hành tiền tệ, vậy thì sẽ tiến hành kiểm soát tỷ giá. Liên Xô rất giàu vàng, khi đó chiếm khoảng 2/5 sản lượng thế giới. Do đó, họ cố tình thiết lập hàm lượng vàng của đồng rúp lên cao, vượt xa so với sức mua thực tế của đồng rúp. Nếu định giá tỷ giá hối đoái, sẽ sử dụng vàng (vốn có lợi cho Liên Xô) để làm tiêu chuẩn, qua đó chiếm lợi thế cức lớn về tỷ giá. Các nước Đông Âu chỉ dám âm thầm kêu khổ, nhưng chẳng ai dám đối mặt trực diện với Stalin, một nhân vật nổi tiếng cứng rắn.

Trong các cuộc đàm phán Trung – Xô, Stalin sử dụng phương pháp tương tự để đối phó với Trung Quốc. Vì vậy mới có chuyện sau khi Mao Trạch Đông rời Liên Xô, tỷ giá đồng rúp so với đồng đô-la tăng đột ngột. Stalin tính toán rằng Trung Quốc đang cần tới sự trợ giúp của Liên Xô vào thời điểm đó, nên có lẽ sẽ không quá cứng rắn về vấn đề tỷ giá.

Bàn cờ quỷ quyệt mà Stalin sắp đặt sẵn, cuối cùng lại bị Gromyko – một nhân vật chỉ có tư duy ngoại giao mà không có tư duy kinh tế, phá hỏng tan tành. Trần Vân hiểu rằng Trung Quốc có được lợi thế tỷ giá. Nếu hàm lượng vàng của nhân dân tệ được công bố, sẽ trở thành cái cớ để Liên Xô xác định lại tỷ giá hối đoái.

Nếu nhân dân tệ không quy định hàm lượng vàng, vậy thì giá trị tiền tệ phải dựa trên cơ sở nào? Trần Vân tin rằng cần sử dụng sức mua của tiền pháp định ở giai đoạn trước kháng chiến chống Nhật như một khung tham chiếu, đánh giá giá trị của tiền tệ từ quan sát thực tiễn xã hội. Khi tiền pháp định ra mắt năm 1936, vật giá trên cả nước về cơ bản ổn định, phản ứng thị trường khá tốt và giá trị tiền tệ ở mức vừa phải. Do đó, sức mua của 1 nhân dân tệ hiện tại phải tương đương với 1 đồng tiền pháp định năm đó. Dựa trên điều này, tỷ giá giữa nhân dân tệ mới và nhân dân tệ cũ phải là 1:10.000.

Đối với phương thức trao đổi nhân dân tệ cũ và mới, Trung Quốc áp dụng nguyên tắc chuyển đổi không phân biệt. Với tất cả những người đang nắm giữ đồng tiền này, bất kể là tiền gửi hay tiền mặt, đều áp dụng phương thức trao đổi thống nhất. Hiệu quả cuối cùng tương đương với việc giảm đi bốn số 0 trên tất cả các đơn vị tiền tệ, vật giá cũng như vậy. Việc này giống như thay thế chứ không phải cải cách tiền tệ. Không có thay đổi đáng kể về của cải của xã hội.

Việc phát hành nhân dân tệ mới diễn ra hết sức suôn sẻ. Trong vòng 10 ngày đầu tiên kể từ khi phát hành tiền mới, số tiền cũ được thu hồi chiếm tới 80% tổng số tiền tệ đang lưu hành trên thị trường. Đến ngay 10 tháng 6, đã thu hồi 98,06% tổng số tiền cũ đang lưu hành trên toàn quốc. Ngày 10 tháng 6 năm 1955, việc trao đổi nhân dân tệ mới và cũ về cơ bản đã hoàn tất, thị trường phản ứng tốt, vật giá ổn định và người dân tích cực hỗ trợ. Trung Quốc chỉ mất vỏn vẹn 100 ngày để thay thế đồng tiền cũ bằng loại tiền mới một cách thuận lợi, loại bỏ hoàn toàn những dấu tích của lạm phát trong thời kỳ Quốc dân Đảng. Kể từ đó, đồng nhân dân tệ bắt đầu một hành trình mới.

