Phe Động Đình Sơn: thủ phạm thực sự đằng sau vụ ám sát Hồ Tuyết Nham
Tại Thượng
Hải, Hồ Tuyết Nham rất có uy tín, lại có chỗ dựa là Tổng đốc Lưỡng giang Tả
Tông Đường – viên đại thần chủ quản Thượng Hải. Bình thường ông cũng quảng giao
kết bạn trong giới kinh doanh, nếu không ông sẽ không thể thành lập một liên
minh kinh doanh tơ lụa mạnh mẽ với các Dương mại bản. Ai có thể tác động đến
quyết định của tất cả các hiệu buôn nước ngoài, đồng thời kiểm soát số phận của
tất cả các tiền trang, phiếu hiệu, điển đương phố ở Thượng Hải và khiến mọi người
nhất loạt từ chối tài trợ cho Hồ Tuyết Nham?
Đây là người
sáng lập nên đế chế mại bản tài chính hùng mạnh nhất trong lịch sử hiện đại
Trung Quốc: Tập Chính Phủ đến từ vùng Động Đình Đông Sơn, nhóm người này được gọi
là "phe Động Đình Sơn". Giống như "cách đánh" của các chủ
ngân hàng quốc tế, gia tộc họ Tập khá kín tiếng, ngoại trừ một vài nhân sĩ
trong giới sử học ra, còn thì hầu hết người dân Trung Quốc đều thấy cái tên này
rất đỗi xa lạ. "Đại đạo vô hình" chính là đặc điểm của họ!
Khi các hiệu
buôn nước ngoài lần đầu đặt chân đến Trung Quốc để kinh doanh, họ chưa thạo
ngôn ngữ và cũng hoàn toàn không biết về môi trường thương mại và quan hệ với
chính phủ nơi đây. Nếu muốn mở rộng kinh doanh, họ bắt buộc phải nhờ cậy tới
người Trung Quốc bản địa, và đó chính là những người được gọi với cái tên
"Dương mại bản". Các Dương mại bản thường "hợp tác" với các
hiệu buôn nước ngoài với tư cách là thương nhân độc lập. Họ sẽ phải chi một khoản
"tiền đảm bảo" rất cao cho người nước ngoài, để đảm bảo rằng khi công
việc buôn bán bị tổn thất thì sẽ dùng khoản tiền đó để bồi thường. Đồng thời,
các Dương mại bản cũng được hưởng một phần thu nhập từ công việc kinh doanh đó.
Vì lợi ích của riêng mình, họ luôn phải vắt kiệt tâm sức để khai thác nghiệp vụ
cho các hiệu buôn nước ngoài. Ngoài việc kết giao với quan chức để nắm bắt các
nguồn lực từ triều đình, họ cũng cần thiết lập các mối quan hệ trong giới kinh
doanh và vươn xúc tu tới tất cả các ngóc ngách của xã hội. Họ đã dệt nên một mạng
lưới đan xen tầng tầng lớp lớp các mối quan hệ và tiền bạc, thiết lập nên các
kênh xuyên suốt giữa phú quý và lợi ích. Vai trò chính thức của họ là thương
trường, hậu thuẫn của họ là người nước ngoài, và vũ đài của họ là quan trường.
Thông qua họ, nguồn vốn từ nước ngoài mới có thể thâm nhập vào các huyết mạch
kinh tế của Trung Quốc, hàng hóa nước ngoài đã chảy tới các thành thị của Trung
Quốc, tinh thần nước ngoài dần dần lật đổ ý thức của Trung Quốc, và lợi ích nước
ngoài đã ràng buộc giới tinh hoa quyền quý của Trung Quốc. Có thể nói, nếu
không có Dương mại bản, công việc kinh doanh của người nước ngoài sẽ gặp muôn
vàn khó khăn ở Trung Quốc, và họ cũng chẳng thể gây dựng được thế lực ở đất nước
này.
![]() |
| Tập Chính Phủ người sáng lập phe Động Đình Sơn |
Khi các lực
lượng tài chính và thương mại địa phương do Hồ Tuyết Nham dẫn đầu bắt đầu thách
thức các hiệu buôn nước ngoài, ông không chỉ đe dọa trực tiếp đến lợi ích
thương mại của các hiệu buôn nước ngoài, mà còn đe dọa đến lợi ích thiết thân của
giai cấp Dương mại bản.
Năm 1874, Tập
Chính Phủ trở thành một Dương mại bản của Ngân hàng Hội Phong. Sau khi trả khoản
tiền đảm bảo 20.000 lạng bạc, coi như ông đã mua được một tấm "vé tốc
hành" để kiểm soát thị trường tài chính của Thượng Hải. Tất nhiên, tài
năng của Tập Chính Phủ không làm Ngân hàng Hội Phong thất vọng. Ngay khi đến Ngân
hàng Hội Phong, ông đã kiếm về cho họ một hương vụ lớn: chính phủ nhà Thanh vay
Ngân hàng Hội Phong 20 triệu lạng bạc với thuế muối làm tài sản thế chấp, lãi
suất 8%/năm và trả nợ trong 10 năm. Vậy là Tập Chính Phủ đã nổ một phát súng đầu
tiên và ngày càng chìm đắm trong công việc này. Dưới tài điều hành của gia tộc
họ Tập, Ngân hàng Hội Phong đã lần lượt giành được các thương vụ cho vay đường
sắt ở các vùng Hỗ Ninh (Thượng Hải – Nam Kinh), Quảng Cửu (Quảng Châu – Cửu
Long), Hỗ Hàng Dũng (Thượng Hải – Hàng Châu – Ninh Ba), Tân Phố, Kinh Phong, Hồ
Quảng, Phổ Tín, và họ cũng đã nhận được những khoản hoa hồng khổng lồ.
Về khía cạnh
phát hành tiền giấy, họ cũng đạt được kết quả rất đáng chú ý. Khả năng lưu
thông tiền giấy của Ngân hàng Hội Phong có thể coi là lớn nhất trong số các hiệu
buôn nước ngoài. Phạm vi lưu thông của nó trải dài khắp các thành phố và thị trấn
thuộc lưu vực sông Trường Giang, Châu Giang, ở vùng Hoa Nam, tiền giấy của Ngân
hàng Hội Phong gần như đã thay thế địa vị của tiền tệ của chính phủ nhà Thanh.
Năm 1893, một nhà trí thức của phái Dương Vụ(8), là Trịnh Quang Ứng đã chỉ ra
trong cuốn sách Thịnh thế nguy ngôn của mình rằng: "Hiện nay loại
ngân phiếu (tiền giấy) của các thương nhân nước ngoài không hề được các quan lại
của triều đinh kiểm trả hư-thực, họ cứ thế tự tung tự tác, làm bất cứ điều gì mình
muốn. Nghe nói số lượng ngân phiếu thông dụng của Ngân hàng Hội Phong ở khu vực
Thượng Hải đã lên tới cả trăm vạn, và ngân hàng này đã trục lợi được hơn 200 vạn
ngân phiếu". Gia tộc nhà họ Tập đã đóng góp rất lớn trong việc giúp cho Ngân
hàng Hội Phong chiếm hữu tài sản thực thể Trung Quốc bằng phương thức bạch điều(9).
Chú
thích:
(8) Dương
Vụ vận động, tên cũ là Đông Quang Tân Chính. Trong quá trình phái phản động
liên kết với nhau để trấn áp cách mạng Thái Bình Thiên Quốc, trong tập đoàn
phong kiến triều Thanh, một số quân phiệt quan liêu đã hình thành, bắt đầu chủ
trương sử dụng một số kỹ thuật sản xuất tư bản chủ nghĩa để thực hiện mục đích
bảo vệ ách thống trị phong kiến đang lung lay. Những người này thuộc phái Dương
Vụ đang làm việc trong chính phủ đương thời. Từ những năm 60 đến những năm 90 của
thế kỷ XIX, họ đã thực hiện Dương Vụ cách tân, sử sách gọi là Dương Vụ vận động.
(9) Bạch
điều: Dạng dịch vụ cho vay để chi tiêu rồi trả tiền sau.
Về khía cạnh
thu hút tiền gửi tiết kiệm, gia tộc Tập cũng thể hiện được tài năng phi thường
của mình. Cánh quan lại của Trung Quốc thi nhau gửi tiền vào các tài khoản của Ngân
hàng Hội Phong vì chính phủ không có quyền tài phán ở đây. Họ sẵn sàng chấp nhận
một mức lãi suất rất thấp chỉ để có được một sự "đảm bảo an toàn".
Theo thống kê, trong số những khách hàng mở tài khoản dài hạn ở Ngân hàng Hội
Phong, có 5 người có tiền gửi có kỳ hạn hơn 20 triệu lạng bạc, 20 người gửi từ
15 triệu lạng bạc trở lên, 130 người gửi từ 10 triệu lạng bạc trở lên, còn các
cấp độ hàng triệu lạng bạc và hàng trăm ngàn lạng bạc thì rất khó thống kê. Số
tiền hoa hồng mà gia tộc Tập thu được càng chẳng thể đong đếm.
Nhờ sự mẫn
cán của Tập Chính Phủ, tổng lượng nghiệp vụ của Ngân hàng Hội Phong tại Thượng
Hải cao hơn nhiều so với trụ sở chính ở Hồng Kông. Bản thân người Anh cũng phải
thừa nhận rằng "Mặc dù trụ sở chính của Ngân hàng Hội Phong ở Hồng Kông,
nhưng xét ra chi nhánh Thượng Hải lại đảm nhận nhiều hoạt động kinh doanh
hơn". Khi xảy ra mâu thuẫn về quan điểm giữa Tập Chính Phủ và tầng lớp đại
ban(10), trụ sở chính thường sẽ coi ý kiến của Tập Chính Phủ là quyết định cuối
cùng.
Chú
thích:
(10) Đại
ban: danh xưng chỉ những người phụ trách công việc thông thường giữa các công
ty nước ngoài và Trung Quốc thời xưa.
Tập Chính
Phủ không chỉ "nhất ngôn cửu đỉnh" với Ngân hàng Hội Phong, mà còn
luôn giữ lời hứa với các tiền trang và phiếu hiệu ở Thượng Hải.
Vào thời điểm
đó, tiền trang và phiếu hiệu ở Thượng Hải rất khó phát triển kinh doanh vì nguồn
vốn của họ chỉ khoảng vài chục ngàn lạng bạc. Tập Chính Phủ đã khởi xướng triển
khai dịch vụ chiết phiếu, cung cấp mô hình cho vay tín dụng không cần tài sản
thế chấp cho các tiền trang và phiếu hiệu, giúp tăng cường đáng kể khả năng tài
chính của các tổ chức tài chính địa phương. Những chủ tiền trang giàu thực lực
đã phát hành các loại ngân phiếu dài hạn dựa trên khả năng tín dụng của chính họ,
trong vòng từ 5 đến 20 ngày, họ sẽ thực hiện huy động vốn ngắn hạn với Ngân
hàng Hội Phong hoặc các ngân hàng nước ngoài khác. Theo cách này, một tiền
trang chỉ với 70.000 – 80.000 lạng bạc có thể được thế chấp cho Ngân hàng Hội
Phong, qua đó vay về một lượng vốn để tiến hành cho vay thương mại và quy mô của
nó có thể lên tới 700.000 – 800.000 lạng bạc. Bởi vì Ngân hàng Hội Phong có một
lượng tiền gửi rất lớn và chi phí lãi suất thấp, nên trong quá trình cho các tiền
trang vay qua dịch vụ chiết phiếu, họ có thể thu được mức lợi tức rất cao, từ
đó thưởng thức bữa tiệc hậu hĩnh của mức chênh lệch lãi suất. Tờ Tự lâm tây
báo vào ngày 23 tháng 5 năm 1879 chỉ ra rằng việc các tiền trang ở Thượng Hải
"sử dụng vốn của ngân hàng nước ngoài để kinh doanh là một sự thực rõ như
ban ngày. Khoản vay trị giá gần 3 triệu lạng bạc thực sự là số tiền cần thiết để
duy trì trạng thái thị trường ở Thượng Hải." Khi mức tiền giảm xuống dưới
con số này, toàn bộ hoạt động kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng ngay lập tức.
Thông qua
nghiệp vụ chiết phiếu, Ngân hàng Hội Phong thực sự đã kiểm soát được nguồn vốn
của các tiền trang và phiếu hiệu ở Thượng Hải. Khi Ngân hàng này nới lỏng tay
thì nguồn tiền trên thị trường sẽ dồi dào, còn nếu ngược lại thì nguồn tiền
ngay lập tức trở nên căng thẳng. Lượng tiền tiết kiệm khổng lồ với mức lãi suất
thấp của Trung Quốc mà Ngân hàng Hội Phong nhận được đã giúp họ tăng cường đáng
kể khả năng kiểm soát hệ thống tài chính Trung Quốc, và trên thực tế họ đã trở
thành "Ngân hàng Anh của Trung Quốc".
Chính vì
Ngân hàng Hội Phong kiểm soát chặt chẽ nguồn tiền của hệ thống tài chính ở Thượng
Hải và toàn Trung Quốc, và Tập Chính Phủ sở hữu quyền ký kết cho vay của Ngân
hàng Hội Phong, vì vậy các tiền trang ở Thượng Hải phải tranh giành kịch liệt để
lôi kéo ông góp cổ phần hòng mưu toàn ràng buộc về lợi ích. Tập Chính Phủ có ảnh
hưởng tuyệt đối đến các tổ chức tài chính địa phương của Thượng Hải, bao gồm cả
Hồ Tuyết Nham. Năm 1878, Hồ Tuyết Nham đã vay được 3,5 triêu lạng bạc của Ngân
hàng Hội Phong cho Tả Tông Đường, đó là nhờ sự tác động của Tập Chính Phủ.
Tập Chính
Phủ không chỉ một mình độc chiếm các chức vị mại bản chủ chốt của Ngân hàng Hội
Phong suốt ba thế hệ, mà còn lợi dụng ảnh hưởng của mình để sắp xếp cho những
con em khác của gia tộc Tập vào hệ thống các ngân hàng nước ngoài. Bất luận là
hệ thống ngân hàng Anh như Ngân hàng Chartered, Ngân hàng Tak Fung; Ngân hàng
Crédit Agricole của Pháp, Ngân hàng Công thương Trung-Pháp; Ngân hàng
Deutsch-Asiatische của Đức; Ngân hàng Nga-Hoa Đạo Tháng của Nga; Ngân hàng
Hoa-Bỉ của Bỉ; Ngân hàng Citibank, Ngân hàng American Express, Ngân hàng Thương
Tín của Mỹ; Ngân hàng Yokohama, Ngân hàng Sumitomo của Nhật Bản… tất cả đều là
"thiên hạ của gia tộc Tập. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong suốt 75 năm từ
năm 1874 đến 1949, đã có hơn 20 ngân hàng nước ngoài được mở tại Thượng Hải và
gia tộc Tập đã độc chiếm quyền mại bản của 13 ngân hàng trong số đó.
Cùng với sự
bành trướng thế lực của Tập Chính Phủ, ngay cả Lý Hồng Chương và Tả Tông Đường
cũng phải tranh giành để nhận được sự phò giúp của ông ta. Cả hai đều đến diện
kiến Tập Chính Phủ mỗi dịp tới Thượng Hải. Xét cho cùng ông ta là một "đại
thần tài", thế nên bất luận là phe "Hải phòng" hay là phe
"Trại phòng", tất cả đều sẽ vô dụng nếu như không có tiền.
Cả hai đều
dốc hết tâm sức trong việc lôi kéo Tập Chính Phủ. Họ cũng đồng thời tiến cử Tập
Chính Phủ đảm nhiệm một chức quan trong chính phủ, nhưng Tập chẳng chút hứng
thú với việc này. Chỉ đến khi Lý Hồng Chương năm lần bảy lượt tiến cử, Tập
Chính Phủ mới miễn cưỡng lĩnh nhận hàm quan nhị phẩm. Điều này xem ra chẳng hề
ăn nhập với vẻ khiêm tốn mà ông ta luôn cố tỏ ra. Gần như sống đời ẩn cư, Tập
Chính Phủ không bao giờ tham gia vào các hoạt động kết nối mạng lưới kinh doanh
của phe Động Đình Đông Sơn, và tên của ông ta cũng hiếm khi xuất hiện trên các
mặt báo ở Thượng Hải. Ông ta luôn tuân theo niềm tin rằng sự thao túng phía sau
hậu trường mới có thể làm nên đại nghiệp.
Mối quan hệ
giữa Tập Chính Phủ và Thịnh Tuyên Hoài thậm chí còn mật thiết hơn. Khi Thịnh
Tuyên Hoài đánh bại Hồ Tuyết Nham để thành lập ngân hàng hiện đại đầu tiên của
Trung Quốc, Ngân hàng Thông thương Trung Quốc, Tập Chính Phủ là người ủng hộ chủ
chốt đứng sau ông ta. Hai người họ có mối quan hệ cực kỳ bền chặt trong kinh
doanh. Trong danh mục hối phiếu của Thịnh Tuyên Hoài luôn tồn tại một mục khiến
người ta chú ý là "Tài khoản ngân phiếu và bảng Anh của Ngân hàng Hội
Phong". Bất cứ yêu cầu nào mà Tập Chính Phủ đưa ra, Thịnh Tuyên Hoài sẽ
luôn đáp ứng đầy đủ, một số lượng lớn người thân và bạn bè của gia tộc Tập đã
được sắp xếp để phục vụ trong hệ thống của Thịnh Tuyên Hoài. Hai bên đã thực hiện
sự đan xen triệt để về mặt lợi ích.
Khi chính
quyền nhà Thanh chuẩn bị thành lập một ngân hàng trung ương do chính phủ và
doanh nghiệp cùng góp vốn – Ngân hàng Hộ Bộ, nhận thức được những lợi ích to lớn
của ngân hàng trung ương tư nhân, gia tộc Tập đã nhanh chân đến trước. Ngân
hàng Hộ Bộ đã phát hành tổng cộng 40.000 cổ phiếu, trong đó một nửa được bán
cho các đơn vị trung ương, và nửa còn lại bán cho khối tư nhân. Các con của Tập
Chính Phủ đã lần lượt góp vốn vào Ngân hàng Hộ Bộ. Trong số đó, chỉ riêng Tập Lập
Công – con trai trưởng của Tập Chính Phủ đã sở hữu 1.320 cổ phiếu bằng các danh
tính khác nhau.
Khi Ngân
hàng Hộ Bộ được đổi tên thành Ngân hàng Đại Thanh, gia tộc Tập đã sắp xếp để bốn
người con trai của ông ta vào đảm nhiệm các vị trí chủ chốt. Khi Ngân hàng Đại
Thanh đổi thành Ngân hàng Trung Quốc, gia tộc Tập trở thành cổ đông lớn của nó
và phụ trách toàn bộ nghiệp vụ ngoại hối, trở thành đồng minh với phe Tống Tử
Văn.
Khi Ngân
hàng Trung ương của chính phủ quốc dân được thành lập, gia tộc Tập lập tức trở
thành nhà đầu tư các loại cổ phiếu do chính phủ sở hữu và tham gia vào quá
trình ra quyết định của hội đồng quản trị. Đồng thời, gia tộc Tập cũng giữ các
vị trí chủ chốt của chính phủ quốc dân như Cục trưởng Cục Quản lý Ngoại hối,
Giám đốc Xưởng Đúc tiền Trung ương, v.v… Ông cũng thay mặt chính phủ Quốc dân
tham gia thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và trở thành đại diện của chính phủ
Quốc dân.
Có thể thấy,
mạng lưới quan hệ của gia tộc Tập thực sự rất lớn và liên quan đến hầu khắp các
lĩnh vực tài chính Trung Quốc. Tầm ảnh hưởng của họ đối với hệ thống ngân hàng
nước ngoài, hệ thống ngân hàng chính phủ, hệ thống tiền trang và phiếu hiệu ở
Thượng Hải và các cơ quan ban ngành về tài chính của chính phủ, có thể nói là
có một không hai trong suốt lịch sử gần trăm năm của Trung Quốc. Do gia tộc Tập
nắm trong tay một khối lượng khổng lồ nguồn lực tài chính của nước ngoài và
Trung Quốc, thế nên họ có sức ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc đến toàn bộ tiến trình lịch
sử hiện đại của Trung Quốc. Điều này sẽ được giới thiệu trong các chương tiếp
theo.
Nếu như Hồ
Tuyết Nham không thách thức lợi ích cốt lõi của tiệm buôn nước ngoài về vấn đề
tơ thô thì có lẽ mối quan hệ giữa Tập Chính Phủ và Hồ Tuyết Nham vẫn sẽ được
duy trì ổn thỏa. Tuy nhiên, các cổ đông của Ngân hàng Hội Phong lại chính là những
tiệm buôn nước ngoài lớn này. Với mục đích ban đầu của việc thành lập Ngân hàng
Hội Phong là sở hữu và chiếm lĩnh một "ngân hàng trung ương" cho các
tiệm buôn nước ngoài, Hồ Tuyết Nham đã đụng chạm đến lợi ích cốt lõi của các đại
cổ đông Ngân hàng Hội Phong, khiến các cổ đông kêu ca phàn nàn, Tập Chính Phủ
há lại tha cho ông ta?
Trên thực tế,
thủ phạm thực sự đứng đằng sau việc các tiệm buôn nước ngoài ép giá lụa thô và
lũng đoạn quyền định giá chính là sự thao túng của Ngân hàng Hội Phong và Tập
Chính Phủ với nguồn tiền của Thượng Hải và toàn Trung Quốc.
Theo bài viết
trên trang Thân báo đăng tải vào ngày 28 tháng 8 năm 1878, đến những năm
70 của thế kỷ XIX, số lượng chiết phiếu mà các ngân hàng nước ngoài cho các tiền
trang ở Thượng Hải vay đã lên tới khoản 3 triệu lạng bạc. Đến những năm 90 của
thế kỷ XIX, những khoản vay chiết phiếu khoảng 7-8 triệu lạng bạc đã là điều rất
đỗi bình thường. Điều này khiến cho sự luân chuyển dòng vốn của các tiền trang
ngày càng phụ thuộc vào ngân hàng nước ngoài. Và khi dòng tiền trên thị trường
vốn của Thượng Hải bị thắt chặt thì tác động của nó sẽ ngay lập tức lan rộng ra
cả nước.
Một điều kỳ
lạ nhưng chẳng đáng ngạc nhiên, đó là kể từ năm 1878, cứ mỗi khi lụa và trà thô
của Trung Quốc có mặt trên thị trường là y như rằng sẽ xảy ra "hiện tượng
lạ" là sự khan hiếm dòng vốn. Thủ phạm duy nhất có thể tạo ra sự thiếu hụt
nguồn cung tiền và có ý đồ rõ ràng chính là Ngân hàng Hội Phong. Cần khoản 3
triệu lạng bạc để duy trì sự lưu chuyển thương mại bình thường ở Thượng Hải, và
Ngân hàng Hội Phong thường tích cực thu về nguồn tiền mặt dưới 1 triệu lạng bạc
trong các dịp thu mua trà và lụa. Điều này dẫn đến việc các thương nhân trà, lụa
không thể huy động đủ tiền và những hộ nông dân trồng lụa và nông dân trồng chè
bất đắc dĩ phải bán vơi giá thấp. Nhờ đó, các cổ đông là những tiệm buôn nước
ngoài của Ngân hàng Hội Phong sẽ có thể thỏa sức mặc cả và thu được lợi nhuận
khổng lồ!
