Sự sụp đổ của biên giới tài chính - phần 3

"Săn" Hồ Tuyết Nham

Hồ Tuyết Nham - Tuyệt đỉnh thương nhân - "Săn" Hồ Tuyết Nham
Hồ Tuyết Nham - Tuyệt đỉnh thương nhân

Đầu tháng 11 năm 1883, Hồ Tuyết Nham trải qua giai đoạn dằn vặt, trăn trở nhất trong cuộc đời. Đế chế tài chính mà ông đã dày công vun đắp suốt cả cuộc đời sắp đến hồi sụp đổ. Đây là một "siêu huyền thoại" được tạo dựng bởi 20 triệu lạng bạc. Nếu ước tính bằng sức mua lương thực, một lạng bạc tương đương với khoảng 200 nhân dân tệ hiện nay. Nói cách khác, đế chế tài chính của Hồ Tuyết Nham vào thời điểm đó có tổng lượng tài sản đạt 4 tỷ nhân dân tệ. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Hồ Tuyết Nham đang phải đối mặt với một cơn bão "hoàn hảo" chết người.

Đầu tháng 11 cùng năm, ông có khoản nợ trị giá 500.000 lạng bạc phải trả cho Ngân hàng Hội Phong, điều này khiến ông cực kỳ lo lắng. Trong hoàn cảnh bình thường, với quy mô tài sản của Hồ Tuyết Nham, chắc chắn ông sẽ không bị làm khó chỉ bởi 500.000 lạng bạc. Tuy nhiên thật không may, các đối thủ của ông đã giăng sẵn "thiên la địa võng". Tại thời điểm này, Hồ Tuyết Nham không thể thoát khỏi số phận bị săn đuổi. Ông có một dự cảm chẳng lành: "Tình trạng thị trường quá tệ, người nước ngoài quá lợi hại, tôi không biết làm thế nào để lật ngược tình thế."

Kẻ thù trực tiếp của Hồ Tuyết Nham chính là tập đoàn Jardine Matheson của Anh quốc, lúc này hai bên đang trong giai đoạn kịch chiến để giành quyền bá chủ việc buôn bán tơ thô.

Trong suốt những năm 1870, Jardine Matheson kiểm soát chặt chẽ quyền định giá xuất khẩu tơ thô của Trung Quốc. Dưới sự thao túng của Jardine Matheson, giá tơ thô ngày một sụt giảm, và còn một nửa chỉ sau 10 năm. Các hộ sản xuất tơ ở vùng Giang-Chiết vô cùng khổ sở, cánh thương nhân địa phương cũng than trời vì việc kinh doanh ảm đạm, trong khi lợi nhuận béo bở đều bị Jardine Matheson nuốt trọn.

Sau khi bắt đầu tham gia vào việc kinh doanh tơ thô, Hồ Tuyết Nham đã thực sự cảm nhận được những áp lực đè nén từ phía Jardine Matheson. Tận mắt chứng kiến cảnh các hộ sản xuất tơ đang dần bị Jardine Matheson "châm xương hút tủy" và rơi vào tình cảnh phá sản, ông thầm hạ quyết tâm phải giành lại quyền định giá trên thị trường buôn bán tơ thô và buộc Jardine Matheson phải thỏa hiệp về giá cả. Ông bắt đầu tìm kiếm những hạn chế trong hệ thống kiểm soát giá cả của các hiệu buôn nước ngoài. Tập đoàn Jardine Matheson kiểm soát khả năng huy động tài chính thương mại về tơ thô, trao đổi quốc tế, kênh xuất khẩu và bảo hiểm vận chuyển, lại còn được hỗ trợ bởi pháo hạm của Đế quốc Anh. Tuy nhiên, Hồ Tuyết Nham vẫn cực kỳ nhạy bén khi nắm bắt được tử huyệt của tập đoàn Jardine Matheson – họ rất khó kiểm soát được nguồn sản xuất tơ thô.

Hồ Tuyết Nham quyết tâm chiếm lĩnh cao điểm chiến lược mang tên nguồn tơ thô, qua đó đập vụng quyền định giá của Jardine Matheson.

Cuối cùng, cơ hội đã đến vào năm 1882. Dịp đầu xuân, Hồ Tuyết Nham đã tự đi đến các vùng sản xuất tơ thô để tiến hành điều tra kỹ lưỡng. Đồng thời, trong quá trình trò chuyện với các thương nhân tơ thô của địa phương, ông biết được rằng sản lượng tơ thô trong năm đó sẽ giảm sút và nguồn cung sẽ thiếu nghiêm trọng. Ông ngay lập tức nắm bắt cơ hội hiếm có này và bắt đầu âm thầm hành động, thu mua tằm kén trên quy mô lớn ở khắp các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang và Tứ Xuyên, rải tiền khắp nơi để kiểm soát nguồn cung.

Quả nhiên, vụ thu hoạch tơ thô trên thị trường vào tháng 5 năm đó ước tính đạt khoảng 80.000 kiện, nhưng "đến tháng 8, tình hình ngày càng hiện rõ khi sản lượng chỉ đạt 60.000 kiện".

Hồ Tuyết Nham – lúc này đã hoàn thành việc kiểm soát nguồn cung cấp tơ thô, ngay lập tức triển khai một cuộc tổng tấn công. Ông đã huy động đến từng cắc bạc trong đế chế tài chính khổng lồ của mình, và dốc hàng chục triệu lạng bạc vào trận quyết chiến chưa từng có trong lịch sử thương mại Trung Quốc này. Đến mùa hè năm 1882, ông đã tích trữ gần 20.000 kiện tơ thô, chiếm hơn 1/3 tổng nguồn cung. Để kiểm soát triệt để giá cả, ông đã thúc giục các đối tác trong ngành tơ lụa thành lập một liên minh giá tơ thô, kiên trì bán với giá cao và cố gắng giành quyền định giá tơ thô.

Quả nhiên "tuyệt chiêu" này đã phát huy hiệu quả. Jardine Matheson đột nhiên thấy rằng nếu không chịu bỏ ra mức giá cao hơn thì sẽ rất khó để mua được tơ thô. Họ đã cố gắng để đè bẹp từng đối thủ một, nhưng vòng vây của Hồ Tuyết Nham thực sự quá đỗi kiên cố, những hộ buôn tơ có chút quy mô đều được thống báo rằng phải tuân thủ triệt để báo giá chung mà các hộ đã đặt ra. "Tơ thô cao cấp có giá chỉ 16 shilling và 6 pence mỗi gói ở London, nhưng do Hồ Tuyết Nham đã thu mua và thao túng nên giá tơ ở Thượng Hải lên tới 17 shilling và 4 pence". Logic của đại đa số các hiệu buôn nước ngoài là: Họ áp đặt giá lụa thô một cách có tổ chức thì không bị coi là thao túng, nhưng sự phản kháng có tổ chức của Trung Quốc thì lại bị coi là thao túng. Logic như vậy vẫn còn rất phổ biến đến tận ngày nay. Việc Mỹ in tiền đô-la với số lượng điên rồ không được tính là thao túng tỷ giá hối đoái, trong khi các biện pháp đối phó của Trung Quốc lại bị đánh giá là thao túng.

Rơi vào tình cảnh bất đắc dĩ, Jardine Matheson lúc này đành phải mời Ty Thuế vụ Hải quan Đại Thanh – Robert Hart của Anh đứng ra làm trung gian. Đúng vậy, bạn không đọc nhầm đâu, một người Anh đang làm quan lớn trong lĩnh vực hải quan của Trung Quốc. Đây không phải là một chính sách đặc biệt của chính quyền nhà Thanh để thu hút nhân tài nước ngoài, mà là sau khi đánh bại nhà Thanh, người Anh đã buộc triều đình nhà Thanh phải cắt đất để bồi thường chiến phí. Để nhằm đảm bảo nhà Thanh sẽ thành toán đúng hạn, họ đã trực tiếp bổ nhiệm một người Anh đến để nắm quyền kiểm soát hải quan Trung Quốc. Tất cả thu nhập thuế quan đều sẽ bị người Anh nẫng trọn để bồi thường chiến phí.

Mới 28 tuổi nhưng Hart đã trở thành người phụ trách toàn bộ ngành hải quan của Đại Thanh, là một "thanh niên đắc chí" điển hình, anh ta vẫn còn rất non tay so với Hồ Tuyết Nham. Sử dụng mồi nhử bằng cách mời Hồ Tuyết Nham góp vốn để cùng thành lập một nhà máy tơ lụa, và sẵn sàng trả thêm "tiền hoa hồng ngoài giá thị trường", anh ta đã cố gắng thuyết phục Hồ Tuyết Nham nhượng bộ. Sau đó không lâu, các thương nhân Nhật Bản cũng đến ngỏ lời thu mua, và mức giá họ đề xuất là: Dựa trên giá thị trường tại thời điểm đó cộng với 8 triệu lạng bạc. Sau quá trình đàm phán, họ đã đồng ý tăng thành 10 triệu lạng bạc. Chỉ cần Hồ Tuyết Nham gật đầu, lợi nhuận gộp tương đường với 2 tỷ nhân dân tệ (hiện nay) sẽ ngay lập tức đến tay. Tình thế lúc này là thực sự tuyệt vời, tuy nhiên, Hồ Tuyết Nham lại từ chối, ông chờ đợi một mức giá cao hơn.

Đúng vào thời điểm này, "sản lượng tơ của châu Âu đã chứng kiến một vụ mùa bội thu, thị trường London và lục địa châu Âu không còn bị ảnh hưởng bởi sản lượng thu hoạch kém của Trung Quốc nữa", Jardine Matheson quyết định chuyển sang mua tơ thô châu Âu. Đến thời điểm cuối năm 1883, giá tơ lụa đã giảm mạnh, một nửa số thương nhân tơ lụa phải xin hoãn kết toán, và một số hãng tơ lụa lớn đã phá sản. Hồ Tuyết Nham cố gắng mời các thương nhân cùng chung tay thu mua tơ lụa thêm một lần nữa trong năm tới để buộc Jardine Matheson phải nhượng bộ, nhưng chẳng ai hào hứng.

Tình trạng giao dịch tơ thô tại thị trường Thượng Hải hết sức ảm đạm, người mua và người bán giằng co nhau suốt ba tháng trời. Tại thời điểm này, hai bên chủ yếu đọ sức về thực lực dòng tiền.

Jardine Matheson không phải là một hiệu buôn nước ngoài bình thường. Ông chủ lớn đứng đằng sau nó là ngân hàng Bahrain của Anh, đây là ngân hàng khởi nghiệp sớm nhất và quyền lực nhất trong số 17 gia tộc ngân hàng quốc tế lớn nhất thế giới. Vào thế kỷ XIX, gia tộc Bahrain được gọi là "cường quyền thứ sau của châu Âu". Họ "phát tích" sớm hơn gia tộc Rothschild và là một ông lớn không thể tranh cãi trong lĩnh vực tài chính quốc tế. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ đó, tập đoàn Jardine Matheson luôn bất khả chiến bại trong cuộc đối đầu với Hồ Tuyết Nham.

Thịnh Tuyên Hoài - "Săn" Hồ Tuyết Nham
Thịnh Tuyên Hoài

Tình hình của Hồ Tuyết Nham bắt đầu xấu đi. Việc duy trì kiểm soát luôn đòi hỏi mức phí rất cao để bù đắp lợi ích cho các nhà buôn tơ chấp nhận gia nhập liên minh, mua tơ thô với mức giá cao, nâng cao tỉ lệ tiền gửi, chi phí kho đắt đỏ, chi phí huy động tài chính, vận chuyển, bảo hiểm và lao động… tất cả những thứ đó đều phải trả tiền. Sự chiếm dụng nguồn vốn khổng lồ đó khiến cho dòng tiền của Hồ Tuyết Nham rơi vào tình thế suy giảm hết sức nguy hiểm.

Thịnh Tuyên Hoài – vị tướng tài thuộc phe Bắc Dương đã để mắt đến điều này và bắt đầu ra tay hành động, ông ta âm mưu "triệt bỏ" Hồ Tuyết Nham. Trên thực tế, Hồ Tuyết Nham và Thịnh Tuyên Hoài không có quá nhiều mối tư thù cá nhân, chỉ là họ đang "ăn cây nào rào cây ấy" mà thôi. Hậu trường của Hồ Tuyết Nham khi đó là Tổng đốc Lưỡng giang – Tả Tông Đường. Trong quá trình bình định cuộc nổi loạn Tân Cương, Hồ Tuyết Nham phụ trách vấn đề hậu cần, ông đã sử dụng mạng lưới tín dụng và tài chính của mình là tiền trang Phụ Khang làm tài sản thế chấp để tiến hành vay nợ Jardine Matheson và các ngân hàng đầu tư nước ngoài. Trong 14 năm, họ đã huy động được 16 triệu lạng bạc cho các hoạt động quân sự của Tả Tông Đường, góp công lao cực lớn giúp Tả Tông Đường có được chiến tích lịch sử là thu phục Tân Cương. Khoảng nợ trị giá 500.000 lạng bạc với Ngân hàng Hội Phong đã khiến Hồ Tuyết Nham tuyệt vọng vào năm 1883 chính là khoảng bảo lãnh mà ông dùng để trả nợ cuộc chiến Tân Cương bằng chính khoản tín dụng của mình. Nếu tiền của triều đinh không được gửi tới đúng hạn, ông sẽ buộc phải tự móc hầu bao ra trả cho Ngân hàng Hội Phong.

Hậu thuẫn của Thịnh Tuyên Hoài đương nhiên là Lý Hồng Chương – đại thần Bắc Dương. Cả thiên hạ đều biết mâu thuẫn giữa Lý Hồng Chương và Tả Tông Đường. Trong những năm 1860 và 1870, Trung Quốc đã trải qua một cuộc khủng hoảng biên giới nghiêm trọng. Ở phía tây bắc Trung Quốc, A Cổ Bách của Trung Á đã lợi dụng mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo ở vùng tây bắc Trung Quốc vào thời điểm đó để xâm chiếm Tân Cương với sự hỗ trợ của các cường quốc Anh và Nga, và thành lập cái gọi là "Hãn quốc Kokand". Chẳng mấy chốc, quân đội Nga đã chiếm lĩnh Ily – một trong trấn phòng thủ biên giới, và bố cục biên giới ở vùng Tây Bắc rơi vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Cũng trong lúc đó ở hướng đông nam, Nhật Bản đã tiến hành một loạt những vụ xâm lược nghiêm trọng đối với Đài Loan, chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản chực chờ bùng nổ. Sau cuộc chiến kéo dài 14 năm với "Thái Bình Thiên Quốc", ngân khố của triều đại nhà Thanh đã hoàn toàn trống rỗng, và tài chính quốc gia không thể cho phép tiến hành cùng lúc giành phần thắng trong hai cuộc chiến tranh. Tuy nhiên "phe Hải phòng"(5) đại diện bởi Lý Hồng Chương chủ trương tăng cường cho hải quân là ưu tiên hàng đầu, không ngần ngại từ bỏ Tân Cương. Còn Tả Tông Đường thì kiên trì với quan điểm không thể bỏ mặc "Trại phòng"(6), cần phải dứt khoát tiến hành chinh phạt bằng vũ lực đối với phản loạn Tân Cương. Trọng tâm của mâu thuẫn giữa hai bên là vấn đề "huy động chiến phí". Nếu triều đình quyết định ưu tiên "Hải phòng" thì một lượng tiền khổng lồ sẽ chảy vào phạm vi thế lực của phe Bắc Dương. Đây là một cuộc đọ sức cân não liên quan đến lợi ích quốc gia và lợi ích cá nhân.

Chú thích:

(5) Hải phòng: phòng thủ bờ biển, thiên về phát triển hải quân.

(6) Trại phòng: phòng thủ trên bộ, thiên về phát triển bộ binh.

Cuối cùng, Tả Tông Đường đã thành công trong việc giành lại toàn bộ lãnh thổ Tân Cương, danh tiếng và địa vị của ông tạm thời áp đảo Lý Hồng Chương. Lúc này, cuộc chiến Trung-Pháp đang phủ mây đen lên triều đình nhà Thanh. Tả Tông Đường một lần nữa chủ chiến, còn Lý Hồng Chương cầm đầu phe chủ hòa. Lý Hồng Chương sợ rằng một lượng lớn tiền sẽ lại chảy vào tay phe chủ chiến, dẫn đến không đủ kinh phí cho phe Bắc Dương. Do đó, ông quyết định tiến hành một cuộc tấn công "đảo Tả". Trong chiến tranh thì quan trọng nhất là tiền bạc và lương thực. Nếu muốn khắc chế Tả Tông Đường, trước tiên phải diệt trừ Hồ Tuyết Nham – "túi đựng tiền" của Tả Tông Đường.

Thực không dễ để Thịnh Tuyên Hoài diệt trừ Hồ Tuyết Nham, và năng lực của ông ta cũng chỉ giới hạn trong việc cắt đứt thỏa thuận 500.000 lạng bạc mà Thượng Hải Đạo – vốn nằm dưới sự kiểm soát của phe Bắc Dương – phải trả cho Hồ Tuyết Nham, và khoản tiền đó chính là khoản nợ mà triều đình phải trả cho Ngân hàng Hội Phong. Vì Hồ Tuyết Nham đã sử dụng tín dụng của Tiền trang Phụ Khang để vay tiền của Ngân hàng Hội Phong cho triều đình, nên nếu triều đình trả chậm, ông buộc phải tự trả. Tuy nhiên, sau tất cả, Hồ Tuyết Nham thực sự có "máu mặt" trong giới tài chính. Ở trung tâm thị trường vốn Thượng Hải, cho dù ông đề xuất gia hạn khoản vay với Ngân hàng Hội Phong, hay vay chiết phiếu từ các hiệu buôn nước ngoài khác, hoặc vay chiết phiếu từ các tiền trang hoặc phiếu hiệu ở Thượng Hải, cùng lắm là đem hàng chục triệu gói lụa thô ra để vay thế chấp, đó là chưa kể ông cũng đang sở hữu một lượng lớn bất động sản khổng lồ gồm hàng chục ngàn mẫu đất và trang viên, cùng với đó hơn 20 cửa hàng Điểm đương phố (chú thích: Điểm đương phố một dạng cửa hàng cẩm đồ - ND), chuỗi tiệm Phiếu hiệu, những tiệm bốc thuốc Hồ Khánh Dư Đường và các tài sản kinh doanh khổng lồ khác, thu nhập 500.000 lạng bạc không phải là một việc quá đỗi khó khăn.

Vì lẽ đó, Thịnh Tuyên Hoài không chỉ cần cắt đứt các nguồn tiền chính thức của Hồ Tuyết Nham, mà còn phải cắt đứt tất cả các kênh tài chính cho Hồ Tuyết Nham trên thị trường vốn. Đây không phải là điều mà Thịnh Tuyên Hoài có thể làm được. Ông ta phải móc nối với những tên tuổi lớn thực sự trên thị trường tài chính của Thượng Hải để đâm nhát dao chết người này vào sau lưng Hồ Tuyết Nham.

Trích "Chương 1, Chiến tranh tiền tệ - phần 3 - Biên giới tiền tệ - Nhân tố bí ẩn trong các cuộc chiến kinh tế, Song Hong Bing"

Đọc tiếp:

Nhận xét