Sự sụp đổ của biên giới tài chính - phần 6

Công ty Đông Ấn: Một đế chế của các chủ ngân hàng

Tòa nhà công ty Đông Ấn, năm 1817. - Công ty Đông Ấn: Một đế chế của các chủ ngân hàng
Tòa nhà công ty Đông Ấn, năm 1817.

Thông thường, mọi người rất khó tưởng tượng rằng một công ty lại có thể tuyển mộ quân đội, nắm quyền đúc tiền, tư pháp hành chính, tuyên bố chiến tranh và ký kết hòa ước, vậy mà công ty Đông Ấn đã làm được những điều đó. Ai có thể sở hữu một nguồn lực khổng lồ để thành lập một công ty hùng mạnh đến vậy? Câu trả lời là các chủ ngân hàng quốc tế của thành phố London!

Bản thân công ty Đông Ấn – được thành lập bởi các chủ ngân hàng tại thành phố London và Hoàng gia Anh, đã là một đế chế. Theo ủy quyền của quốc hội Anh, công ty Đông Ấn đã nắm độc quyền tất cả các giao dịch từ Mũi Hảo Vọng đến eo biển Magellan. Đồng thời, họ có quyền tuyển dụng hải-lục quân, chiếm lĩnh đất đai, phát hành tiền tệ, đánh thuế, thực hiện các thử nghiệm lập pháp và tư pháp, tuyên chiến và ký kết hòa ước trong các khu vực chiếm đóng.

Kể từ khi Anh đánh bại Pháp để thống trị tiểu lục địa Ấn Độ trong cuộc chiến bảy năm giữa Anh và Pháp từ 1756 đến 1763, Anh đã thiết lập một bộ hoàn chỉnh các cơ chế cướp đoạt và trị lý ở Ấn Độ thuộc Anh (bao gồm Pakistan, Bangladesh và Myanmar ngày nay).

Trong khoảng thời gian 50 năm kể từ năm 1750, công ty Đông Ấn đã vắt kiệt tổng cộng 100 triệu đến 150 triệu bảng từ Ấn Độ, trong khi đó thu nhập tài chính của Anh năm 1750 chỉ là 9,2 triệu bảng. Con số đó vẫn chưa bao gồm những lợi ích thương mại quốc tế to lớn do việc nắm độc quyền thương mại Ấn Độ mang lại. Nguồn của cải đáng kinh ngạc đó chảy như thủy triều vào túi tiền của các chủ ngân hàng tại thành phố London và Hoàng gia Anh. Trong suốt thế kỷ XVIII và XIX, nhờ hành vi cướp bóc thực dân và tích lũy thương mại khổng lồ, Anh chưa bao giờ rơi vào tình trạng thiếu vốn. Và đây chính là điều kiện tiên quyết quan trọng để Anh tiến hành cuộc Cách mạng Công nghiệp vào thế kỷ XVIII.

Gia tộc Bahrain, là một trong 17 gia tộc ngân hàng quốc tế lớn nhất thế giới, họ đã xưng bá "giang hồ" tài chính của thế giới với tư cách là "quyền lực thứ sáu ở châu Âu". Năm 1779, người sáng lập triều đại Bahrain – Francis Bahrain, từng là Giám đốc công ty Đông Ấn cho đến khi qua đời vào năm 1810 và tại vị trong suốt 30 năm. Kể từ khi gia nhập công ty Đông Ấn, ông đã trở thành đại diện chính của các chủ ngân hàng thành phố London trong công ty Đông Ấn và được công nhận là cốt lõi và linh hồn của công ty. Ông đã làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị công ty Đông Ấn từ năm 1792 và nắm quyền điều hành đế chế thực dân rộng lớn của công ty này. Chính nhờ tài lãnh đạo của ông, việc buôn bán nha phiến của công ty Đông Ấn sang Trung Quốc đã phát triển một cách đáng kinh ngạc.

Từ năm 1790 đến năm 1838, số lượng nha phiến được nhập lậu vào Trung Quốc bởi công ty Đông Ấn đã tăng từ vài trăm thùng lên hàng chục nghìn thùng mỗi năm. Tổng số lượng nha phiến nhập khẩu vào Trung Quốc đạt hơn 400.000 thùng và giá trung bình của mỗi thùng là khoảng 750 đô-la, tổng giá trị ước đạt 230 triệu lạng bạc hoặc hơn!

Công ty Đông Ấn buôn bán nha phiến theo một hệ thống nghiêm ngặt: đầu tiên, họ xác lập thế độc quyền nha phiến ở thuộc địa Ấn Độ, thực hiện việc buôn bán nha phiến theo mô hình "bao tiêu" ở Ấn Độ và Bangladesh, và chỉ tiến hành mở cửa đấu giá nha phiến ở Kolkata. Họ ủy quyền cho các doanh nghiệp bán lẻ có mối quan hệ đại lý với công ty để thực hiện buôn bán nha phiến. Đồng thời, công ty đã thành lập một ủy ban quản lý thường trú tại Quảng Châu, với các thành viên được gọi là "đại ban" và tiến hành quản lý thống nhất tất cả các giao dịch với Trung Quốc. Có thể coi ủy ban quản lý này là một "ngân hàng trung ương" kiểm soát tất cả các giao dịch với Trung Quốc. Tất cả các hoạt động nghiệp vụ ngoại hối với Trung Quốc đều phải qua tay của họ.

Họ cũng tiến hành hỗ trợ tín dụng cho các thương nhân bán lẻ, đồng thời trong giai đoạn hậu kỳ cũng phát hành tín dụng cho "thập tam hàng(13)" ở Quảng Châu. Thu nhập thương mại bán lẻ từ Trung Quốc, bao gồm cả tiền thu được từ việc bán nha phiến, tất cả phải được gửi vào ngân khố dưới quyền quản lý của ủy ban. Ủy ban sẽ phát hành hối phiếu ở London, Ấn Độ và Bangladesh, các thương nhân bán lẻ có thể đến những nơi này để đổi thành bạc. Công ty sẽ sử dụng kho bạc tích trữ để mua vàng, trà, lụa và các mặt hàng khác ở Trung Quốc và bán chúng sang châu Âu để thu về lợi nhuận khổng lồ.

Chú thích:

(13) Thập tam hàng: chỉ 13 hiệu buôn nha phiến nước ngoài nằm trên khu phố dọc theo sông Châu Giang ở phía tây nam Quảng Châu.

Lợi nhuận khổng lồ của công ty Đông Ấn từ "dịch vụ tài chính" trong việc buôn bán nha phiến đủ để chi trả cho hầu hết chi phí hành chính của việc nhập khẩu chè và tơ thô của Anh từ Trung Quốc, bông sợi từ Mỹ và Ấn Độ, xuất khẩu hàng hóa sản xuất của Anh sang Ấn Độ và hầu hết thuộc địa khác. Trong suốt thế kỷ XIX, địa vị chiến lược của việc độc quyền nha phiến của Đế chế Anh trong thương mại quốc tế có thể sánh ngang với quyền bá chủ dầu mỏ của Mỹ ngày nay. Chiến lược cơ bản của công ty Đông Ấn là kiểm soát tất cả các khía cạnh của chuỗi buôn bán nha phiến và kiểm soát chặt chẽ các kênh sản xuất, bán hàng, kho bãi, vận chuyển và tiếp thị.

Trong số các hiệu bán lẻ dưới trướng của công ty Đông Ấn, có ba hiệu buôn đã hình thành xu hướng ly khai, đó là: Jardine Matheson, Bảo Thuận và Kỳ Xương.

Jardine Matheson được thành lập vào tháng 7 năm 1832 bởi Jardine và Madison, và gia tộc Bahrain đã cung cấp tài chính cho họ. Với sự hỗ trợ của gia tộc ngân hàng hùng mạnh nhất thủ phủ tài chính London, Jardine Matheson đã nhanh chóng trở thành "vua của các hiệu buôn nước ngoài" ở vùng Viễn Đông. Hồ Tuyết Nham đã thảm bại trong trận chiến tranh đoạt tơ thô với Jardine Matheson, nhưng có lẽ ông không biết về nguồn gốc của Jardine Matheson. Madison sau đó trở thành thống đốc Ngân hàng Anh và là chủ đất lớn thứ hai ở Anh. Người kế thừa của gia tộc Madison – Hugh Madison, đã dùng nguồn tiền từ việc buôn bán nha phiến của gia tộc để mua lại mỏ thiếc ở Tây Ban Nha vào năm 1873, và thành lập một công ty khai thác có tên là "Rio Tinto". Ngày nay, nó được gọi là Tập đoàn Rio Tinto.

Người đứng đầu hiệu buôn Bảo Thuận chính là Lancelot Dent – tay buôn nha phiến nổi tiếng, và đứng đằng sau anh ta chính là gia tộc Bahrain. Sau đó, do việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh doanh nha phiến khiến cho "danh dự" gia tộc ngân hàng số một ở thủ phủ tài chính London của Bahrain bị tổn hại, họ đã lùi về sau hậu trường. Từ đây, Lancelot Dent đã phụ trách toàn diện tất cả các nghiệp vụ buôn bán ở Trung Quốc, và trở thành nhà buôn nha phiến lớn thứ hai sau hiệu buôn Jardine Matheson tại Trung Quốc.

Hiệu buôn Kỳ Xương là một công ty Mỹ tham gia buôn bán nha phiến, trà và tơ thô giữa Quảng Châu là Boston. Đối tác cao cấp của nó, John Murray Forbes – "tằng ngoại tổ phụ" của John Forbes Kerry, ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 2004, đã từng là người đại diện tại Mỹ của anh em nhà Bahrain. Người chủ quản nghiệp vụ Warren Delano Jr. là ông nội của Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt. Người em họ của chủ hiệu buôn là William Huntington Russell đã thành lập nên nhóm "Skull and Bones" nổi tiếng tại Đại học Yale. Ngoài ra, một số gia tộc ngân hàng lớn ở Boston cũng tham gia buôn bán nha phiến thông qua hiệu buôn Kỳ Xương. Chính mức lợi nhuận ngất ngưỡng mà nha phiến mang lại đã nuôi dưỡng các gia tộc ngân hàng này, hình thành nên Tập đoàn Tài chính Boston và vương triều gia tộc Roosevelt.

Ba hiệu buôn lớn nhất này đã chiếm một nửa thương mại nha phiến của Trung Quốc. Tất cả đều liên quan mật thiết đến gia tộc Bahrain. Bahrain kiểm soát từ xa những "thương nhân bán lẻ khổng lồ" này ở thủ phủ tài chính London. Trong những thập kỷ trước và sau Chiến tranh Nha phiến, họ đã sử dụng nha phiến để liên tục tấn công bản vị tiền tệ bạc của nhà Thanh.

Thủ phủ tài chính London cũng đã thiết lập một hệ thống tiếp thị ngầm ít được biết đến nhưng cực kỳ hiệu quả ở Trung Quốc thông qua công ty Đông Ấn. Hệ thống này bao gồm bốn bộ phận cấu thành: nhà truyền giáo, Hội Tam Hoàng, thương nhân và quan chức nhà Thanh. Hệ thống này đã định hình nên tiến trình lịch sử của Trung Quốc cận đại.

Một mặt, các nhà truyền giáo ở Trung Quốc tiến hành tìm hiểu về xã hội, kinh tế, quân sự và các thông tin khác của Trung Quốc thông qua các hiệp hội truyền giáo, kết giao với giới quyền quý và các giáo phái khác, tập trung vào việc thành lập các trường học, bệnh viện và phương tiện truyền thông hiện đại trực thuộc giáo hội, những đơn vị này trở thành một lực lượng quan trọng trong việc hình thành tầng lớp tinh hoa thân phương Tây trong xã hội Trung Quốc.

Hội Tam Hoàng ban đầu là một xã đoàn tồn tại bí mật trong dân gian Trung Quốc với mục đích "phản Thanh phục Minh", sau đó rất nhiều thành viên của họ đã cải đạo sang Cơ Đốc giáo. Các hoạt động vũ trang chống lại nhà Thanh của Hội Tam Hoàng ở vùng lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) cũng cần đến sự hỗ trợ tài chính quy mô lớn, vì vậy nhiều thành viên đã lũ lượt tham gia vào mạng lưới buôn bán nha phiến của công ty Đông Ấn tại Trung Quốc thông qua các trung gian của giáo hội. Họ trở thành lực lượng buôn lậu nha phiến chủ lực dọc vùng duyên hải Quảng Đông. Hội Tam Hoàng với tôn chỉ chống lại triều đại nhà Thanh coi như đã gián tiếp nhận nguồn trợ cấp tài chính từ thủ phủ tài chính London. Sự phát triển sau này của Hội Tam Hoàng có mối liên quan chặt chẽ với việc kết giao và liên minh bí mật với hội Bái Thượng Đế của Hồng Tú Toàn, và phái Duy tân của bộ tử Khang (Hữu Vi) – Lương (Khởi Siêu) – Đàm (Tự Đồng) – Đương (Tài Thường). Phùng Vân Sơn – cánh tay phải đắc lực kiêm người phụ trách hình thái ý thức của Hồng Tú Toàn, năm xưa đã từng thờ phụng trước cổng của giáo hội Cơ Đốc. Dương Tú Thanh – nhân vật phụ trách đấu tranh quân sự, cũng từng hoạt động buôn lậu nha phiến ở lưu vực sông Châu Giang. Hội Tam Hoàng của vùng lưỡng Quảng đã trực tiếp tham gia vào cuộc khởi nghĩa Kim Điền.

Sau thất bại của phong trào Mậu Tuất biến pháp(14), Đàm-Tự đều lâm nạn. Đường Tài Thường – viên tướng tài dưới trường Đàm Hệ đã tập hợp thế lực của Hội Tam Hoàng ở vùng Hồ-Quảng để phát động một cuộc khởi nghĩa khác. Ban đầu, các cuộc nổi dậy chống lại nhà Thanh của liên minh này đều dựa trên lực lượng của Hội Tam Hoàng. Thanh Bang(15) ở Thượng Hải – một nhánh của Hội Tam Hoàng đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình khởi động cuộc đảo chính và củng cố quyền lực "Ngày 12 tháng 4(16)" của Tưởng Giới Thạch.

Chú thích:

(14) Mậu Tuất biến pháp, Mậu Tuất duy tân hoặc Duy Tân biến pháp, đều là tên dùng để chỉ cuộc biến pháp do phái Duy Tân đề xướng, được Quang Tự Đế cho thi hành kể từ ngày 11 tháng 6 năm 1898 ở Trung Quốc.

(15) Thanh Bang: một tổ chức tội phạm của Trung Quốc, nổi bật trong hoạt động tội phạm, xã hội và chính trị ở Thượng Hải từ đầu đến giữa thế kỷ XX.

(16) Ngày 12 tháng 4: vụ thảm sát Thượng Hải ngày 12 tháng 4 năm 1927, thường được biết đến ở Trung Quốc là Cuộc thanh trừng ngày 12 tháng 4, hay sự kiện "Ngày 12 tháng 4" là sự đàn áp dữ dội các tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải bởi lực lượng quân sự của Tưởng Giới Thạch và phe phái bảo thủ trong Quốc dân Đảng.

Các "Hàng thương", tức "thập tam hàng" ở Quảng Châu là một cơ cấu chuyên biệt được triều đình ủy quyền phụ trách về ngoại thương, được giao dịch trực tiếp với các công ty nước ngoài. Nó vừa là một công ty thương mại vừa kiêm nhiệm một số chức năng ngoại giao, đồng thời họ cũng có nghĩa vụ đứng ra đảm bảo cho các đối tác thương mại của mình ở nước ngoài. Sau Chiến tranh Nha phiến, thập tam hàng ở Quảng Châu đã chuyền sang mô hình mại bản cho các hiệu buôn nước ngoài, đặt nền móng cho giai cấp mại bản của Trung Quốc cận đại.

Công ty Đông Ấn cũng kiểm soát và thao túng một số quan chức nhà Thanh thông qua hối lộ và nha phiến, họ đã ra tay với giới thượng tầng của Trung Quốc để bảo vệ và phát triển buôn bán nha phiến. Thông qua mạng lưới buôn bán nha phiến phía bắc với trung tâm là Thiên Tân, công ty này đã thâm nhập được vào triều đình Bắc Kinh. Trước Chiến tranh Nha phiến, họ đã kiểm soát một số lượng lớn các quan chức cấp cao để tiện bề sử dụng. Những người này bao gồm đại học sĩ Liêu Chương A, Kỳ Thiện – Tổng đốc vùng Trực Lệ, Kỳ Anh – chủ sự của Tông Nhân phủ(17). Liên quan đến vấn đề này, Marx đã có một câu luận thuật hết sức đặc sắc: "Người Anh đã mua chuộc chính quyền, quan chức hải quan và cả những quan chức bình thường của Trung Quốc. Đây là kết quả mới nhất đến từ sự kháng cự về mặt pháp luật của người Trung Quốc đối với nha phiến. Nạn hối lộ và làn khói nha phiến đã cùng lúc xâm nhập vào lá phổi của các quan lại 'thiên triều', phá hủy trụ cột của chế độ tông pháp." Nhóm người này đã cấu thành nên nguồn gốc của phái Dương Vụ trong chính quyền nhà Thanh.

Chú thích:

(17) Tông Nhân phủ, còn gọi Tông Chính phủ hay Tôn Nhân phủ, là cơ quan quản lý nội bộ hoàng tộc thời quân chủ Trung Hoa.

Năm 1839, khi nhân vật "hùng tâm vạn trượng" là Lâm Tắc Từ đặt chân đến Quảng Đông với tư cách là khâm sai đại thần để ban hành lệnh nghiêm cấm hút nha phiến, ông đã phải đối mặt với một đế chế nha phiến được tổ chức chặt chẽ, có sức mạnh tài chính hùng hậu, vũ trang tối tân và trong ứng ngoại hợp. Ngay sau khi nhậm chức, Lâm Tắc Từ đã lập tức hạ lệnh trấn áp quyết liệt mạng lưới buôn lậu nha phiến dưới lòng đất của Hội Tam Hoàng, ra lệnh cho các hiệu buôn nước ngoài phải giao nộp nha phiến và thực hiện vụ "Hổ Môn tiêu nhan(18)" gây sốc trên thế giới. Nhưng Lâm Tắc Từ không thể tưởng tượng nổi đối thủ của mình mạnh đến mức nào. Ông đã thách thức chiến lược tài chính cốt lõi của toàn bộ Đế quốc Anh và sự sống-còn của các chủ ngân hàng quốc tế!

Chú thích:

(18) Việc tiêu hủy nha phiến tại Hổ Môn bắt đầu vào ngày 3 tháng 6 năm 1839 và liên quan đến việc tiêu hủy 1.000 tấn nha phiến được cho là bất hợp pháp thu giữ từ các thương nhân người Anh.

Tình trạng buôn bán nha phiến đã dẫn đến hiện tượng "chảy máu" dòng bạc quy mô lớn khỏi Trung Quốc, gây ra cuộc khủng hoảng tiền tệ "bạc đắt tiền rẻ" nghiêm trọng ở nước này. Trong suốt hơn 100 năm kể từ khi nhà Thanh thành lập đến đầu thế kỷ XIX, cơ chế tiền tệ kép – bạc-đồng – của Trung Quốc đã hoạt động rất tốt và tỷ giá về cơ bản ổn định ở mức 1 lạng bạc tương đương 1.000 đồng xu. Trước khi Chiến tranh Nha phiến bùng nổ, tỷ giá bạc-đồng đã tăng phi mã lên thành 1 lạng bạc đổi được 1.600 đồng xu. Nguồn tiền mà nông dân, thợ thủ công và người dân kiếm được đều là tiền xu, nhưng đến khi nộp các loại thuế khác nhau thì phải được chuyển đổi thành bạc. Vì lẽ đó mà gánh nặng kinh tế đã tăng lên rất nhiều. Do cuộc sống của người dân ngày một khốn cùng nên tất nhiên việc nộp thuế sẽ bị trì hoãn. Kết quả là tình trạng nợ thuế ở các tỉnh thành cũng ngày một tăng lên, dẫn đến sự suy giảm mạnh về khả năng tài chính của chính quyền nhà Thanh. Năm 1781 trong thời Càn Long, trước khi việc buôn bán nha phiến quy mô lớn bắt đầu, ngân khố ước đạt 70 triệu lạng bạc, đến năm 1789 là khoảng 60 triệu lạng bạc. Nhưng cùng với sự lan tràn của nha phiến, đến năm 1850 quốc khố chỉ có hơn 8 triệu lạng bạc, không đủ để ứng phó với một cuộc chiến tranh.

Chính nha phiến đã phá hủy bản bị tiền tệ bạc – nền móng biên giới tài chính của Đế chế Đại Thanh, hệ quả kéo theo đó là thâm hụt thương mại lớn, thu nhập giảm, cuộc sống người dân khốn khó, sự phân cực nghiêm trọng giữa người giàu và người nghèo, xung đột xã hội ngày càng gay gắt. Trong khi đó, các chủ ngân hàng quốc tế thì nắm giữ số lượng bạc khổng lồ thông qua nha phiến, họ đã thành lập "Ngân hàng Anh tại Trung Quốc", chiếm đoạt được điểm cao của biên giới tài chính Đế chế Đại Thanh: Ngân hàng trung ương.

Việc thành lập Ngân hàng Hội Phong đã đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên thuộc địa tài chính trong lịch sử Trung Quốc hiện đại. Trong quá trình Ngân hàng Hội Phong chiếm lĩnh vị thế nòng cốt từ ngân hàng trung ương của Đế chế Đại Thanh, một đế chế mới mang tên Sassoon đã âm thầm trỗi dậy. Sau này, nó đã thay thế công ty Đông Ấn và trở thành kẻ thao túng của chiến lược tài chính nha phiến.

Trích "Chương 1, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Nhận xét