"Mọi
cuộc khủng hoảng tiền tệ đều bắt nguồn từ các ngân hàng nước ngoài, bào gồm cả Ngân
hàng Hội Phong, họ đã cố tình thu hẹp nguồn cung tiền tệ. Bắt đầu từ năm 1878,
nguồn cung tiền đã ở trong tình trạng căng thẳng, đến cuối năm, đã có khoảng
20-30 tiền trang ở Thượng Hải phải đóng cửa vì không thể kham nổi những khoản nợ
xấu. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do các ngân hàng nước ngoài đã thu hẹp
lại khoản vay lên tới 2 triệu lạng bạc – một con số khổng lồ. Cuộc khủng hoảng
tiền tệ năm 1879 xảy ra vào tháng 5 – thời điểm rất cần nguồn vốn để đưa trà, lụa
ra thị trường. Vào thời điểm này, trạng thái thị trường Thượng Hải – vốn cần
khoảng 3 triệu lạng bạc để duy trì dòng chảy – đã bị các ngân hàng nước ngoài
thu hẹp lại còn 900.000 lạng bạc, đây rõ ràng là một trạng thái khát vốn trầm
trọng. Con số này không thể đáp ứng nhu cầu thông thường của thương mại địa
phương. Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài đó đã không dừng lại ở đó, họ đã tiếp
tục thu hẹp dòng vốn xuống còn 600.000 lạng bạc để làm phức tạp thêm vấn đề."
Năm 1883, một
lần nữa lịch sử đã lặp lại.
Khi Hồ Tuyết
Nham và Jardine Matheson rơi vào trạng thái giằng co trong cuộc chiến tơ thô,
nguồn cung tiền của Thượng Hải bị thắt chặt từng ngày, và một lượng lớn các
thương nhân tơ lụa đã phải đóng cửa ngừng buôn, giá lụa tụt dốc không phanh. Đầu
tháng 9, giá các kiện lụa thô cao cấp vẫn duy trì ở mức 427 lạng bạc. Trong
tháng 10, nó đã giảm xuống còn 385 lạng bạc, đến đầu tháng 11, giá đã giảm xuống
còn 375 lạng bạc. Vào thời điểm này, các hiệu buồn nước ngoài ở Thượng Hải đã
hoàn toàn ngừng mua tơ mới và chuỗi vốn của Hồ Tuyết Nham đang trên bờ vực sụp
đổ.
Đến ngày 9
tháng 11, những lo ngại của dân chúng đối vối dòng vốn của Hồ Tuyết Nham cuối
cùng đã bùng nổ. Chi nhánh của tiền trang Phụ Khang tại Hàng Châu và Thượng Hải
rơi vào tình trạng đột biến rút tiền gửi(11). Khoản nợ 500.000 lạng bạc với Ngân
hàng Hội Phong cũng không thể gia hạn. Thật "tình cờ" làm sao, phía
Thượng Hải Đạo cũng không gửi tiền hiệp hướng(12) tới để trả nợ cho Hội Phong,
và Hồ Tuyết Nham đành phải dốc hết gia sản ở tiền trang Phụ Khang ra để trả nợ.
Và như thế, đế chế tài chính của ông cuối cùng đã sụp đổ vào ngày 1 tháng 12
năm 1883. Các chi nhánh của tiền trang Phụ Khang tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Trấn
Giang, Ninh Ba, Phúc Châu, Hồ Nam, Hồ Bắc và các địa điểm khác của Hồ Tuyết
Nham đều nhất loạt đóng cửa. Đế chế tài chính mà Hồ Tuyết Nham đã khổ công gây
dựng suốt nhiều thập kỷ đã sụp đổ tan tành. Cuối cùng, đại đa số lụa thô đã bị Jardine
Matheson thu mua với giá rẻ.
Chú
thích:
(11) Đột
biến tiền gửi: Hiện tượng những người gửi tiền vào một tổ chức tín dụng nào đó
đồng loạt đến rút tiền của mình, gây ra rối loạn tài chính cho tổ chức tín dụng
và đôi khi cho cả hệ thống ngân hàng.
(12) Chế
độ hiệp hướng là một phương thức quan trọng cho các khoản thu-chi quân sự của
nhà Thanh. Nó cũng là phương tiện chính mà chính quyền trung ương kiểm soát các
vấn đề quân sự, kinh tế và chính trị của từng địa phương.
Hồ Tuyết
Nham không thể chịu nổi hành vi ép giá của các hiệu buôn nước ngoài và kiên quyết
chống lại, nhưng phía sau cuộc chiến giành quyền định giá thực chất là một
tranh đoạt quyền lực tài chính. Tiếc là cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, Hồ
Tuyết Nham vẫn không thể hiểu điều đó. Trong tình cảnh mất đi điểm cao kiểm
soát tài chính là ngân hàng trung ương, chỉ đơn thuần dựa vào việc tích trữ tơ
thô để cố gắng tranh tài cao thấp với các hiệu buôn nước ngoài rõ ràng là uổng
công vô ích. Một khi dòng tiền trên thị trường bị co ép thì chuỗi vốn của ông
ngay lập tức đứng trước bờ vực sụp đổ. Cuộc phản công của lực lượng tài chính bản
địa Trung Quốc do Hồ Tuyết Nham lãnh đạo nhằm chống lại các chủ ngân hàng quốc
tế đã kết thúc trong thảm bại. Ông đã bị rơi vào thế "nội công ngoại
kích" của lực lượng vốn tài chính nước ngoài và lực lượng mại bản tài
chính trong nước, và thất bại của ông về mặt chiến lược là không thể vãn hồi.
Thất bại của
Hồ Tuyết Nham và chiến thắng của hiệu buôn nước ngoài đều bắt nguồn từ cùng một
nguyên nhân, đó là ai có thể kiểm soát dòng tiền thì người đó sẽ nắm được quyền
chủ động chiến lược trong cuộc chiến tranh thương mại đó. Cho dù là nhà Thanh,
hay là các tiền trang phương nam và phiếu hiệu Sơn Tây do Hồ Tuyết Nham làm đại
diện, tất cả đều chưa nhận thức được uy lực khổng lồ của ngân hàng trung ương.
Khi Ngân hàng Hội Phong chiếm lĩnh được vị trí này, số phận của toàn bộ đế chế
nhà Thanh đã hoàn toàn bị các chủ ngân hàng quốc tế kiểm soát. Nếu tài chính
không độc lập thì nền kinh tế sẽ chẳng thể độc lập, nếu nền kinh tế không độc lập
thì nền chính trị cũng chẳng thể độc lập. Việc chính quyền nhà Thanh đánh mất
biên giới tài chính là bước khởi đầu cho việc cả dân tộc Trung Quốc rơi vào
vòng xoáy thảm họa!
Địa vị ngân
hàng trung ương của chính phủ nhà Thanh đã bị sụp đổ như thế nào? Mấu chốt của
vấn đề là bạc – bản vị tiền tệ của Trung Quốc đã bị các chủ ngân hàng quốc tế
kiểm soát hoàn toàn. Một khi bản vị tiền tệ lung lay thì tài chính – hệ thống
tuần hoàn máu của cả quốc gia chắc chắn sẽ bị tê liệt. Sau đó các cơ quan quan
trọng của nền kinh tế sẽ lâm vào trạng thái suy kiệt, cuối cùng đành phải bó
tay chịu chết.
Để chính phục
Trung Quốc, các chủ ngân hàng quốc tế trước tiên phải chinh phục tiền tệ của
Trung Quốc. Nguyên nhân cốt lõi của cuộc Chiến tranh Nha phiến không phải là một
cuộc chiến thương mại, mà đó là một cuộc chiến bạc! Đây là lý do tại sao Chiến
tranh Nha phiếu không xảy ra ở Ấn Độ, châu Mỹ hay châu Phi, cũng không xảy ra ở
Nhật Bản, Hàn Quốc và Đồng Nam Á, mà chỉ ở Trung Quốc!
Mục tiêu tấn
công của việc buôn bán nha phiến chính là bản vị tiền tệ của Trung Quốc: Bạc!
Đọc tiếp:

Nhận xét
Đăng nhận xét