Ngoài lí do chủ quan là việc áp dụng các biện pháp hiệu quả, một nguyên nhân khác giúp cho nhân dân tệ có thể ổn định giá trị tiền tệ và kiềm chế siêu lạm phát là bởi nền kinh tế Trung Quốc đạt được bốn sự cân bằng lớn trong một thời gian ngắn: (1) cân bằng dự toán thu chi, cắt đứt gốc rễ của lạm phát; (2) cân bằng dòng tiền tệ, củng cố sự ổn định của giá trị tiền tệ; (3) cân bằng cung – cầu vật tư, triệt phá các thế lực đầu cơ; (4) cân bằng xuất – nhập khẩu ngoại hối, dập tắt sự khủng hoảng tiền tệ.

Chỉ khi có được một loại tiền tệ hoàn toàn độc lập thì mới có tư cách nói đến sự độc lập, tự chủ về kinh tế, chính trị và quân sự.

Sau Chiến tranh Nha phiến, các nước đế quốc kiểm soát Trung Quốc bằng các thủ đoạn tài chính thông qua giai cấp tư sản mại bản quan liêu của Trung Quốc. Mao Trạch Đông, Trần Vân và những người khác biết rõ hơn bất kỳ ai khác. Trong hơn 100 năm giai đoạn cận đại của Trung Quốc, các lực lượng tư bản nước ngoài, giai cấp tư sản mại bản, giai cấp địa chủ quan liêu đã hình thành một mạng lưới lợi ích khổng lồ, đan xen ràng buộc lẫn nhau. Bất kể thế lực quân phiệt hoặc chính phủ nào lên nắm quyền cũng không thể không dựa dẫm và cậy nhờ mạng lưới quan hệ này. Họ thông đồng với nhau, bao che cho nhau và cùng bóc lộc quần chúng nhân dân. Chỉ đến năm 1949, Trung Quốc mới triệt bỏ tận gốc rể mạng lưới ung nhọt khổng lồ này, thậm chí còn đào sâu chôn chặt chúng dưới ba tấc đất để trừ hậu họa về sau!

Đông nhân dân tệ từ chối liên kết với bất cứ ngoại tệ nào là để cắt đứt ngay từ gốc rễ sự xâm nhập và kiểm soát tài chính của các thế lực vốn nước ngoài đối với Trung Quốc. Mục đích là nhằm kiểm soát hoàn toàn biên giới tài chính của Trung Quốc. Đây là chiến lược tài chính tối cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc!

Trong những ngày đầu thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đối mặt với các lệnh trừng phạt từ các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu, Trung Quốc chỉ có thể nhờ cậy nguồn vốn và công nghệ của Liên Xô. “Theo thống kê của Liên Xô, nước này đã cho Trung Quốc vay 14 lần trong giai đoạn từ 1950 đến 1961, tổng số tiền vay là 1,818 tỷ rúp, bao gồm 200 triệu rúp cho phí quân sự cho Chiến tranh Triều Tiên, với lãi suất 2%. Trong cuộc chiến “kháng Mỹ viện Triều”, Liên Xô chưa từng tuyên bố rằng vũ khí quân dụng do Liên Xô cung cấp là các khoản vay chiến tranh, mà luôn nói đó là sự hỗ trợ của Liên Xô dành cho Trung Quốc để bảo vệ lợi ích của khối xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, phần vũ khí này sau đó được tính vào khoản nợ của Trung Quốc với lãi suất cao.”(64)

Chú thích:

(64) Han Yuhai, The Rise and Fall of 500 years in Ming and Qing Dynasties: Who has written history for 500 years, Jiuzhou Press, 2009.

Để thoát khỏi sự kiểm soát tài chính của Liên Xô, Trung Quốc bắt buộc phải trả hết các khoản vay càng sớm càng tố. Trong bối cảnh tiềm lực quốc gia vẫn chưa cường thịnh vào thời điểm đó, Trung Quốc cần thắt chặt hầu bao, thiết lập một hệ thống ngân sách quốc gia cực kỳ nghiêm ngặt, từ đó đảm bảo sự độc lập tự chủ của đồng nhân dân tệ. Năm 1965, Trung Quốc cuối cùng đã trả hết khoản vay của Liên Xô. Vào cuối năm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị tự hào tuyên bố: “Trung Quốc đã trở thành một quốc gia không có bất kỳ khoản nợ nước ngoài nào.”

Trích "Chương 8, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét